Tiểu luận những vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nước đảm bảo yêu cầu phát triển thương mại bền vững ở nước ta hiện nay - Pdf 35

MỞ ĐẦU
Quản lý Nhà nước trong nền kinh tế thị trường đối với mọi Nhà nước
bất kể Nhà nước đó thuộc chế độ chính trị nào cũng đều rất cần thiết. Nhà
nước ta quản lý tất cả các hoạt động thương mại bằng pháp luật. Do
đó quản lý Nhà nước về thương mại trong nền kinh tế thị trường có vai trò r
ấ quan trọng. Nước ta đang thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường và mở cửa giao lưu, hợp tác với
các nướic bên ngoài. Để thực hiện được điều này thì quản lý của Nhà nước
góp phần đảm bảo thắng lợi của định hướng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực
kinh tế, giữu vững độc lập chủ quyền quốc gia. Nhà nước dùng sức mạnh
của mình để phát triển nền kinh tế và phát triển thị trường theo
chương trình mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội thông qua các biệ
n pháp kinh tế và công cụ điều tiết giá, các chính sách tài chính, tín dụng
Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường vừa tuân thủ những quy luật
chung của nền kinh tế thị trường, vừa tuân thủ các quy luật của chủ nghĩa
xã hội trong thời kỳ quá độ. Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường theo
định hướng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế bằng pháp luật, tạo ra
các công cụ để đều tiết thị trường ở tầm vĩ mô, băng cơ chế chinh sách và
sức mạnh của kinh tế nhà nước

1


CHƯƠNG 1: NỘI DUNG CỦA QLNN ĐỐI VỚI LĨNH VỰC
THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm và sự cần thiết khách quan về QLNN đối với lĩnh vực
thương mại.
1.1.1 Khái niệm
- Quản lý nhà nước về thương mại: là một bộ phận hợp thành của
quản lý nhà nước về kinh tế, đó là sự tác động có hướng đích, có hệ thống
của cơ quản lý trên tầm vĩ mô về thương mại các cấp đến hệ thống bị quản

- Quản lý hệ thống thương nhân và các giao dịch thương mại
+ Quy định các thủ tục đăng ký, điều kiện kinh doanh và phạm vi hoạt động
của thương nhân
+ Đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của các thương nhân thuộc mọi
thành phần kinh tế trong hoạt động thương mại
+ Nhà nước đầu tư về tài chính, cơ sở vật chất-kỹ thuật, nhân lực để phát
triển các doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh những mặt hàng và dịch vụ thiết
yếu nhằm đảm bảo giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động thương mại.
+ Định hướng, tạo khuôn khổ và hành lang cho các hoạt động thương mại
của các thương nhân.
- Quản lý cơ sở hạ tầng và mạng lưới thương mại:
+ Nhà nước phải trực tiếp lập quy hoạch và kế hoạch, đầu tư và khuyến
khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ
cho phát triển thương mại.
- Quản lý chấp hành chế độ quy hoạch và pháp luật trong thương mại:
+ Kiểm tra đăng ký kinh doanh
+ Kiểm tra việc chấp hành các chế độ quy định và pháp luật về thương
mại trong các lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại
quyền sở hữu trí tuệ.
+ Phát hiện và ngăn chặn, xử lý theo thẩm quyền, kiến nghị cơ quan nhà
nước có thẩm quyền xử lý vi phạm chế độ quy địn và pháp luật về thương mại.
- Các nội dung quản lý khác:
+ Hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm
+ Tổ chức và quản lý công tác nghiên cứu khoa học thương mại
+ Đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ hoạt động thương mại
+ Ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế về thương mại
1.2.2 Cơ quan QLNN về thương mại
- Chính phủ thống nhất QLNN về TM.
3


- Tăng trưởng kinh tế phải là tăng trưởng có hiệu quả cao, không chấp
nhận tăng trưởng bằng mọi giá.
Thứ hai, bền vững về xã hội. Tính bền vững về phát triển xã hội ở mỗi
quốc gia được đánh giá bằng các tiêu chí, như HDI, hệ số bình đẳng thu nhập,
các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa. Ngoài ra, bền
vững về xã hội là sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa; có sự bình đẳng giữa
các giai tầng trong xã hội, bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo
không cao quá và có xu hướng gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng
miền không lớn.
4


Thứ ba, bền vững về môi trường. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, phát triển nông nghiệp, du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn
mới,... đều tác động đến môi trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi
trường, điều kiện tự nhiên. Bền vững về môi trường là khi sử dụng các yếu tố
tự nhiên đó, chất lượng môi trường sống của con người phải được bảo đảm. Đó
là bảo đảm sự trong sạch về không khí, nước, đất, không gian địa lý, cảnh
quan. Chất lượng của các yếu tố trên luôn cần được coi trọng và thường xuyên
được đánh giá kiểm định theo những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế.
1.3.1.3 Vai trò của phát triển bền vững
Con người là trung tâm của phát triển bền vững. Phát triển bền vững
nhằm đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, xây
dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Phát triển kinh tế song hành với bảo đảm an ninh lương thực, năng
lượng để phát triển bền vững. Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả
tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và môi trường
lâu bền.
Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu tố
không thể tách rời của quá trình phát triển. Xây dựng hệ thống pháp luật đồng

riêng biệt, đặc thù như thị trường niềm Bắc, miền Trung và niểm Nam, các tỉnh
biên giới phía Bắc…. Về nguyên tắc cần phải quản lý nhà nước về thương mại
theo vùng, kết hợp với quản lý theo ngành. Tuy nhiên, không hình thành các
cấp quản lý mà cần có sự phân công và phối hợp quản lý giữa trung ương và
địa phương đối với vùng hay khu vực thị trường đó.
1.4.1.2. Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về thương mại theo ngành
Bộ Công Thương
Bộ Công Thương là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về công nghiệp và thương mại, bao gồm các ngành và lĩnh vực: cơ
khí, luyện kim, điện, năng lượng mới, năng lượng tái tạo, dầu khí, hóa chất, vật
liệu nổ công nghiệp,thương mại điện tử, dịch vụ thương mại, hội nhập kinh tế
quốc tế, quản lý cạnh tranh, áp dụng các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá,
chống trợ cấp, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; quản lý nhà nước các dịch vụ
công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
Đứng đầu Bộ trưởng, các Thứ trưởng theo sự ủy quyền, phân công thực
hiện những trách nhiệm cụ thể về các mặt công tác được giao như thương mại
và thị trường nội địa, xuất nhập khẩu và thị trường nước ngoài, hội nhập
thương mại khu vực và quốc tế, khoa học công nghệ và phát triển các nguồn
lực, thương mại điện tử, dịch vụ xúc tiến thương mại…..
Công Thương có 35 đơn vị, trong đó có 30 đơn vị là các tổ chức giúp
Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Ngoài ra, Bộ có 5 đơn vị sự
nghiệp gồm
Sở Công Thương

6


Sở Công Thương là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh,
có chức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về công thương

của Đảng và nhà nước
- Quy hoạch phát triển thương mại: Là sự cụ thể hóa chiến lược với những
7


dự tính cần thiết cho sự phát triển của lãnh thổ vùng hoặc địa phương. Mục
đích của quy hoạch là tìm ra phương án, giải pháp khai thác các lợi thế so sánh,
các nguồn lực và sử dụng chúng theo lãnh thổ hướng tới sự phát triển có hiệu
quả và bền vững trong một chỉnh thể kinh tế thống nhất.
1.4.2.2 Công cụ pháp luật: Công cụ pháp luật là công cụ thể hiện chuẩn
mực xử sự hành vi của các chủ thể tham gia hoạt động trong nền kinh tế
Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền, thực hiện sự quản lý của mình đối
với xã hội nói chung và nền kinh tế quốc dân nói riêng chủ yếu bằng pháp luật
và theo pháp luật. Xác lập khuôn khổ pháp lý đúng đắn cho các hoạt động
thương mại trong nền kinh tế thị trường được xem là điều kiện tiên quyết đảm
bảo thị trường và thương mại hoạt động có hiệu quả. Môi trường pháp lý có
ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của các chủ thể thương mại trên thị trường.
Công cụ pháp luật trong thương mại là tổng hợp các quy phạm pháp luật
do nhà nước ban hành để điều chỉnh những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá
trình lưu thông hàng hóa và cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm thực hiện
mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước.
1.4.3 Các chính sách kinh tế và thương mại
Công cụ thể hiện tư tưởng, quan điểm của Nhà nước trong việc điều
chỉnh các hoạt động của nền kinh tế được gọi là chính sách kinh tế. Đây là một
công cụ đắc lực trong quản lý nhà nước về thương mại. Nó có tác dụng to lớn
trong việc điều tiết các hoạt động thương mại đi theo phương hướng chung đã
đặt ra.
Chính sách tài khóa với các công cụ chủ yếu: chi tiêu của Chính phủ
(G) và thuế (T)
Thay đổi chi tiêu của chính phủ có tác động trực tiếp đến tổng cầu, qua

Can thiệp gián tiếp bằng các biện pháp quản lý vĩ mô ngoài công cụ giá
cả: Điều hòa cung cầu hàng hóa dịch vụ, tỷ giá hối đoái, chính sách thuế,
chính sách tiền tệ, chính sách bảo hộ sản xuất và tiêu dùng… để ổn định giá
cả thị trường, hướng sự vận động của giá cả thị trường theo định hướng
mục tiêu kinh tế - xã hội.
Can thiệp trực tiếp thông qua các hình thức sau: Định giá chuẩn hoặc
giá giới hạn đối với nhứng hàng hóa, dịch vụ quan trọng; đăng ký giá để hạn
chế lợi dụng độc quyền, đầu cơ gây rối loạn thị trường
Chính sách chống độc quyền và khuyến khích cạnh tranh
Mục đích để tạo ra môi trường cạnh tranh hơn trên thị trường. Nhà
nước có thể sử dụng các điều luật chống độc quyền nhằm ngăn cản sự sáp nhập
có nguy cơ làm giảm cạnh tranh, chia tách các công ty khổng lồ nhằm làm tăng
sự cạnh tranh, ngăn cấm các công ty thông đồng với nhau để khống chế thị
trường. Thứ hai, quy định hành vi của các tổ chức độc quyền, trong trường hợp
này, nhà nước phải quản lý giá cả của họ để bảo vệ lợi ích chính đáng của
người tiêu dùng, không để các công ty này bán với bất kỳ giá nào họ muốn.
Chính sách thương mại: Chính sách thương mại là một bộ phận của
chính sách kinh tế của nhà nước, nó có quan hệ chặt chẽ và phục vụ cho sự
phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
9


CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI QLNN
ĐẢM BẢO YÊU CẦU PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI BỀN
VỮNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1. Những vấn đề đặt ra đối với QLNN để đảm bảo yêu cầu phát
triển thương mại bền vững ở nước ta hiện nay.
2.1.1. Những vấn đề khách quan.
- Gia nhập các tổ chức thương mại trong khu vực và trên thế giới đem lại
những thuận lợi, nhưng cũng vô cùng nhiều thách thức

Không một ai có thể phủ nhận ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến đời
sống nhân dân, cao hơn nữa là ảnh hưởng đến các quyết định đưa ra chính sách
tài khóa và tiền tệ của các Chính phủ. Việt Nam không nằm ngoài vòng xoáy
ấy. Chính sách thắt chặt tiền tệ, cộng với việc thúc dẩy phát triển các ngành sản
xuất, dịch vụ trong nước đã sinh ra chiến dịch khuyến khích Người Việt Nam
dùng hàng Việt Nam. Các chính sách quản lý nhà nước về thương mại tại thời
điểm cả thế giới vẫn chưa thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế đã thực sự hiệu
quả hay chưa? Hay vẫn chỉ là những chính sách “trên trời”, không có tính thực
tiễn. Điều này chúng ta còn phải bàn rất nhiều.
2.1.2. Những vấn đề chủ quan
- Bộ máy Nhà nước hoạt động có thực sự hiệu quả?
Năm 2014 - 2020, chính sách cắt giảm biên chế bộ máy Nhà nước được
triển khai quyết liệt với con số khoảng 100,000 biên chế sẽ bị cắt giảm, lý do là
bộ máy quá cồng kềnh và làm việc không hiệu quả. Tại sao lại không hiệu
quả? Là do nguồn lực yếu kém, nạn mua bằng cấp, chức danh còn rất nhiều. Là
do các nhà hoạch định không đi sâu đi sát vào thị trường để mà đưa ra chính
sách, chỉ ngồi một chỗ mà nhận số liệu báo cáo từ dưới đưa lên, không cần biết
đúng sai. Như vậy liệu chính sách có thể vận dụng vào thực tế lâu dài?
- Sự chậm trễ trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Mặc dù nước ta đã đề ra yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ Đại
Hội XI nhưng việc quá trình triển khai thực hiện quá trì trệ. Vì vậy, tăng
trưởng của Việt Nam vẫn dựa quá nhiều vào vốn, Chính phủ đầu tư kém hiệu
quả vào doanh nghiệp nhà nước (như Vinashin, Vinalines), đầu tư công lãng
phí và thất thoát lớn, vốn đầu tư bị hút vào bất động sản, không ít doanh
nghiệp đầu tư vào các mối quan hệ để kiếm lợi nhuận (đất, khai mỏ v.v.) mà
chậm nâng cao trình độ khoa học-công nghệ và năng lực cạnh tranh.
Trong khi đó, Nhà nước chậm cải cách thể chế, năng lực của bộ máy nhà
nước chậm được nâng cao, các rào cản kỹ thuật trong thương mại chậm được
áp dụng để tự bảo vệ.
2.2. Thực trạng QLNN về phát triển bền vững ở Việt Nam trong

song phương và trên 84 quốc gia, vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam.
Gia nhập ASEAN vào năm 1995, trở thành thành viên của Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO) vào năm 2007 và tham gia tích cực vào Diễn đàn Hợp tác
Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Tự do hóa thương mại và đầu tư
đã đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế có độ mở khá lớn. Nếu năm 2007
kim ngạch xuất khẩu mới đạt hơn 48 tỷ đô la Mỹ thì năm 2011 con số này đã
tăng lên 96 tỷ đô la Mỹ, tăng gấp 2 lần. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đạt
những kỷ lục cam kết mới, với tổng vốn đã cam kết vượt hơn 200 tỷ đô la Mỹ
và con số vốn thực hiện ngày càng lớn, chiếm khoảng trên dưới 20% vốn đầu
tư chung của cả nước, một tỷ lệ cao so với nhiều nước, kể cả Trung Quốc.
Về xã hội
Công tác xoá đói giảm nghèo, dân số, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe người
dân, giáo dục - đào tạo và tạo việc làm cho người lao động đều đạt được những
thành tựu bước đầu đáng khích lệ. An sinh xã hội được chú trọng nhằm đảm
bảo ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân, đặc biệt trong tình hình lạm
12


phát cao, nhiều thiên tai. Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục
tiểu học theo chuẩn phổ cập của quốc gia vào năm 2000, chất lượng giáo dục
dần được nâng cao, cơ sở vật chất trong hệ thống giáo dục được tăng cường.
Tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ 28,9% năm 2002 xuống còn 9,45% năm 2010, bình
quân cả nước mỗi năm giảm 2% số hộ nghèo. Thu nhập bình quân của hộ
nghèo tăng 2,0 lần trong cùng thời kỳ
Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm giảm dần, giai đoạn 1999 - 2009
là 1,2% và giữ ở mức 1,14% năm 2010. Quy mô, mạng lưới khám chữa bệnh
được mở rộng trên khắp cả nước. Bên cạnh hệ thống y tế của nhà nước, y tế tư
nhân cũng ngày càng phát triển. Chất lượng khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế và
công tác y tế dự phòng, kiểm soát dịch bệnh được nâng cao. Tỷ lệ chết trẻ em
dưới 1 tuổi giảm xuống còn 25 phần nghìn, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm

nhiều nguồn lực để đầu tư xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch cho 76% dân
số đô thị. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn đô thị đã được tăng lên, ước đạt 80 - 82%
ở các vùng nội thị, 70 - 72 % tính chung cho các đô thị (năm 2003 là 60 70%), tỷ lệ chất thải rắn bệnh viện được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn môi
trường là 80%.
Về bảo tồn thiên nhiên và ĐDSH, đã thiết lập được 164 khu vực bảo vệ
trên cạn, bao gồm 30 vườn quốc gia, 69 khu bảo tồn thiên nhiên, 45 khu bảo
tồn văn hóa và lịch sử và 20 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm; Chính phủ
cũng đã phê duyệt 45 khu bảo tồn đất ngập nước nội địa (năm 2008) và hệ
thống 16 khu bảo tồn biển (2010).
2.2.2. Hạn chế
Về kinh tế
Chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế còn thấp.
Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, chủ yếu dựa vào tăng vốn
đầu tư trong và ngoài nước và khai thác các nguồn tài nguyên thô, tỷ lệ giá trị
gia tăng của sản phẩm xuất khẩu còn thấp, sức cạnh tranh chưa cao cả trên thị
trường trong và ngoài nước.
Năng suất lao động xã hội còn thấp hơn nhiều so với các nước trong khu
Tăng trưởng trong nhiều lĩnh vực kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khẩu tài
nguyên thô, hoặc công nghiệp gia công với tỷ lệ giá trị gia tăng thấp.
Về xã hội
Tình trạng tái nghèo ở một số vùng như vùng núi cao, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số, vùng bị thiên tai vẫn còn cao.
Giải quyết việc làm chưa tạo được sự bứt phá về năng suất lao động, chưa
tạo được nhiều việc làm bền vững, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên còn cao ở mức
7% năm.
Cơ cấu dân số biến động mạnh, mất cân bằng giới tính khi sinh ngày càng
nghiêm trọng. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân còn nhiều bất cập; sản
xuất, quản lý và sử dụng thuốc chữa bệnh còn nhiều yếu kém, thiếu sót. Tình
hình ô nhiễm thực phẩm, ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực
phẩm vẫn còn cao, chưa có khả năng kiểm soát.

nhập kinh tế quốc tế.
Kế hoạch hóa thương mại được đổi mới theo hướng phát huy tác động
gián tiếp, định hướng và hướng dẫn, ngày càng phân cấp nhiều hơn cho các địa
phương. Tránh mệnh lệnh hành chính, áp đặt theo ý muốn chủ quan của nhà
lãnh đạo. Tiếp tục hoàn thiện các loại luật và văn bản hướng dẫn thi hành luật
liên quan tới lĩnh vực thương mại dịch vụ, các khía cạnh thương mại của đầu
tư và quyền sở hữu trí tuệ. Sửa đổi các chính sách bảo vệ sản xuất trong nước
theo hướng xóa bỏ trợ cấp hoặc hỗ trợ trực tiếp về vật chất, tăng cường hỗ trợ
15


về kỹ thuật và năng lực quản lý, kinh doanh nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho
doanh nghiệp và hiệu quả ngành. Chính sách mở cửa thị trường và tự do hóa
thương mại phải có lộ trình phù hợp với cam kết gia nhập WTO. Xóa bỏ những
quy định chồng chéo, bất hợp lý trong hệ thống chính sách, pháp luật gây cản
trở thương mại. Hoàn thiện chính sách thương mại theo hướng minh bạch hóa,
rõ ràng, có thể dự đoán góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, tạo mọi cơ
hội cho doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.
Việc mở rộng xuất khẩu một số sản phẩm đang có nguy cơ làm cạn kiệt
tài nguyên thiên nhiên, suy giảm đa dạng sinh học và ô nhiễm môi trường, sử
dụng ngày càng nhiều các yếu tố đầu vào làm gia tăng áp lực gây ô nhiễm. Yêu
cầu phát triển xuất, nhập khẩu phục vụ phát triển bền vững đặt ra hết sức cấp
bách đối với nước ta trong giai đoạn 2011-2020. Chúng ta cần có những chính
sách đúng đắn và phù hợp, được xây dựng trên cơ sở khoa học, có tính đến một
cách hài hòa giữa mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường. Chính vì vậy, cần có
các tiêu chí khoa học để định hướng, xây dựng, kiểm định, làm căn cứ cho các
chính sách xuất, nhập khẩu theo hướng phục vụ mục tiêu phát triển bền vững
của đất nước.
2.3.2. Xây dựng và đồng bộ hóa thể chế kinh tế thị trường và vận hành
thông suốt các loại thị trường, nhất là các thị trường về dịch vụ. Đẩy mạnh

nước, đồng thời, với việc tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, không ngừng
nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo với Đảng. Tăng cường hơn nữa phân cấp
quản lý Nhà nước về thương mại cho chính quyền địa phương cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương nhằm giảm bớt sự điều hành trực tiếp và tập tập
trung thiếu hiệu quả của cấp trên, đồng thời tăng quyền chủ động, tích cực của
cấp dưới. Cho phép các địa phương được thiết lập các quan hệ hợp tác về kinh
tế, thương mại lâu dài với các địa phương của nước bạn.
Sắp xếp lại, bổ sung, bồi dưỡng và đào tạo kịp thời nhân sự bộ máy tổ
chức của các cơ quan quản lý nhà nước, các bộ ngành ở Trung ương và sở
ngành ở địa phương. Chú trọng hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước đối với
lĩnh vực dịch vụ, trong đó có các loại dịch vụ nhạy cảm, dịch vụ chất lượng
cao.
2.3.4. Tăng tiềm lực và khả năng tài chính quốc gia.
Nghiên cứu bổ sung các cơ chế, chính sách nhằm tiếp tục đổi mới và
lành mạnh hóa hệ thống tài chính – tiền tệ quốc gia, thực hành triệt để tiết
kiệm, tăng tỷ lệ ngân sách giành cho đầu tư phát triển, khống chế mức bội chi
ngân sách, tiến tới cân bằng thu chi và tăng dự trữ.
Xây dựng và thực hiện đề án đổi mới hệ thống thuế và phí theo hướng
nuôi dưỡng nguồn thu, thực hiện công khai, minh bạch, giải quyết hài hòa mối
quan hệ lợi ích giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Xây dựng và triển khai
chương trình giảm thuế quan theo tiến trình cam kết AFTA và các cam kết
quốc tế khác. Xây dựng luật quản lý vốn và tài sản nhà nước, sửa đổi luật các
tổ chức tín dụng, xây dựng luật kế toán. Nghiên cứu xây dựng chỉ tiêu ngân
sách trung hạn nhằm chủ động trong chi ngân sác hướng đến các mục tiêu phát
triển bền vững. Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiềm chế, kiểm soát lạm phát, loại
trừ các nguy cơ tái lạm phát cao cũng như tình trạng giảm phát. Tiếp tục đổi
mới cơ chế quản lý ngoại hối và thị trường ngoại tệ, từng bước tiến hành khả
năng chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam.

17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status