1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN ĐỨC HẠNH
NGHIÊN CỨU TÁCH KHÁNG NGUYÊN BỀ MẶT
GLYCOPROTEIN CỦA TRYPANOSOMA EVANSI,
ỨNG DỤNG TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH TIÊN MAO TRÙNG
Ở TRÂU BÒ TẠI HUYỆN PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN
BẰNG PHẢN ỨNG ELISA
Chuyên ngành: THÚ Y
Mã số
: 60 - 62 - 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. NGUYỄN QUANG TUYÊN
2. Th.S NGUYỄN THỊ GIANG THANH
THÁI NGUYÊN - 2008
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp thực hiện
4
MỤC LỤC
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ.....................................................................................1
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ..................................................................2
2.1. Tiên mao trùng (T. Evansi) và bệnh tiên mao trùng ...................................2
2.2. Một số đặc điểm của tiên mao trùng (Trypanosoma evansi)......................2
2.3. Bệnh Tiên Mao Trùng (Trypanosomiasis)..................................................9
2.4. Triệu chứng và bệnh tích bệnh Tiên mao trùng ........................................13
2.5. Các phương pháp chẩn đoán bệnh TMT...................................................14
2.5.1. Các phương pháp ký sinh trùng học...............................................14
2.5.2. Các phương pháp huyết thanh học .................................................17
2.5.3. Phương pháp sinh học phân tử (PCR - Polymerase Chain Reaction).. 19
2.6. Tình hình nghiên cứu TMT và bệnh TMT trong và ngoài nước .............19
2.6.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới .................................................19
2.6.2. Tình hình nghiên cứu trong nước...................................................22
Phần 3: NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...................................................24
3.1. Nội dung ng hiên cứu ................................................................................24
3.2. Đối tượng nghiên cứu................................................................................24
3.3. Địa điểm nghiên cứu .................................................................................25
3.4. Thời gian nghiên cứu ................................................................................25
3.5. Nguyên liệu ..............................................................................................25
3.5.1. Động vật thí nghiệm .......................................................................25
3.5.2. Nguyên liệu sinh học......................................................................25
3.6. Máy và các dụng cụ phòng thí nghiệm ....................................................26
3.7. Hoá chất và dung dịch...............................................................................26
3.8. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................30
6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1. Tăng cường, ổn định và nhân giống TMT trên chuột bạch.............36
Bảng 4.2. Các triệu chứng lâm sàng xuất hiện ở bê, nghé sau khi gây nhiễm ....... 37
Bảng 4.3. Bảng theo dõi nhiệt độ và sự xuất hiện TMT trong máu bê............38
Bảng 4.4. Bảng theo dõi nhiệt độ và sự xuất hiện TMT trong máu nghé........39
Bảng 4.5. Kết quả tách kháng nguyên bề mặt (VSG)......................................41
Bảng 4.6. Kết quả đo hàm lượng protein của kháng nguyên bề mặt ...............42
Bảng 4.7. Xác định độ pha loãng của kháng nguyên, huyết thanh và
Conjugate ...............................................................................................43
Bảng 4.8. Bảng thiết lập giá trị ngưỡng của bò, trâu .......................................45
Bảng 4.9. Đánh giá mẫu huyết thanh dương và âm tính cuả huyết thanh
xét nghiệm..............................................................................................45
Bảng 4.10. Kết quả thu thập mẫu huyết thanh trâu và bò ở các xã thuộc
huyện Phổ Yên.......................................................................................47
Bảng 4.11. Đánh giá thể trạng, sức khoẻ của trâu, bò lấy mẫu........................48
Bảng 4.12. Kết quả lấy mẫu theo lứa tuổi bê nghé và trâu bò. ........................49
Bảng 4.13. Kết quả chẩn đoán bệnh TMT bằng phương pháp ELISA ở
huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên .........................................................49
Bảng 4.14. Kết quả tỷ lệ nhiễm TMT của từng xã trong huyện Phổ Yên .......51
Bảng 4.15. Kết quả tỷ lệ trâu bò ở huyện Phổ Yên nhiễm TMT theo các
yếu tố thể trạng.......................................................................................52
Bảng 4.16. Kết quả tỷ lệ nhiễm TMT ở trâu bò thuộc huyện Phổ Yên
theo lứa tuổi ...........................................................................................53
Bảng 4.17. Kết quả điều trị bệnh TMT ở trâu, bò tại huyện Phổ Yên Thái Nguyên...........................................................................................55
Bảng 4.18. Kết quả sử dụng thuốc phòng bệnh ký sinh trùng đường máu
cho trâu, bò ở Phổ Yên - Thái Nguyên ............................................................56
TMT
T. evansi
NST
Microgam
Microlitre
Littre
Mililittre
Miligam
Gam
Miliampe
Bite
Voltage
Degree centigrate
Variant surface glycoprotein
Variant Antigenic Types
Dalton
Kinetoplast Doxyribose Nucleic Acid
Guide Ribonucleic acid
Glycosyl- phosphatidyl-Ụnositol
Phospholipase C
Dithylaminoethyl- 52-cellulose
Sodium Dodecyl Sulphate Poly Acrylamine
Gel Ọlectrophoresis
Phosphate Saline Buffer
Phosphate Saline Buffer - Tween 0.05%
Phosphate Saline glucose buffer
Ọnzyme Linked Ụmmunosorbent Assay
Food and Agricultre Ặganization
World Health Ặganization
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh tiên mao trùng (TMT) ở
trâu bò trên thế giới và Việt Nam, phần lớn các tác giả đều tập trung nghiên
cứu các biện pháp chuẩn đoán phát hiện bệnh sớm để kịp thời đưa ra những
phương pháp phòng và trị bệnh hiệu quả. Nhưng do TMT có đặc tính luôn
2
thay đổi kháng nguyên bề mặt để lẩn tránh sự đáp ứng miễn dịch của vật chủ
nên đã gây không ít khó khăn cho công tác chẩn đoán bệnh.
Thái Nguyên là một tỉnh đa dạng về địa lý bao gồm những vùng đất
bằng phẳng, vùng đồi và vùng núi đá, thung lũng và rừng xen kẽ đó là điều
kiện thuận lợi cho các loài côn trùng phát triển trong đó có ruồi mòng là vật
chủ trung gian truyền bệnh TMT. Huyện Phổ Yên thuộc tỉnh Thái Nguyên là
một huyện nằm trong vùng dịch tễ của bệnh TMT, qua thực tế theo dõi tình
hình dịch bệnh trên đàn trâu bò, chúng tôi thấy bệnh TMT ở trâu bò xảy ra
khá phổ biến, gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi. Do vậy chúng tôi đã
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tách kháng nguyên bề mặt
glycoprotein của Trypanosoma evansi, ứng dụng trong chẩn đoán bệnh
tiên mao trùng ở trâu bò tại huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên bằng phản
ứng ELISA".
Mục đích của đề tài
1. Nghiên cứu tách kháng nguyên bề mặt Glycoprotein của chủng T.evansi.
2. Xác định thành phần và đặc tính kháng nguyên của kháng nguyên bề
mặt T.evansi.
3. Thiết lập quy trình chẩn đoán huyết thanh học ELISA.
4. ứng dụng quy trình ELISA trong chẩn đoán bệnh TMT cho trâu, bò
tại huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên.
5. Điều trị trâu, bò có kháng thể kháng T. evansi trong huyết thanh đã
phát hiện.
Trypanosomatina
H:
Trypanosomatidae
Ging:
Trypanosoma
Loi:
Trypanosoma evansi
2.2. MT S C IM CA TIấN MAO TRNG (TRYPANOSOMA EVANSI)
c im hỡnh thỏi
T. evansi c xp vo
loi n bo, c th ch l mt
t bo, chiu di dao ng t
18 - 34àm, chiu rng t 1.5 2àm. Ton b c th cú hỡnh
sut ch mnh hoc hỡnh thoi,
cui thõn nhn. Tiờn mao trựng
(TMT) cú mt roi chy dc
theo chiu di ca c th, bt
ngun t th Kinetoplast v di
Hình 1. Hình thái tiên mao trùng trong
máu động vật nhiễm bệnh
Phần trong cùng là nhân (hình
2.2) nhân TMT có chứa DNA, hình
bầu dục hoặc hình trứng. Nhân
thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc
gần vị trí trung tâm của cơ thể. Đặc
biệt về phía đầu, TMT còn có
H×nh 2 . CÊu tróc tÕ bµo tiªn mao trïng
5
Kinetoplast chứa DNA (kDNA), từ Kinetoplast có một roi chạy ra phía ngoài.
Các loài TM khác nhau thì nhân khác nhau và hầu hết là khác nhau ở
chuỗi vòng nhỏ của kDNA.
b) Phần nguyên sinh chất
Nguyên sinh chất (NSC), gồm phần nội và phần ngoại nguyên sinh
chất. Trong NSC có chứa các nội quan như: Ribosome có màu thẫm xen kẽ
với các vùng không bào màu sáng, Mitochrondria, Reticulum (lưới nội bào),
mạng lưới Golgi và đặc biệt là Kinetoplast.
Kinetoplast, nơi roi sinh ra và chứa DNA (Kinetoplast DNA- kDNA) là
một đặc điểm rất riêng của TMT. Lượng kDNA chiếm khoảng 10-20% DNA
của toàn cơ thể bao gồm 2 loại cấu trúc vòng DNA: vòng lớn (maxi circles)
và vòng nhỏ (mini circles).
Vòng nhỏ có kích thước 1Kb và có khoảng 1000 bản sao. Bản sao mật
mã di truyền của chuỗi vòng nhỏ mã hoá cho “Guide RNA” có chức năng
điều khiển quá trình sao mã và giải mã của maxicircle.
Số lượng vòng lớn vào khoảng 20 - 25 và kích thước trung bình của
mỗi vòng khoảng 20 Kb tuỳ theo loài. Các DNA của maxicircle là giống nhau
và có chứa các gen mã hoá cho các enzyme giúp cho quá trình trao đổi chất
cùng của một TMT có khoảng
1,5.107 phân tử glycoprotein, chiếm
khoảng 5% tổng số lượng protein
của toàn cơ thể.
Cấu trúc phân tử của VSG
Kháng nguyên TMT có bản
chất là protein được cấu tạo từ các
H×nh 3. CÊu tróc ph©n tö cña VSG
phân tử Glycoprotein. Mỗi phân tử
Glycoprotein được cấu tạo từ 450-500 axit amin, các axit amin liên kết với
nhau tạo thành chuỗi và phân bố thành 4 vùng khác nhau:
7
- Vùng peptit đơn là vùng có đầu tận cùng là Nitơ (-N) gồm khoảng 20
axit amin của đoạn peptit đơn.
- Vùng thay đổi là vùng nằm cạnh vùng peptit đơn có chứa khoảng 360
axit amin thường xuyên biến đổi.
- Vùng tương đồng chứa khoảng 100 axit amin.
- Vùng cuối cùng có đầu tận là Cacbon (-C) có khoảng 20 axit amin.
≈20 a a
≈360 axit amin
≈100 axit amin
của vật chủ sẽ nhận dạng
homotype này và sản sinh
ra kháng thể, sự tăng lên
của kháng thể tương đồng
với sự triệt tiêu về số
lượng TMT của VAT này,
quá trình này được biểu
hiện đồ thị hình sine bắt
đầu đi xuống (pha xuống descending phase). Tuy
H×nh 5. VAT vµ sù biÕn ®æi kh¸ng nguyªn bÒ mÆt
cña TMT
nhiên, một phần VAT muộn (heterotype) còn lại sẽ biến đổi và nhân lên tạo
thành một heterotype mới mà kháng thể lúc trước không còn khả năng nhận
dạng ra nó. Cơ chế đáp ứng miễn dịch như trên lại lặp lại với glycoprotein
mới. Quá trình này cứ lặp đi lặp lại theo chu kỳ 10-12 ngày một lần.
Hệ thống miễn dịch của vật chủ luôn luôn nhận dạng kháng nguyên
TMT để sản sinh kháng thể chống lại, TMT thì luôn luôn biến đổi
glycoprotein bề mặt và trốn thoát khỏi hệ thống miễn dịch của vật chủ. Khả
năng lẩn tránh hệ thống đáp ứng miễn dịch của vật chủ của TMT dựa vào bộ
gen. Sự điều hành hoạt động của khoảng 1000 trong bộ gene này tạo ra sự
thay “lớp áo” (VSG) của TMT. Khi kháng thể đặc hiệu được sản sinh kháng
phân tử VSG hiện hành, chúng cùng với bổ thể, opsonin tiêu diệt TMT, ký
sinh trùng sẽ tạo VSG mới. Hầu hết tiên mao trùng có lớp VSG cũ bị tiêu diệt,
nhưng những tiên mao trùng có ‘lớp áo’ VSG mới sẽ phát triển. Cơ thể vật
chủ không hề biết trước và các kháng thể hiện có không còn tác dụng với
kháng nguyên mới này. Cơ thể vật chủ lại phải đáp ứng để miễn dịch lại với
biến chủng này. Quá trình cứ lặp đi lặp lại như vậy. Điều này giải thích cho
khắp mọi nơi trên đất nước Thái Lan và có nơi tỷ lệ nhiễm lên đến 52,9%... ở
10
đây bệnh được xác định có ở hầu hết các loài vật nuôi và động vật hoang dại
như: trâu, bò, chó, mèo, lạc đà, ngựa. Trong đó trâu, bò được xem là cảm
nhiễm nhiều hơn cả.
Ở Philippin thì bệnh Surra đã xẩy ra ở trên 13 khu vực. Theo như báo
cáo của chính phủ năm 1989-1997 thì loài trâu sống ở vùng đầm lầy là có tỷ
lệ nhiễm bệnh cao nhất (3819 trường hợp) sau đó đến ngựa (3430 trường
hợp). Tuy vậy tỷ lệ chết cao nhất lại rơi vào ngựa (345 con chết) và ít nhất ở
trâu, bò (112con) (Theo M.F.Manuel [43]. Các nhà nghiên cứu cũng khẳng
định rằng những phát hiện này khác xa với con số thực tế điều này chứng tỏ
rằng ở Philippin TMT cũng gây ra nhiều lo ngại đáng kể.
Ở Ấn Độ, năm 1984 người ta phát hiện thấy có 13 lợn chết và khi kiểm
tra bằng cách tiêm truyền chuột bạch thì thấy có 7 con nhiễm T. evansi (Theo
Gill, B.S., Singh, G., Gill, J.S (1987) [38].
Ở Trung Quốc, Chen Qijun, Seminar Paris, 10:200 (1992) [31] đã phân
lập được 5 loài TMT là T. evansi, T. equiperdum, T. theileri, T. gallirum và
T. melophagium trong đó T. evansi vẫn là loài gây bệnh phổ biến nhất...
Tình hình nhiễm T. evansi ở Việt Nam
Năm 1886, Blanchard là người đầu tiên phát hiện thấy TMT ở trên
những con la nhập vào Bắc Bộ Việt Nam. Carougeau (1902), Blin (1903) tìm
thấy T. evansi trong máu ngựa ở Nha Trang. Rồi đến năm 1924 theo như các
nhà nghiên cứu thì bệnh đã lan toả ra hầu hết các tỉnh Bắc Bộ như Bắc Cạn,
Cao Bằng, Lai Châu, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Ninh, Sơn Tây, Vĩnh
Phú (Trịnh Văn Thịnh,1982) [25].
Năm 1962-1971, Phạm Sỹ Lăng (1983) [11] cho biết bệnh TMT đã xuất
hiện ở các vùng đồng bằng, trung du, miền núi, ven biển. Trâu và bò nhiễm
chồn, cầy hương, chó, mèo... trong đó chuột nhắt trắng và chuột cống trắng
rất mẫn cảm với T. evansi (Theo Lapage (1968). G. Parasitology of medical
and Veterinary, London) [42].
12
Môi giới trung gian truyền bệnh của T. evansi
Vector truyền bệnh TMT rất phong phú trong đó có 7 loài mòng họ
Tabanidae và 3 loài ruồi hút máu họ Stomoxynidae đóng vai trò chủ yếu, theo
Đào Trọng Đạt, Phạm Sỹ Lăng, Công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật,
(1990- 1991) [5]. thì trong điều kiện nóng ẩm của Việt Nam ruồi hút máu
mang mầm bệnh với tỷ lệ 5.61%-19.34% và mòng với tỷ lệ 3.84%-24.9%.
Bệnh chỉ truyền theo phương pháp cơ giới, T. evansi không có sự phát triển ở
những loài côn trùng hút máu. Ví dụ như ở loài Tabanus rubidus, sau khi vào
vật chủ trung gian thì T. evansi vẫn sống và hoạt động đến giờ thứ 53 trong đó
khoảng từ 1 đến 34 giờ là hoạt động mạnh nhất, nhưng hoạt lực gây bệnh chỉ
đến giờ thứ 7. Thời gian xâm nhập vào mòng càng lâu thì tỷ lệ gây bệnh càng
giảm. Điều này có thể do số lượng và độc tính của T. evansi giảm trong mòng.
(Theo Phan Địch Lân (1985) [8].
Ở một số nước nhiệt đới thì ngoài côn trùng người ta cũng có nghĩ tới
một số loài nhuyễn thể hút máu có thể là một môi giới truyền bệnh TMT.
(theo Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1982) [25].
Mùa mắc bệnh và phát bệnh TMT
Do T. evansi không có chu kì phát triển trong vật chủ trung gian truyền
bệnh và thời gian duy trì sức sống trong vật chủ cũng không lâu cho nên mùa
mắc bệnh TMT có liên quan chặt chẽ đến mùa côn trùng hoạt động.
Trong một năm thì vào mùa hè, bắt đầu từ tháng 5, cao điểm nhất là
tháng 6 đến tháng 9 trâu, bò sẽ bị ruồi, mòng hút máu truyền mầm bệnh. Tuy
vậy vào mùa này do thức ăn có sẵn, thể trạng lại tốt cho nên tỷ lệ phát bệnh
máu. Trong thời gian bệnh con vật gày đi rất nhiều, nếu không can thiệp kịp
thời gia súc có thể chết sau vài ngày (nguồn Trịnh Văn Thịnh, 1982) [26].
Triệu chứng mạn tính bệnh TMT
Triệu chứng của trâu, bò nhiễm T. evansi ở thể mạn tính thường không rõ
ràng, chúng có hiện tượng chung là gầy yếu và chỉ đến khi thời tiết rét, thức
ăn thiếu thốn cùng với công việc nặng nhọc làm sức đề kháng giảm bệnh mới
14
thể hiện triệu chứng lâm sàng rõ hơn. các triệu chứng điển hình: sốt cách nhật,
ỉa chảy, lông xù, da khô, mắt có nhử, hay chảy nước mắt, giác mạc mắt bị
viêm, vùng bụng và chân sau bị phù thũng, lông rất dễ bị dụng cầm tay nhổ
lông thấy lông dụng ra thành từng mảng, niêm mạc mắt nhợt nhạt thiếu máu,
càng về sau con vật càng kiệt sức dần, dễ bị kế phát các bệnh khác (nguồn
Trịnh Văn Thịnh (1982) [26] “Công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt
Nam”. Nhà xuất bản KH và KT Hà Nội).
Bệnh tích bệnh TMT
Con vật gầy còm, tổ chức dưới da có nước vàng tập trung nhiều ở ức và
cổ. Vùng hầu, cằm, bẹn có hiện tượng thuỷ thũng, trong xoang bụng có chứa
các ổ dịch màu vàng chanh. Niêm mạc ruột non, ruột già có nhiều điểm xuất
huyết. Ở trâu, bò dạ múi khế thỉnh thoảng có những điểm xuất huyết to bằng
đầu tăm. Bao tim có dịch màu vàng chanh, mặt ngoài tim có điểm xuất huyết
to bằng đầu kim, tập trung nhiều ở đỉnh tim. Màng phổi bị tràn dịch, phổi hơi
sưng, trên mặt có nhiều vùng xuất huyết to nhỏ không đều. Lá gan sưng có
màu đỏ nhạt hoặc màu đỏ sậm tuỳ theo giai đoạn phát triển của bệnh. Lá lách
hơi sưng, bở, nhũn, trên bề mặt có nhiều điểm tụ huyết to bằng đầu tăm hoặc
đầu kim. Thịt con vật nhão, ướt, có màu sắc nhợt nhạt (theo Trịnh Văn Thịnh
và Đỗ Dương Thái (1982) [25].
2.5. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN BỆNH TMT
Lấy máu chống đông cho vào ống Haematocrit, li tâm 12.000 vòng/phút
trong 5 phút. Lấy ống Haematocrit soi dưới kính hiển vi quang học 10×10
thấy TMT (nếu có) chuyển động ở phần tiếp giáp giữa huyết tương và hồng
cầu (do TMT nhẹ hơn hồng cầu và nặng hơn huyết tương).
So với phương pháp xem tươi thì phương pháp tập trung có hiệu quả hơn
nhiều. Và khi cần ứng dụng nhanh và đại trà với số lượng lớn thì đây sẽ là
phương pháp thích hợp. Cần chú ý phương pháp này là phải giữ cho máu ở
nhiệt độ lạnh và phân tích mẫu ngay sau khi lấy trong vòng 3- 4 giờ (theo
A.G. Luckin (1988), Parasitology Today, vol. 4, No.5, 1988 [29].
16
Phương pháp tách TMT (MAECT); Sachs, 1984; Lumsden, 1977
Máu của động vật nghi nhiễm TMT được chạy qua cột DEAE 52, rửa
bằng PSG pH = 8.0. Phần nước trong được thu vào ống hút Pasteur đã hàn kín
đầu đem li tâm lạnh ở tốc độ 2000v/phút trong 20 phút kiểm tra phần đáy ống
dưới kính hiển vi 10×10.
Phương pháp này có độ nhậy khá cao nhưng phức tạp hơn một số phương
pháp kí sinh trùng khác nên cũng không được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn
điều tra quy mô lớn (điều tra đại trà), (nguồn Lương Tố Thu (1990- 1991) [29].
Phương pháp tiêm truyền chuột bạch (MI)
Lấy 0.4 ml máu động vật nghi mắc bệnh TMT tiêm vào xoang phúc mạc
của chuột bạch. Theo dõi trong 1 tháng, 3 ngày kiểm tra 1 lần, TMT (nếu có)
sẽ nhân lên trong máu chuột. Lấy máu ở đuôi chuột kiểm tra dưới kính hiển vi
quang học ở độ phóng đại 10×40 sẽ thấy TMT.
Trong các phương pháp ký sinh trùng thì đây là phương pháp chuẩn có
độ nhậy cao nhất và thường được sử dụng để đánh giá các phương pháp chẩn đoán
khác. Tuy nhiên ở phương pháp này thời gian theo dõi chuột tương đối dài (30
ngày) nên gây khó khăn khi ta muốn chẩn đoán nhanh với số lượng mẫu lớn.
(1990- 1991) [23], Phương pháp ngưng kết trên bảng (CATT - Card
Agglutination Trypanosomiasis Test).
Phương pháp ngưng kết trực tiếp giữa kháng nguyên và kháng thể trên
bảng nhựa dùng để phát hiện kháng thể lưu động có trong máu động vật
nhiễm bệnh. Kháng nguyên dùng trong phản ứng này được nhuộm bằng
Commassie Blue sau đó đem đông khô. Phương pháp này đơn giản, nhanh,
chính xác, dễ sử dụng trong chẩn đoán đại trà. (nguồn Lương Tố Thu (19901991) [23], Phương pháp LATEX (Latex Agglutination Test).
Phương pháp ngưng kết gián tiếp dùng để phát hiện kháng thể lưu động
trong máu động vật nhiễm bệnh với nguyên lý: kháng nguyên bề mặt TMT
18
được gắn lên các hạt Latex (kháng nguyên hữu hình), có nhiều điểm quyết
định tính kháng nguyên bề mặt (Epitop Surface). Còn kháng thể đặc hiệu
kháng TMT lại có nhiều điểm thụ thể (Receptor) tương ứng và đặc hiệu với
các điểm quyết định kháng nguyên. Khi kháng nguyên, kháng thể gặp nhau sẽ
xẩy ra hiện tượng ngưng kết có thể quan sát bằng mắt thường (theo Lương Tố
Thu (1990 - 1991) [23], Phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFAT
- Immunofluorescent Antibody Test).
Phương pháp dùng kháng nguyên hoặc kháng thể kháng globulin đã
được nhuộm màu bằng thuốc nhuộm huỳnh quang cho kết hợp với kháng thể
hoặc kháng nguyên thì phức hợp kháng nguyên - kháng thể sẽ phát quang khi
soi dưới kính hiển vi huỳnh quang. Thuốc nhuộm huỳnh quang thường là
Fluorescent Isothyociante có màu xanh lục hoặc Romadium màu đỏ gạch.
Đây là phương pháp huyết thanh học đặc hiệu, chính xác, có độ nhậy
cao. Điểm yếu của phản ứng này là hoàn toàn phụ thuộc vào chủ quan như
cường độ ánh sáng và người đọc phản ứng để đánh giá độ dương tính (theo
Touratier, L., 1999 [48].
Phương pháp ELISA (Enzyme Link Immunosorbent Assay)