Nghiên cứu cấu trúc và đề xuất giải pháp kinh doanh rừng hợp lý đối với RPH bằng TSTN tại vùng tây bắc - Pdf 35

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------------------------------------

NGUYỄN QUANG HƯNG

NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KINH DOANH RỪNG
HỢP LÝ ĐỐI VỚI RỪNG PHỤC HỒI BẰNG TÁI SINH
TỰ NHIÊN TẠI VÙNG TÂY BẮC
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. TRẦN VĂN CON

Thái Nguyên, năm 2012


ii
LỜI CÁM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
năm 2012.
Có được kết quả này ngoài sự nổ lực của bản thân không thể thiếu sự giúp
đỡ của các thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng kỹ thuật
Lâm sinh - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và các tỉnh Tây Bắc.
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, em đã nhận được sự hỗ trợ
của tập thể giáo viên Khoa Lâm nghiệp, Khoa Đào tạo sau đại học trường Đại


Danh lục hình

vi

Đặt vấn đề

1

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

3

1.1. Một số khái niệm

3

1.2. Ngoài nước

8

1.3. Trong nước

13

1.4. Thảo luận

21

Chương 2: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu


3.2. Địa hình địa thế

31

3.3. Khí hậu thủy văn

32

3.4. Đặc điểm thổ nhưỡng

32

3.5. Thảm thực vật rừng

34

3.6. Hiện trạng tài nguyên rừng

37

3.7. Kinh tế xã hội

38

3.8. Đánh giá chung

39




50

4.2.2. Cấu trúc tầng thứ

56

4.2.3. Cấu trúc N/D

58

3.2.4. Mạng hình phân bố cây trên mặt phẳng diện tích

61

4.3. Các đặc điểm tái sinh của RPH

63

4.3.1. Mật độ cây tái sinh và phân bố cây tái sinh theo chiều cao

63

4.3.2. Tổ thành cây tái sinh

65

4.3.3. Nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh

66

v
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Cs

Cộng sự

D1,3

Đường kính thân cây đo ở độ cao 1,3 mét

D/N

Số cây theo cấpkính

G

Tiết diện ngang

Go
ha

Tiết diện ngang của ô điều tra
hec ta

HSTR

Hệ sinh thái rừng

m



vi
DANH LỤC BẢNG

Bảng

Nội dung

Trang

2.1.

Số lượng ô tiêu chuẩn theo tỉnh .......................................................... 24

4.1.

Diễn biễn diện tích rừng theo tỉnh ...................................................... 41

4.2.

Diễn biến diện tích các kiểu rừng toàn vùng ...................................... 42

4.3.

Diễn biến trữ lượng các kiểu rừng gỗ ................................................. 43

4.4.

Diễn biến trữ lượng rừng theo tỉnh ..................................................... 44



4.13.

Mạng hình phân bố cây trên mặt phẳng diện tích rừng ...................... 62

4.14.

Phân bố số cây tái sinh theo chiều cao ............................................... 64

4.15.

So sánh tỷ lệ tổ thành và tần suất xuất hiện giữa các tầng cây ........... 65

4.16.

Nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh ................................................. 66


vii
DANH LỤC HÌNH

Hình

Nội dung

Trang

2.1.

Sơ đồ thiết kế ô tiêu chuẩn đo đếm ................................................... 24

Mất rừng, độ che phủ giảm, đất đai bị thoái hoá do xói mòn, rửa trôi,
sông hồ bị bồi lấp, môi trường bị thay đổi, hạn hán lũ lụt gia tăng, ảnh hưởng
lớn đến mọi mặt đời sống của nhiều vùng cư dân. Mất rừng còn đồng nghĩa
với sự mất đi nhiều nguồn gen động thực vật. Các thảm hoạ thiên tai gần đây
đã làm gia tăng nhận thức của công chúng và các nhà quản lý về hậu quả
nghiêm trọng của việc mất và suy thoái tài nguyên rừng.
Đề xuất phương án kinh doanh rừng bền vững tuân theo lý luận căn cứ
vào mục tiêu kinh doanh lợi dụng rừng. Từ những đặc trưng của đối tượng,
những yếu tố ảnh hưởng tới đối tượng nhằm xem xét mối quan hệ giữa đối
tượng và các nhân tố ảnh hưởng trên quan điểm hệ thống sinh thái nhân văn
mà đối tượng nghiên cứu là hệ sinh thái rừng và các nhân tố ảnh hưởng bên
ngoài chủ yếu là các nhân tố xã hội thuộc về chủ thể quản lý rừng, những thể
chế chính sách của nhà nước…có tác động vào rừng, công tác quản lý rừng.
Các chủ rừng với đối tượng quản lý là rừng tự nhiên tái sinh hay RPH với quy
luật phát triển riêng với điều kiện dân sinh kinh tế còn nhiều khó khăn. Vấn đề
dẫn dắt rừng theo phương hướng phát triển Lâm nghiệp địa phương đồng thời
phải gần nhất với những quy luật phát triển của rừng.
Vùng Tây Bắc bao gồm 4 tỉnh Lai châu, Điện Biên, Sơn La và Hòa Bình,
với tổng diện tích tự nhiên 3.745.665 ha, chiếm 11,3 % diện tích cả nước;
Trong đó diện tích rừng rừng và đất đồi núi quy hoạch cho phát triển lâm
nghiệp là 2.068.955 ha, chiếm 55,2% diện tích tự nhiên. Vùng Tây Bắc là


2
vùng núi cao, dốc nhất Việt Nam, là vùng đầu nguồn của các hệ sông lớn sông
Đà, sông Mã… có tiềm năng thủy điện lớn nhất cả nước. Hệ thống rừng vùng
Tây Bắc là mái nhà xanh có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nguồn nước
cho các nhà máy thủy điện, phòng chống lũ lụt, đảm bảo an toàn cho đồng
bằng Bắc Bộ và Thủ đô Hà Nội. Vì vậy, bảo vệ và phát triển rừng vùng Tây
Bắc ngoài việc nâng cao khả năng phòng hộ của rừng; nó còn có tác dụng

Rừng là một hệ thống động, vào một thời điểm nhất định, trạng thái của
rừng có thể đang ở trong một giai đoạn nào đó của quá trình diễn thế đi lên
(phục hồi) hoặc đi xuống (suy thoái). Trong lâm học, người ta chia quá trình
phát triển và diễn thế của rừng thành 4 giai đoạn: (i) Giai đoạn hình thành
(rừng non): với các đặc trưng là: các cây trong lâm phần có chiều cao dưới 5
m và đường kính ngang ngực dưới 8 cm, rừng chưa khép tán, tiểu khí hậu
trong rừng chưa hình thành; hầu hết các loài thuộc nhóm cây tiên phong ưa
sáng; (ii) Giai đoạn phát triển (rừng sào): rừng bắt đầu khép tán, các cây trội
trong lâm phần có chiều cao lớn hơn 5 m và đường kính ngang ngực lớn hơn 8
cm, tiểu khí hậu rừng bắt đầu hình thành, có sự phân hoá mạnh về chiều cao
để tạo lập các tầng phiến khác nhau. Dưới tán rừng bắt đầu xuất hiện một số
loài chịu bóng có giá trị kinh tế cao; (iii) Giai đoạn chọn lọc (rừng trung


4
niên): rừng đã hoàn toàn khép tán, tầng cây trội có chiều cao trên 12 m và
đường kính ngang ngực từ 12-20 cm, quá trình đào thải tự nhiên do cạnh trạnh
không gian sinh trưởng diễn ra mạnh mẽ, cấu trúc tầng tán hình thành, cấu
trúc tổ thành loài thay đổi từ ưu thế của các loài tiên phong ưa sáng sang các
cây chịu bóng. (iv) Giai đoạn ổn định (cực đỉnh): Sự phân hoá tầng tán kết
thúc, chiều cao tầng trội đạt trên 17 m và cây ở tầng này đã thành thục và bước
vào giai đoạn suy thoái; hiện tượng chết tự nhiên của cây già tạo thành các lổ
trống nhỏ hoặc lớn khác nhau, sau đó lại được lấp đầy bằng các cây con tái
sinh tạo nên động thái ổn định của rừng cực đỉnh.
- Suy thoái rừng (Forest Degradation)
Sự suy thoái rừng được hiểu một cách khái quát: là quá trình dẫn đến phá
vỡ cấu trúc rừng, mất đa dạng của loài cây bản địa, các quá trình sinh thái đặc
trưng cho hiện trạng rừng tự nhiên và năng suất của chúng. Sự suy thoái rừng
có thể xẩy ra ở nhiều hình thức và được biểu hiện ở nhiều qui mô khác nhau.
Sự suy thoái xẩy ra khi các sự kiện phi tự nhiên gây ra những xáo trộn trong

(ii). Mật độ cây biểu hiện cấu trúc ngang của lâm phần. Trong rừng bị suy
thoái (rừng nghèo), nó có thể được đặc trưng qua sự khép tán, chất lượng tán,
sự tan vở, mật độ cây và mật độ sinh khối. Rừng bị suy thoái so với rừng chưa
bị tác động, thường biểu lộ nhiều lỗ trống hơn. Tuy nhiên, rừng chưa bị tác
động (nguyên sinh) cũng có thể chứa các lỗ trống do các nguyên nhân tự nhiên
như cây bị sét đánh và chết tự nhiên. Quá trình khai thác các cây to tạo ra
những lỗ trống lớn. Độ tàn che của rừng bị thoái hoá thường không bình
thường so với rừng nguyên sinh. Việc khai thác quá mức có thể tạo ra rừng
thưa gần với cấu trúc trảng cây bụi. Rừng bị suy thoái có thể có độ tàn che thấp
hơn rừng chưa bị tác động. Trong nhiều trường hợp của rừng suy thoái, các lổ
trống do chặt cây to sẽ được thay thế bởi các cây bụi có kích thước nhỏ và chất
lượng kém hơn nhiều.
(iii). Thành phần tổ thành loài có thể bị biến đổi một cách tạm thời hoặc lâu
dài trong rừng bị thoái hoá so với rừng nguyên sinh. Việc khai thác các loài có
giá trị thương mại làm giảm tổ thành loài trong rừng. Quá trình TSTN có thể


6
bổ sung các loài thứ sinh, hoặc các loài được trồng bổ sung sẽ dẫn đến sự thay
đổi trong cấu trúc tổ thành của rừng.
(iv). Biến động trong cấu trúc, mật độ và tổ thành loài dẫn đến thay đổi về
năng suất sinh học của rừng.
Mức độ thay đổi các nhân tố chỉ thị này so với thảm thực vật gốc biểu
hiện mức độ suy thoái của rừng; căn cứ vào đó chúng ta có thể xác định hệ
thống các chỉ tiêu để phân loại các trạng thái rừng bị suy thoái:
Rừng nguyên sinh => Rừng thứ sinh bị suy thoái nhẹ => Rừng thứ sinh bị suy
thoái trung bình => Rừng thứ sinh bị suy thoái mạnh => Trảng bụi/trảng
cỏ…
- Phục hồi rừng (PHR)
PHR được hiểu một cách khái quát nhất chính là quá trình ngược lại của sự

kém nhưng có thể đạt được xét về mặt sinh thái. Tuy nhiên, về mặt thực tế:
việc khôi phục rừng nghèo có thể được hiểu là một loạt các chiến lược nhằm
chuyển những khu rừng nghèo vào dãy diễn thế đi lên của rừng để đạt được
các trạng thái mong muốn trong tương lai.
+ Phục hồi (rehabilitation): khái niệm PHR được định nghĩa như là gạch
nối (=trung gian) giữa cải tạo và khôi phục. Trong trường hợp này, một vài cố
gắng có thể được thực hiện để thay thế thành phần dễ thấy nhất của thảm rừng
gốc, đó thường là tầng cây cao bao gồm cả các loài bản địa được thay thế bằng
các loài có giá trị kinh tế và sinh trưởng nhanh hơn.
Ngoài ba nhóm hành động này, việc PHR còn bao gồm:
+ Trồng rừng (afforestation): trồng rừng được hiểu là sự chuyển đổi từ đất
không có rừng thành rừng thông qua trồng cây, gieo hạt thẳng hoặc XTTSTN
(Smith, 2002-dẫn theo [3]).
+ Trồng lại rừng (reforestation): là hoạt động trồng rừng trên đất không
có rừng do bị mất rừng trong một thời gian nhất định.
Như vậy, sự khác nhau giữa trồng lại rừng và trồng rừng nằm ở thời gian
không có rừng của đối tượng (=đất trồng rừng), hoạt động trồng rừng ở đối
tượng có thời gian rất lâu không phải là rừng thì gọi là trồng rừng; còn hoạt
động đó trên đối tượng mới không có rừng trong thời gian ngắn thì gọi là


8
trồng lại rừng. Trong nhiều trường hợp, trồng rừng, trồng lại rừng được hiểu
đồng nghĩa với sự cải tạo (hay là sự thay thế). PHR có thể được giải thích như
một phương pháp phối hợp giữa các hoạt động thay thế, phục hồi và khôi
phục. Hoạt động phục hồi có thể thay đổi tuỳ thuộc vào mục đích, điều kiện
của đối tượng và rừng mong muốn đạt đến. Sự lựa chọn chiến lược PHR được
quyết định từ các điều kiện cụ thể của rừng hoặc thảm thực vật của lập địa cần
phục hồi; do đó, việc phân loại rừng nghèo để xác định đối tượng cho các
chiến lược phục hồi là hết sức quan trọng và có tính quyết định về mặt kỹ

hợp loài cây khác hẳn. Nếu xét trên diện tích nhỏ, tổ hợp loài cây tái sinh
không mang tính chất kế thừa. Nhưng nếu xét trên một phạm vi rộng, thì tổ
hợp các loài cây sẽ thừa kế nhau theo phương thức tuần hoàn. Thành công
của A. Obrevin đã khái quát được hiện tượng bức khảm tái sinh. Ông coi đó là
“Hiện tượng thuần tuý ngẫu nhiên”. Nhưng phần lý giải các hiện tượng đó còn
bị hạn chế chưa đưa ra được những đề xuất cụ thể. Vì vậy, lý luận của ông còn ít
sức thuyết phục, chưa giúp ích cho thực tiễn sản xuất để điều khiển tái sinh rừng
theo những mục tiêu kinh doanh đã đề ra. Tuy nhiên, những kết quả quan sát của
Davit và P.W Risa (1933), Bơt (1946), Sun (1960), ... dẫn theo [22]) ở rừng nhiệt
đới Nam Mỹ lại khác hẳn với nhận định của A.Obrevin. Đó là hiện tượng tái sinh
tại chỗ và liên tục của các loài cây và tổ thành loài cây có khả năng giữ nguyên
không đổi trong một thời gian dài. Bernard Rollet (1979) [42] tổng kết các kết
quả nghiên cứu về phân bố tái sinh đã nhận xét, trong các ÔTC có kích thước nhỏ
(1 x 1m); (1 x 1,5m) cây tái sinh có dạng phân bố cụm, một ít có dạng phân bố
ngẫu nhiên. Đặc điểm tái sinh rừng cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm,
đặc biệt là thế hệ cây tái sinh có tổ thành giống khác biệt với tổ thành tầng cây
cao. (Mibbread – 1940; Richard – 1944, 1949, 1965; Baur – 1964; …). Các
công trình nghiên cứu về phân bố TSTN rừng nhiệt đới đáng chú ý là công trình
nghiên cứu của Richards, P.W (1952) [41], Bernard Rollet (1979) [42], Catinot,
R (1965) [35], Odum, E.P. (1971) [39], Said, A.B. (1991) [34],... tổng kết các kết
quả nghiên cứu về phân bố số cây TSTN đã nhận xét: trong các ô có kích thước
nhỏ (1 x 1m, 1 x 1.5m) cây TSTN có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố
Poisson. Ở Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập Tayloer (1954), Barnard


10
(1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải
bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo. Các tác giả nghiên cứu về TSTN rừng nhiệt
đới Châu Á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới
tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do

đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh dưỡng khoáng của đất, ánh
sáng, độ ẩm và tính chất không thuần nhất của quan hệ qua lại giữa các thực vật
tuỳ thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của quần thể thực vật
(dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [22]. Trong nghiên cứu tái sinh rừng người
ta nhận thấy rằng: tầng cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các
nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái
sinh của các loài cây gỗ. Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng
khoáng do đó thảm cỏ và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các
cây gỗ tái sinh không đáng kể. Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai
thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ. Trong điều kiện này chúng là
nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973)
(dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [22]. Như vậy, các công trình nghiên cứu
được đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ các đặc điểm TSTN ở rừng nhiệt đới.
Đó là cơ sở để xây dựng các phương thức lâm sinh hợp lý. Kết quả nghiên cứu
TSTN của thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các
phương pháp nghiên cứu, quy luật TSTN ở một số nơi. Đặc biệt, sự vận dụng các
hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm
quản lý tài nguyên rừng bền vững. Tuy nhiên vì rừng mưa nhiệt đới luôn tồn tại
những quy luật hết sức phức tạp, do vậy việc nghiên cứu về tái sinh rừng nhiệt
đới nói chung vẫn chưa thật đầy đủ và hệ thống cho từng loại rừng cụ thể.
- Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng trên thế giới đã chỉ ra rằng
rừng nhiệt đới rất đa dạng phong phú về thành phần loài, trong rừng thường
phân hoá thành một số tầng nhất định. Đồng thời các tác giả đã nghiên cứu,
thảo luận và đề xuất nhiều vấn đề lý luận, kỹ thuật và cả kinh tế xã hội có vai
trò quan trọng trong kinh doanh hệ sinh thái rừng tự nhiên.


12
Cấu trúc sinh thái: Richards P.W (1952) [41] đã phân biệt tổ thành thực vật

13
Gamma biểu thị phân bố số cây theo đường kính lâm phần Thông ôn đới. Đặc
biệt để tăng tính mềm dẻo, một số tác giả hay dùng các hàm khác, như Loetsch
(1973) dùng hàm Beta để nắn các phân bố thực nghiệm, J.L.F Batista và
H.T.Z Docouto (1990) trong khi nghiên cứu 19 ô tiêu chuẩn với 60 loài của
rừng nhiệt đới ở Maranhoo - Brazin đã dùng hàm Weibull mô phỏng phân bố
N/D. Nhiều tác giả khác dùng hàm Schumacher, hyperbol, hàm mũ, Poisson,
Charlier,... để mô hình hoá cấu trúc rừng (dẫn theo Trần Văn Con, 19911) [2].
Tóm lại, trên thế giới, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc
rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng, có nhiều
công trình nghiên cứu công phu và đã đem lại hiệu quả trong kinh doanh rừng.
Tuy nhiên, chưa thấy một công trình nào nghiên cứu đầy đủ về tất cả các mặt
trong cấu trúc rừng.
1.3. Trong nước
- Nghiên cứu về tái sinh và diễn thế rừng
Quá trình tái sinh và diễn thế của rừng tự nhiên là những vấn đề hết sức
quan trọng trong nghiên cứu sinh thái rừng nhiệt đới. Mỗi sự phá hoại rừng
nguyên sinh đều dẫn đến quá trình diễn thế theo xu hướng trở lại trạng thái
ban đầu. Sự thay đổi như vậy thường được gọi là quá trính diễn thế thứ sinh,
đây là một quá trình hết sức phức tạp vì các hình thức, mức độ và thời kỳ phá
hoại quần thể thực vật cũng như sự thoái hoá của đất rừng cũng hết sức phức
tạp (Trần Ngũ Phương (1970) [17, (2001) [18]. Theo Thái Văn Trừng (1978)
[30] thì có thể phân ra hai loại trong quá trình diễn thế thứ sinh: (i) trên đất
rừng nguyên trạng và (ii) trên đất rừng thoái hoá. Trên đất rừng nguyên trạng,
nếu thảm thực vật chỉ bị phá hoại một lần thì các kiểu thảm thực vật sẽ phục
hồi gần giống như các quần thể nguyên hay thứ sinh tự nhiên ở một số khu
vực nhất định. Nếu bị tác động nhiều lần trong quá trình diễn thế thứ sinh thì
tuỳ loại hình quần thụ nhưng thường là không biến đổi mấy về hình dạng, còn
về cấu trúc sẽ đơn giản và thành phần cây tái sinh gồm chủ yếu là những loài
cây tiên phong tạm cư hay tiên phong định cư và có rất loài định vị nên không

tầng tán chính của rừng, tầng này không bị tác động qua khai thác, gây nên sự
ứ đọng tán, không cho ánh sáng lọt xuống gây ảnh hưởng đến tái sinh của các


15
loài cây ưa sáng. Phùng Ngọc Lan (1986) [12] cho rằng quá trình tái sinh xác
định từ lúc ra hoa kết quả đến khi tán cây tái sinh tham gia vào tầng A3 của
rừng. Nguyễn Vạn Thường (1991) [25] đã tổng kết và đưa ra kết luận hiện
tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không
mang tính chu kỳ. Sự phân bố số cây tái sinh không đồng đều, số cây mạ
(H 3.000 cây/ha. Đối với trạng thái

tục nghiên cứu trên từng địa bàn cụ thể. Trong điều kiện hiện nay, việc PHR tự
nhiên đang được quan tâm nhiều trong Chương trình trồng mới 5 triệu hecta
rừng, vấn đề tái sinh RPH cần được chú ý hơn trong các nghiên cứu ứng dụng.
Nghiên cứu về cấu trúc rừng: Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ thành các
thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian.
Cấu trúc rừng bao gồm: cấu trúc sinh thái (tổ thành, dạng sống, tầng phiến),


17
cấu trúc hình thái (tầng thứ, mật độ, mạng hình phân bố) và cấu trúc thời gian
(N/D). Nghiên cứu cấu trúc rừng là nội dung không thể thiếu để xây dựng cơ
sở khoa học cho quản lý rừng bền vững. Công trình nghiên cứu có hệ thống
nhất về cấu trúc rừng tự nhiên Việt Nam cần được tham khảo là của Nguyễn
Văn Trương (1983) [29]. Các kiểu cấu trúc sau đây thường được nghiên cứu:
- Cấu trúc sinh thái
Rừng tự nhiên nhiệt đới là các kiểu rừng có cấu trúc sinh thái phức tạp
nhất về thành phần loài, tầng phiến và dạng sống thể hiện sự phong phú về đa
dạng sinh học. Các chỉ tiêu để chỉ sự đa dạng về loài của rừng tự nhiên là hệ
số hỗn loài (số loài/số cây). Trong rừng tự nhiên ở Việt Nam tỷ lệ này biến
động từ 1/5 đến 1/13 trong một ô tiêu chuẩn 1 ha. Có nghĩa là nếu số cây gỗ
có đường kính ngang ngực từ 10 cm trở lên trong 1 ha bình quân là 500 cây thì
số loài biến động từ 38-100 loài /ha. Cấu trúc tổ thành loài nghiên cứu về tầm
quan trọng sinh thái của mỗi loài trong quần thụ, các chỉ tiêu để định lượng về
tổ thành loài thường được dùng là giá trị IV (Imortant Value) tính bằng %. Giá
trị này được tính cho số tỷ trọng số cây của một loài so với tổng quần thụ, hay
tỷ trọng tiết diện ngang G, hoặc tổng của hai chỉ tiêu này. Các loài có giá trị
IV%> được xếp vào các loài ưu thế. Phục vụ mục tiêu quản lý, người ta cũng
nghiên cứu các quan hệ tương hỗn giữa các loài (nhóm sinh thái); nhóm các
loài mục đích, các loài phù trợ và các loài phi mục đích, sự phân chia này là
tương đối vì loài phi mục đích hôm nay có thể trở thành loài kinh tế trong

ứng yêu cầu của khái niệm rừng cây tức là “tổng thể những cây hình thành
khoảnh rừng thuần nhất nhiều hay ít”. Vì vậy trong thực tiễn, rừng nhiệt đới
nước ta chỉ cần có những cây, dù khác loài, khác tuổi, mọc thành rừng, nghĩa
là cùng nhau sinh trưởng trên một diện tích nào đó với mật độ nhất định, hình
thành một tàn che, thì có thể tạo thành hoàn cảnh rừng và khoảnh rừng ấy hình
thành một đơn vị sinh học, một lâm phần có quy luật xác định. Luận điểm này
giúp cho các nhà nghiên cứu cấu trúc định hướng các vấn đề cần giải quyết.
ông cũng xác nhận “phân bố số cây theo kích thước trong các lâm phần
thường là dạng nhiều đỉnh...”. Nhiều tác giả khác đã sử dụng hàm Meyer,
khoảng cách – hình học để biểu diễn cấu trúc của rừng thứ sinh, đồng thời
cũng áp dụng quá trình Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể. Nguyễn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status