Dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi kinh nghiệm của một số nước và bài học cho việt nam tt - Pdf 35

VIỆN HÀM LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀO THỊ THU HẰNG

DỊCH VỤ BẢO HIỂM CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI
- KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC
VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 62.31.01.06

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

HÀ NỘI, 2016


Công trình được hoàn thành tại: Học viện KHXH
thuộc viện hàn lâm KHXH Việt Nam.

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS LÊ BỘ LĨNH
2. PGS.TS. NGUYỄN VIẾT THẢO

Phản biện 1: PGS.TS. Chu Đức Dũng
Phản biện 2: PGS.TS. Ngô Tuấn Nghĩa
Phản biện 3: PGS.TS Bùi Quang Tuấn

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng cấp nhà nước chấm
luận án tiến sĩ họp tại: Học viện khoa học xã hội, 477

Từ những vấn đề nêu trên, Luận án tiến sỹ kinh tế với chủ đề “Dịch vụ bảo
hiểm cây trồng, vật nuôi - kinh nghiệm của một số nước và bài học cho Việt
Nam” chính là nhằm giải quyết các vấn đề nêu trên.
2. Mục tiêu của nghiên cứu
Thông qua những nghiên cứu về chính sách, mô hình và các dịch vụ bảo
hiểm cây trồng, vật nuôi của một số nước, từ đó rút ra bài học nhằm thúc đẩy
việc hình thành và phát triển dịch vụ này cho Việt Nam.
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu như đã nêu trên, các vấn đề đặt ra sau
đây cần được giải quyết:
i) Tại sao cần phải phát triển dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi?
ii) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật
nuôi?
iii) Một số nước có sự thành công trong phát triển dịch vụ bảo hiểm cây
trồng, vật nuôi đã áp dụng chính sách và mô hình nào?

1


iv) Trên cơ sở kinh nghiệm của một số nước, Chính phủ và các doanh
nghiệp Việt Nam cần thực hiện các giải pháp gì để thúc đẩy sự phát triển dịch
vụ bảo hiểm, cây trồng vật nuôi?
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và cách tiếp cận của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu chính sách và những loại hình, xu hướng phát triển của dịch vụ
bảo hiểm cây trồng, vật nuôi ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Khái niệm bảo hiểm nông nghiệp có nội hàm rộng hơn so với khái niệm
dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi và bản thân bảo hiểm là một loại dịch vụ
đặc biệt. Trong khuôn khổ của luận án này, phạm vi nghiên cứu sẽ chỉ tập
trung vào phân tích các mô hình dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi là hai

ro, tổn thất.
- Tài liệu và số liệu sử dụng để phân tích là các tài liệu thứ cấp do tác giả
không có điều kiện điều tra, khảo sát tại các nước được nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
Chủ nghĩa Mác – Lênin.
+ Phương pháp phân tích thống kê.
+ Phương pháp so sánh.
+ Phương pháp kết hợp logic với lịch sử.
5. Những đóng góp mới của Luận án
Luận án có những đóng góp mới như sau:
- Luận án đã luận giải và chỉ rõ những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc
phát triển hoạt động bảo hiểm cây trồng vật nuôi. Cũng như chỉ ra các đặc
điểm, phương thức hoạt động của dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi.
- Luận án đã làm rõ vai trò của dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi đặt
trong bối cảnh hội nhập quốc tế và biến đổi khí hậu đã làm tăng.
- Luận án phân tích và đánh giá quá trình triển khai dịch vụ bảo hiểm cây
trồng, vật nuôi ở một số nước, chỉ ra những thành công, hạn chế của hoạt động
này và nguyên nhân của những hạn chế, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam
trong việc phát triển dịch vụ này.
- Luận án phân tích thực trạng triển khai dịch vụ bảo hiểm cây trồng và vật
nuôi của Việt Nam, đồng thời chỉ rõ những nguyên nhân chậm phát triển của
dịch vụ bảo hiểm cây trồng và vật nuôi tại Việt Nam. Từ đó, Luận án đề xuất
phương hướng và một số giải pháp nhằm tổ chức và phát triển dịch vụ này ở
Việt Nam.
6. Kết cấu của Luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục các Bảng, Biểu, Danh mục các
chữ viết tắt, và Danh mục Tài liệu tham khảo, Luận án được kết cấu thành 4
Chương như sau:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước.

bão và gió lốc sẽ gây ra những thiệt hại nặng nề cho người nông dân.
Myong Goo KANG, 2007, trong “Innovative agricultural insurance
products and schemes’’ cho rằng, người nông dân luôn phải đối mặt với các
nguy cơ khác nhau như biến động giá cả, thời tiết bất lợi, sâu bệnh, tác động
đến thu nhập và phúc lợi của họ và về lâu dài sẽ làm suy giảm đầu tư của họ
vào nông nghiệp.
1.1.2. Nhóm các nghiên cứu về cơ chế, chính sách của nhà nước đối với
bảo hiểm cây trồng, vật nuôi
World Bank Insurance for the Poor Program, June 2008: “Public
Intervention in Agricultural Insurance” (Sự can thiệp của Nhà nước vào bảo
hiểm nông nghiệp).
“Farm Income Insurance Scheme withdrawn”, trong The Hindu Business
Line, ngày 11/6/2004 và bài viết National Agricultural Insurance Scheme
4


(NAIS) của Rashtriya Krishi Bima Yojana (RKBY) chuyên bàn về
Agricultural insurance in India (Bảo hiểm nông nghiệp ở Ấn Độ) cho rằng
nông nghiệp Ấn Độ rất dễ tổn thương trước các rủi ro như hạn hán và lụt lội.
Nataliya Gerasyme (2008), “Crop insurance in Ukraine: Challenges and
perspectives” đã nghiên cứu hệ thống bảo hiểm nông nghiệp ở Ukraine, so
sánh nó với hệ thống bảo hiểm nông nghiệp của một số nước EU.
The World Bank, June 2007: “China: Innovation in Agricultural
Insurance” (Trung Quốc: Sự cải tiến trong bảo hiểm nông nghiệp). Trong
công trình này, các tác giả có bàn đến những đổi mới của chính phủ Trung
Quốc trong việc tạo điều kiện để phát triển và duy trì sự tồn tại của thị trường
bảo hiểm nông nghiệp [50].
Bên cạnh đó còn một số nghiên cứu khác như: nghiên cứu của Asia
Development Bank (2005) về phát triển bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam,
nghiên cứu của Skees (2005) về phản ứng sáng tạo của Chính phủ trong việc

Nhiều tác giả nước ngoài cũng đã có nghiên cứu kinh nghiệm triển khai
bảo hiểm nông nghiệp ở các nước đang phát triển, trong đó đáng lưu ý nghiên
cứu của Wenner (2005). Bài viết phân tích trên cơ sở lý luận và thực tiễn
để giải thích vì sao bảo hiểm nông nghiệp khó thực hiện một cách hiệu
quả; đồng thời phân tích tổng quan về thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở
một số nước Mỹ Latinh và Caribbean, so sánh với một số nước phát triển
và từ đó đưa ra những kinh nghiệm thúc đẩy và phát triển thị trường sản
phẩm bảo hiểm nông nghiệp.
1.2. Các nghiên cứu trong nước
1.2.1.Nhóm các nghiên cứu về vai trò và sự cần thiết của bảo hiểm cây
trồng, vật nuôi, một số vấn đề cụ thể của loại bảo hiểm này
- Tạp chí Cộng sản điện tử, số 15 năm 2010 có bài “Về bảo hiểm cây trồng,
vật nuôi cho nông dân”, cho rằng, bảo hiểm nông nghiệp là hết sức cần thiết ở
Việt Nam, bởi là một nước nông nghiệp, trên 70% số hộ gia đình sống bằng
nghề nông, sản xuất luôn bị tiềm ẩn nhiều nguy cơ do thiên tai, dịch bệnh.
- Thực trạng Bảo hiểm nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam, Đề tài
NCKH, Đại học KTTQD, 2013, cho rằng, về cơ bản bảo hiểm nông nghiệp
thực hiện những chức năng sau: Đem lại lợi ích cho xã hội. Nhờ bảo hiểm
nông nghiệp hỗ trợ làm giảm những rủi ro liên quan đến sản xuất mà thu nhập
của người nông dân được đảm bảo ổn định..
- Trần Vĩnh Đức “Phát triển thị trường bảo hiểm nước ta trong hội nhập
kinh tế quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 02-2007. Trong bài viết này,
tác giả chỉ ra những thời cơ và thách thức cùng một số giải pháp đặt ra cho
ngành bảo hiểm nước ta khi nền kinh tế Việt Nam mở cửa và hội nhập sâu vào
nền kinh tế thế giới và khu vực, sau khi chỉ ra những thành tựu và nhất là
những yếu kém của ngành bảo hiểm Việt Nam.
- Tài liệu tham khảo chính sách số 7 (30/10/2009) “Tầm nhìn chính sách
nông nghiệp”, do Viện Chính sách và Chiến lược Nông Nghiệp &PTNT thực
hiện. Công trình này cho rằng, trong điều kiện thị trường dịch vụ bảo hiểm
nông nghiệp Việt Nam đang rất khó phát triển, Chính phủ cần có những vai

thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam”, 2005, do PGS. TS. Nguyễn
Như Tiến chủ trì
Ngoài những công trình, bài báo khoa học được đề cập ở trên, hiện nay trên
một số báo và mạng internet cũng có khá nhiều bài viết về bảo hiểm nông
nghiệp ở Việt Nam và một số kinh nghiệm của các nước, tuy nhiên chưa có
công trình nào nghiên cứu sâu về cách thức triển khai bảo hiểm nông nghiệp ở
một số nước châu Âu và tác động của bảo hiểm nông nghiệp đến phát triển
kinh tế - xã hội của những nước này, mà chủ yếu nói về mô hình bảo hiểm của
các nước trên thế giới..
Qua nghiên cứu tổng quan chính sách và tình hình nghiên cứu trong và
ngoài nước về vấn đề liên quan đến dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp/ bảo hiểm
cây trồng, vật nuôi có thể rút ra một số các kết luận như sau:
7


Những nghiên cứu về vai trò và sự cần thiết phải có bảo hiểm cây trồng,
vật nuôi, tất cả các công trình nghiên cứu nước ngoài và trong nước đều khẳng
định nông nghiệp là lĩnh vực rủi ro khi phân tích và đề cập đến các khía cạnh
khác nhau về dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp/ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi ở
mỗi nước, phân tích khung pháp lý và các hoạt động thực thi, giám sát dịch vụ
này. Các nghiên cứu đã chỉ ra vai trò quan trọng của bảo hiểm nông nghiệp/
bảo hiểm cây trồng, vật nuôi trong phát triển kinh tế nông nghiệp và đưa ra
được các bức tranh toàn cảnh về các mô hình bảo hiểm nông nghiệp các nước.
Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, đến nay chưa có công trình nào có sự gắn
kết hoặc đề ra những gợi ý về mặt chính sách cho chính phủ Việt Nam trên
con đường xây dựng và phát triển bảo hiểm nông nghiệp của Việt Nam nói
chung và dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi nói riêng.
Nghiên cứu ở nước ngoài về bảo hiểm vật nuôi, cây trồng ở một số nước
cho thấy rất cụ thể từng chính sách của chính phủ dành cho công tác này.
Nhưng ở Việt Nam, những nghiên cứu điển hình về lĩnh vực này đang thiếu

hiểm do một rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm
đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí
bảo hiểm”.
2.1.1.2. Bảo hiểm cây trồng, vật nuôi
- Dịch vụ bảo hiểm cây trồng: là loại dịch vụ bảo hiểm đối với các loại cây
trồng như: cây trồng hàng năm (bảo hiểm theo sản lượng thu hoạch hàng năm,
với thời gian bảo hiểm tính từ lúc gieo trồng đến khi thu hoạch xong sản
phẩm); cây trồng lâu năm (bảo hiểm giá trị các loại cây đó hoặc sản lượng
từng năm của mỗi loại cây, với thời gian bảo hiểm có thể kéo dài một năm
nhưng sau đó được tái bảo hiểm qua các năm); và bảo hiểm vườn ươm (bảo
hiểm giá trị cây trồng trong suốt thời gian ươm giống đến khi chuyển đi trồng
nơi khác).
- Dịch vụ bảo hiểm vật nuôi: là loại bảo hiểm đối với các loài vật nuôi như
ngựa, bò, lợn, cừu, dê, chó và một số động vật hoang dã khác. Loại bảo hiểm
này chiếm một phần tương đối nhỏ của thị trường bảo hiểm thế giới..
2.1.2. Sự cần thiết của việc phát triển dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi
2.1.2.1. Triển khai dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuối để đối phó với
những rủi ro trong sản xuất
Trước nguy cơ về rủi ro thiên tai và rủi ro dịch bệnh trong trồng trọt và
chăn nuôi, dịch vụ bảo hiểm cần phải được triển khai:
a) Rủi ro thiên tai: Các loại thiên tai gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông
nghiệp cần được triển khai bảo hiểm như: rủi ro do bão, lụt, nắng nóng, khô
hạn kéo dài, sương muối, rét đậm rét hại.
b) Rủi ro dịch bệnh: Các loại dịch bệnh gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông
nghiệp cần được triển khai bảo hiểm là các dịch bệnh trong chăn nuôi gia súc,
gia cầm và thủy sản và cây trồng..
2.1.2.2. Triển khai dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi trước thực trạng
của biến đổi khí hậu

9

Thứ ba, dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi có vai trò bổ sung cho các
chương trình bảo đảm xã hội do Nhà nước thực hiện, nhờ đó làm giảm gánh
nặng ngân sách nhà nước và nâng cao hiệu quả phân bổ các nguồn lực xã hội.
Thứ tư, dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi có tác dụng thúc đẩy các hoạt
động thương mại, sản xuất kinh doanh vì người sản xuất nông nghiệp có thể
yên tâm rằng đứng sau họ đã có sự bảo vệ về tài chính của các Công ty bảo
hiểm thông qua việc họ tham gia vào dịch vụ này.
Thứ năm, dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi tạo ra kênh huy động vốn
tiết kiệm quan trọng cho đầu tư phát triển, thúc đẩy thị trường vốn phát triển.
10


Thư sáu, dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi là công cụ hữu hiệu để quản
lý rủi ro có hiệu quả thông qua việc định giá, chuyển giao rủi ro, đóng góp quỹ
chi trả cho các tổn thất và giảm bớt thiệt hại;
2.2.2. Đặc điểm của dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi
Dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi có những đặc điểm khác biệt với các
dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác:
- Đối tượng sản xuất nông nghiệp là các loại sinh vật (cây trồng, vật nuôi)
được bố trí sản xuất trên địa bàn rộng lớn và đa dạng sản phẩm nên rất khó
quản lý rủi ro, đặc biệt là rủi ro thiên tai.
- Nông nghiệp là ngành đa rủi ro, đôi khi có những rủi ro như thiên tai
nghiêm trọng, dịch bệnh xẩy ra trên diện rộng.
- Chủ thể sản xuất nông nghiệp tuy khá đa dạng nhưng phổ biến vẫn là các
hộ nông dân với qui mô sản xuất nhỏ, sản xuất đa canh, tiềm lực đầu tư có hạn
nên khó có thể tham gia tất cả các loại cây trồng, vật nuôi mà họ sản xuất.
- Khó kiểm soát được tình trạng trục lợi bảo hiểm do hoạt động sản xuất
trồng trọt và chăn nuôi được bố trí trên địa bàn rộng lớn.
2.2.3. Phân loại dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi
2.2.3.1. Căn cứ vào tính chất của bảo hiểm

hoặc thúc đẩy phát triển dịch vụ bảo hiểm cây trồng và vật nuôi.
2.3.3. Nhận thức, khả năng tài chính và quy mô sản xuất của người sản
xuất nông nghiệp
Chỉ khi nào người nông dân nhận thức được sự cần thiết của việc bảo hiểm
cây trồng, vật nuôi chính là sự giảm thiểu những thiệt hại cho họ khi gặp phải
những rủi ro lớn, giúp họ sớm vực dậy, tái sản xuất thì họ mới mặn mà với
việc tham gia bảo hiểm..
2.3.4. Mục tiêu, chiến lược của các doanh nghiệp bảo hiểm
Các doanh nghiệp bảo hiểm là những nhà kinh doanh hoạt động vì lợi
nhuận. để có lợi nhuận, họ phải quản lý được rủi ro, nhưng đối với lĩnh vực
nông nghiệp điều này rất khó vì cây trồng, vật nuôi ngoài việc bị tác động bởi
thời tiết, kết quả đạt được còn phụ thuộc nhiều vào cách thức, quy trình nuôi
trồng của người nông dân.
2.4. Cơ chế chính sách và mô hình dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi
2.4.1. Cơ chế chính sách
Ở Việt Nam, chính sách về bảo hiểm nông nghiệp nói chung, bảo hiểm cây
trồng, vật nuôi nói riêng được hiểu là một hệ thống các chủ trương của một
quốc gia bao gồm Luật và các văn bản dưới Luật cũng như hệ thống nghị
định, quyết định, thông tư,… được ban hành từ các cơ quan lập pháp và hành
pháp nhằm phát triển dịch vụ này. Tuy nhiên, thị trường bảo hiểm nông
nghiệp nông nghiệp nói chung, bảo hiểm cây trồng, vật nuôi nói riêng là vấn
đề còn mới mẻ và non yếu nên rất cần có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ
từ phía Nhà nước để địch vụ này được phát triển ổn định.
2.4.2. Các mô hình dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi
(1) Mô hình Nhà nước can thiệp hoàn toàn
Theo mô hình này, Nhà nước thiết lập một công ty bảo hiểm nông nghiệp
độc quyền trực tiếp kinh doanh bảo hiểm, cung cấp trợ cấp lớn đối với bảo
hiểm cây trồng và chăn nuôi, hoặc đóng vai trò nhà tái bảo hiểm.
12


nhượng tái cho các công ty bảo hiểm tư nhân khác trên thị trường.
3.1.1.2. Về mô hình triển khai
Ở Mỹ hiện vẫn chủ yếu duy trì hệ thống bảo hiểm tư nhân kết hợp với các
khoản trợ cấp và các chương trình tái bảo hiểm công (đây là dạng mô hình bảo
hiểm kết hợp giữa nhà nước và tư nhân.
3.1.1.3. Về các hình thức bảo hiểm
a) Chương trình Bảo hiểm mùa màng đa rủi ro
Chương trình Bảo hiểm mùa màng đa rủi ro (Multi-Peril Crop Insurance –
MPCI ) là chương trình kết hợp giữa bảo hiểm mùa màng với chương trình trợ
cấp thiên tai:
• Dịch vụ bảo hiểm rủi ro thảm họa
• Dịch vụ bảo hiểm toàn phần
• Dịch vụ bảo hiểm rủi ro nhóm
b) Dịch vụ bảo hiểm doanh thu
Dịch vụ bảo hiểm doanh thu dựa trên hai yếu tố cơ bản là sản lượng thu
hoạch và giá bán sản phẩm. Nếu doanh thu thực tế thấp hơn doanh thu được
bảo hiểm, nông dân sẽ được bồi thường.
3.1.2. Dịch vụ bảo hiểm cây trồng và vật nuôi của Nhật Bản
3.1.2.1. Về cơ chế, chính sách
Hiện nay, chính sách Bảo hiểm nông nghiệp Nhật Bản được xem như là
trọng tâm của các biện pháp hỗ trợ của Chính phủ cho các thiệt hại của hàng
nông sản do thiên tai gây ra.
14


3.1.1.2. Về mô hình triển khai
Dịch vụ BHNN ở Nhật Bản được xây dựng trên cơ sở hoạt động mang tính
tập thể của nông dân ở địa phương để thiết lập các quỹ dự phòng chung bằng
việc tích luỹ tiền đóng bảo hiểm. Hệ thống dịch vụ bảo hiểm này được cấu
trúc 3 cấp: cấp nhà nước, cấp quận và cấp làng xã. Cơ sở cho cấu trúc này là:


15


3.1.4. Dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi ở Philippines
3.1.4.1. Về cơ chế, chính sách
Chính sách bảo hiểm chính của PCIC là bảo hiểm cây trồng đa nguy hiểm
lúa và ngô; hai loại sản phẩm này tương ứng chiếm khoảng 75% và 16% tổng
thu phí bảo hiểm của PCIC. Dịch vụ bao gồm cả những thiệt hại do thiên tai
và sâu bệnh.
3.1.4.2. Về mô hình triển khai
Dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi ở Philippines là một cơ chế quản lý
rủi ro được thiết kế để xoa dịu các rủi ro trong nông nghiệp và làm giảm các
hậu quả của các thảm họa thiên nhiên gây ra tổn thất, đặc biệt cho những hộ
nông dân dễ bị tổn thương nhất có khả năng chống chịu tốt hơn Dịch vụ bảo
hiểm này được thực hiện bởi Tập đoàn Bảo hiểm Nông nghiệp (PCIC, hoạt
động như một công ty kinh doanh và không nhận ngân sách từ chính phủ cho
các hoạt động hành chính của nó. Trước năm 2009, tập đoàn PCIC là các công
ty nhà nước về bảo hiểm cây trồng.
3.1.4.3. Về các hình thức bảo hiểm
Dịch vụ bảo hiểm cây trồng ở Philippines chủ yếu được triển khai trên cây
lúa, cây ngô và các cây trồng thương mại có giá trị cao như cà chua, khoai tây,
tỏi. Các cây lấy củ khác cũng là đối tượng được tham gia dịch vụ bảo hiểm
hạn chế.
3.1.5. Dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi ở Trung Quốc
3.1.5.1. Về cơ chế, chính sách
Cùng với các chính sách tạo điều kiện cho thị trường bảo hiểm nông
nghiệp phát triển thì Nhà nước và chính quyền cấp tỉnh ở Trung Quốc đã trợ
cấp tiền mua bảo hiểm nông nghiệp cho các hộ nông dân ở Trung Quốc và coi
đó như một biện pháp khuyến khích để nông dân yên tâm đầu tư mua sắm các

lý cho bảo hiểm nông nghiệp của nước mình..
3.2.1.2. Về mô hình triển khai
Các nước đang áp dụng nhiều mô hình dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác
nhau, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường của mỗi
nước.
3.2.1.3. Các hình thức bảo hiểm
Dịch vụ bảo hiểm được triển khai theo hai hình thức: Dịch vụ bảo hiểm
truyền thống, phi truyền thống.
3.2.2. Một số bài học kinh nghiệm từ nghiên cứu mô hình dịch vụ bảo hiểm
cây trồng, vật nuôi ở một số nước
Từ việc nghiên cứu hệ thống bảo hiểm nông nghiệp ở các nước trên thế
giới, một số bài học có thể được rút ra và vận dụng vào phát triển dịch vụ bảo
hiểm cây trồng, vật nuôi cho Việt nam như sau:
Thứ nhất, các nước đã thành công trong việc triển khai dịch vụ bảo hiểm
cây trồng, vật nuôi.
Thứ hai, việc tiếp cận và thiết kế hệ thống dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật
nuôi nên được triển khai từng bước một và hết sức thận trọng.
Thứ ba, sự thành công hay thất bại của hệ thống bảo hiểm ở các nước còn
chủ yếu bởi sự thiết kế cẩn thận và sự sửa đổi năng động hệ thống này phù
hợp với các điều kiện đang thay đổi của mỗi nước.

17


CHƯƠNG 4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO
HIỂM CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI Ở VIỆT NAM
4.1. Thực trạng triển khai dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi ở Việt
Nam trong thời gian qua
4.1.1. Sự cần thiết của bảo hiểm cây trồng, vật nuôi tại Việt Nam
Việt Nam là quốc gia sản xuất nông nghiệp, 60-70% dân số sống ở nông



4) Thông tư số 86/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính về Sửa đổi, bổ sung một
số điểm của Thông tư số 155/2007/TT-BTC ngày 20/12/2007 của Bộ Tài
chính và Thông tư 156/2007/TT-BTC ngày 20/12/2007 của Bộ Tài chính..
5) Thông tư số 03/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện
Nghị định số 41/2009/NĐ-CP ngày 05/05/2009 của Chính phủ quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm..
6) Thông tư 121/2011/TT-BTC ngày 17/8/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn
một số điều của quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng
Chính phủ về thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013.
Thông tư gồm 4 chương, 29 điều và 40 phụ lục, có hiệu lực thi hành từ ngày
01/10/2011.
Ngày 16-12-2011. Bộ Tài chính ban hành quy tắc, biểu phí và mức trách
nhiệm bảo hiểm nông nghiệp kèm theo Quyết định 3035/ỌĐ-BTC.
Ngày 23-8-2012, Bộ NN&PTNT đã ban hành Thông tư 43/TT-BNNPTNT
sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 47/2011/TT-BNNPTNT và ngày
24-8-2012, Bộ Tài chính ban hành quyết định 2114/ỌĐ-BTC sửa đổi, bổ sung
một số điều của Quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm nông nghiệp
ban hành kèm theo Quyết định 3035/2011/QĐ-BTC theo hướng mở rộng
phạm vi được bảo hiểm, giảm phí đóng.
Ngày 27-02-2013, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 358/ỌĐ-TTg về
việc sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Quyết định 315/2011/ỌĐ-TTg.
4.1.2.2. Về mô hình và phương thức triển khai bảo hiểm cây trồng, vật
nuôi của Việt Nam
Trong số các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam, có 2 doanh
nghiệp (Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt và Groupama) đã triển khai bảo hiểm
nông nghiệp và 2 doanh nghiệp ở dạng tiềm năng (Bảo Minh và Công ty bảo
hiểm ngân hàng nông nghiệp). Như vậy, thị trường bảo hiểm nông nghiệp tại
Việt Nam có cả doanh nghiệp nhà nước lẫn công ty TNHH.

gia.
 Rủi ro thiên tai, dịch bệnh trong bảo hiểm nông nghiệp diễn ra bất
thường, một số nơi xảy ra tổn thất lớn, trên diện rộng (đặc biệt tổn thất đối với
thủy sản trong cuối tháng 12 năm 2012.
 Nhiều hộ dân, tổ chức sản xuất nông nghiệp vẫn tham gia mang tính chất
thăm dò (tham gia ít hoặc không tham gia) hoặc lựa chọn các đối tượng được
bảo hiểm có rủi ro cao để tham gia..
 Đội ngũ cán bộ làm bảo hiểm nông nghiệp còn quá thiếu về khối lượng
vừa thiếu về kinh nghiệm chuyên ngành, nhất là việc đánh giá rủi ro trong
nông nghiệp.
 Nông dân chưa nhận thức được ý nghĩa của việc tham gia bảo hiểm trong
việc phát triển bền vững kinh tế hộ thông qua việc tuân thủ các qui trình sản
xuất mà mới chỉ quan tâm đến những lợi ích trước mắt..
4.1.3.3. Những tồn tại và nguyên nhân
Không chỉ ở Việt Nam bảo hiểm cây trồng, vật nuôi khó phát triển mà trên
thế giới, lĩnh vực này cũng thường chiếm tỷ trọng nhỏ trên thị trường bảo
hiểm. Sở dĩ như vậy, trước hết là do tính chất phức tạp của nó.
Trước hết, về phía doanh nghiệp bảo hiểm: Sản phẩm bảo hiểm chưa phù
hợp.
20


Thứ hai, về phía người nông dân. Nguyên nhân chính của người nông dân,
đó là: Người dân chưa có thói quen tham gia bảo hiểm, thu nhập của nông dân
còn thấp..
Thứ ba, về phía Nhà nước. Khó khăn trong việc phát triển bảo hiểm cây
trồng, vật nuôi còn do phía Nhà nước chưa có một khung pháp lý rõ ràng về
vấn đề này.
4.2. Một số giải pháp đẩy mạnh dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi tại
Việt Nam



Về lâu dài Nhà nước cần có quy định bảo hiểm bắt buộc đối với một số sản
phẩm chiến lược, sản phẩm có tính nhạy cảm và trước hết cần tổ chức triển
khai thí điểm dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp/ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi một
cách bài bản, kỹ lưỡng để tổng kết và nhân rộng.
4.2.2. Nhóm giải pháp về phía doanh nghiệp
Rõ ràng không thể ép các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước tham gia thị
trường để cứu nông dân. Nhưng đây không hoàn toàn chỉ Nhà nước phải chịu
trách nhiệm, các doanh nghiệp phải tự nhận thức được mình cần có trách
nhiệm gánh vác một phần vai trò đặc biệt này. Việc Groupama (một doanh
nghiệp cung cấp BHNN 100% vốn của Pháp) làm ăn không thành công nên
được coi là bài học kinh nghiệm để đầu tư và mở rộng thị phần chứ không nên
xem đó là một thất bại để các doanh nghiệp tránh con đường đó.
4.2.3. Nhóm giải pháp đối với người tham gia bảo hiểm
Trước hết cần nâng cao nhận thức của người nông dân để họ thấy được sự
cần thiết của việc bảo hiểm cây trồng, vật nuôi chính là sự giảm thiểu những
thiệt hại cho họ khi gặp phải những rủi ro lớn, giúp họ sớm vực dậy, tái sản
xuất. Tuy nhiên, không chỉ nâng cao nhận thức mà khi tham gia bảo hiểm
chính người nông dân cũng phải chịu một phần chi phí đóng góp mới tạo động
lực và ý thức tham gia bảo hiểm một cách hiệu quả.
4.2.4. Nhóm các giải pháp liên quan đến sự phối hợp của Nhà nước, doanh
nghiệp bảo hiểm và người nông dân
Để phát triển một cách bền vững dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp nói chung
và dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi nói riêng, cả 3 nhà cần nhìn lại mình.
Có 3 vấn đề phải bàn tới: Thứ nhất, cách thức quản lý của chúng ta theo lối
ngắn hạn, thiếu cơ chế về lâu dài. Thứ hai, các doanh nghiệp còn thiếu, yếu về
lực xuất phát. Thứ ba, nông dân còn bị động. Do vậy, Nhà nước cần thay đổi
chính sách quản lý, có thêm thời gian tích lũy; doanh nghiệp phải chủ động
tìm kiếm thị trường; bản thân người dân phải tự làm chủ tài sản và cuộc sống


Chuỗi tiêu thụ xuất khẩu
Thương
lái/Thu gom

Doanh nghiệp
xuất khẩu

Cơ sở/doanh
nghiệp chế
biến

Trang trại
chăn nuôi

Xuất khẩu

Trong ngành sản xuất trồng trọt: Chuỗi cung ứng sản phẩm ngành trồng
trọt (từ đồng ruộng đến bàn ăn) gồm có 4 tác nhân chính đó là người nông
dân/trang trại sản xuất thương lái/hộ thu gom cơ sở/ doanh nghiệp chế
biến  Tiêu thụ/xuất khẩu.
Chuỗi tiêu thụ
Thương
lái/Hộ thu
gom

Người nông
dân/trang
trại sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status