1
LỜI NÓI ĐẦU
Từ ngày thành lập nước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định về
sự nghiệp Giáo dục trong nhiều văn kiện: “Giáo dục là Quốc sách hàng đầu”.
Trong 05 năm trở lại đây, Chính phủ và Lãnh đạo ngành Giáo dục cũng
xác định mục tiêu phát triển sự nghiệp giáo dục với chủ đề: “Tiếp tục đổi mới
quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”; “Nói không với tiêu cực trong thi
cử và bệnh thành tích”.
Là một Giáo viên mới vào nghề, chấp hành sự phân công của Phòng Giáo
dục và Đào tạo Huyện Ea H’Leo, sự tiếp nhận của Ban Giám hiệu Trường
Trung học cơ sở (THCS) Lê Quý Đôn, thị trấn Ea Drăng, huyện Ea H’Leo, tỉnh
Đắk Lắk, tôi nhận công tác giảng dạy tại trường từ tháng 11 năm 2007 cho đến
nay.
Được sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban Giám hiệu Trường
THCS Lê Quý Đôn và các bạn đồng nghiệp đã giúp tôi yên tâm công tác và thực
hiện tốt trách nhiệm của mình.
Để hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này ngoài sự giúp đỡ của Ban Giám
hiệu Nhà trường, một phần không nhỏ là sự giúp đỡ của tập thể giáo viên và
học sinh Trường THCS Lê Quý Đôn trong 02 năm học qua.
Trong sáng kiến kinh nghiệm này, do phạm vi nghiên cứu và thời gian còn
hạn hẹp, nên không tránh khỏi một số điểm còn hạn chế. Vì vậy, tôi rất mong
nhận được sự cổ vũ, động viên cùng những lời góp ý chân thành từ các cấp lãnh
đạo cũng như các bạn đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm này ngày một
hoàn thiện và sử dụng rộng rãi hơn, góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy
và học trong trường. Xin chân thành cảm ơn!
Chủ đề tài: Lê Phương Tài
2
PHẦN A: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Bên cạnh đó, Luật Giáo dục quy định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông
là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các
kỹ năng cơ bản, nhằm hình thành nhân cách con người Việt nam xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách và phát huy trách nhiệm công dân, lao động , tham gia
xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Giáo dục Trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển kết
quả của bậc giáo dục tiểu học.
2. Cơ sở tâm lý
- Học sinh THCS, là trẻ em đang ở độ tuổi từ 11 – 14, có một số đặc điểm
tâm sinh lý mà người giáo viên cần nắm được.
- Lứa tuổi học sinh THCS đã có những điều kiện thuận lợi cho sự hình
thành khả năng tự điều chỉnh trong hoạt động học tập, tính tích cực chung của
3
tuổi trẻ, sự sẵn sàng tham gia vào các hoạt động khác nhau, nguyện vọng muốn
có các hình thức học tập mang tính chất người lớn.
3. Cơ sở thực tiễn
Là một giáo viên dạy bộ môn Tin học - bộ môn mới mẽ ở trường THCS
nhưng có vai trò to lớn nếu học sinh năm bắt và hiểu hết ý nghĩa, giá trị của bộ
môn, nên tôi luôn luôn tâm nguyện đem hết năng lực, kiến thức đã được học để
truyền thụ cho các em học sinh; là Tổ trưởng chuyên môn Tổ Tin, Thể dục, tôi
thường đi dự giờ, thăm lớp và nắm bắt kịp thời chất lượng giảng dạy của các
thành viên trong tổ.
Trường Trung học cơ sở Lê Quý Đôn, nơi tôi đang công tác là một trường
nằm ở trung tâm huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk, điều kiện kinh tế tuy còn khó
khăn nhưng mức sống bình quân của nhân dân vẫn cao hơn một số đơn vị hành
chính trong huyện, trong quá trình giảng dạy nói chung và môn Tin học, Thể
dục nói riêng nhà trường còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Ban Giám hiệu nhà
trường luôn tạo mọi điều kiện để mua sắm, đầu tư trang thiết bị kịp thời, đầy đủ
- Tìm hiểu các tài liệu liên quan;
- Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo của các cấp, ngành có liên quan;
- Tọa đàm, trao đổi với các thành viên trong Tổ;
- Dự giờ, thăm lớp;
- Trò chuyện tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của học sinh để giúp đỡ, động
viên kịp thời;
- Khảo sát thực trạng, tiến hành thực nghiệm qua tiết dạy thực tế, qua các
buổi dự giờ, thăm lớp có đối chứng kết quả trước và sau khi thực hiện sáng kiến;
- Tổng kết rút kinh nghiệm.
III. ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
1. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ đầu học kỳ II năm học 2009 – 2010 đến hết
học kỳ I năm học 2010 – 2011.
- Đối tượng nghiên cứu: 100 học sinh khối lớp 7 năm học 2009 – 2010;
Trong đó 50 học sinh nam, 50 học sinh nữ, có 10 học sinh là con em các dân tộc
thiểu số (DTTS) của học sinh các lớp 7A1 (43 học sinh: 23 nam; 20 nữ; 5 học
sinh DTTS), lớp 7A2 (42 học sinh: 23 nam; 19 nữ; 3 học sinh DTTS) và 15 học
sinh lớp 7A3 (trong đó có 4 nam; 11 nữ; 2 học sinh DTTS.
Lớp
Tổng học sinh
Nam
Nữ
DTTS
7A1
100
50
50
10
- Địa điểm nghiên cứu: Trường THCS Lê Quý Đôn, huyện Ea H’Leo,
tỉnh Đắk Lắk.
2. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu và áp dụng
- Tình trạng học sinh bỏ tiết giảm hẳn;
- Học sinh đi học đúng giờ, mặc đồng phục đúng quy định;
- Giờ dạy trên lớp ổn định, không mất trật tự, nhốn nháo, giáo viên dễ
dàng quản lý và giảng dạy học sinh;
- Chất lượng giáo dục hai mặt được tăng lên rõ rệt;
5
PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN
Trường THCS Lê Quý Đôn nằm ngay trung tâm huyện Ea H’Leo, trên
đường Nguyễn Văn Cừ, thuộc tổ dân phố 7, thị trấn Ea Drăng, là trung tâm kinh
tế- chính trị- xã hội của huyện Ea H’Leo. Đến nay, dân số thị trấn Ea Drăng có
18.622 khẩu/ 4.161 hộ, bao gồm 14 dân tộc anh em sinh sống ở 13 tổ dân phố và
03 buôn (theo số liệu báo cáo của Công an Thị trấn). Nhìn chung, trình độ dân
trí tương đối cao nên đời sống tinh thần và vật chất cao hơn các địa bàn khác
trong huyện.
Năm học 2009 – 2010, nhà trường có 20 lớp với 10 phòng học và các
phòng chức năng như: Phòng máy tính, phòng nghe, phòng thí nghiệm thực
6
- Có sự chênh lệch lớn giữa học sinh nam và nữ;
- Chất lượng 02 môn học trái buổi của các em học sinh DTTS cũng không
đồng đều (thấp hơn) so với các học sinh khác.
BẢNG THỐNG KÊ HỌC KỲ I NĂM HỌC 2009 – 2010
Về đạo đức:
Môn
Bỏ tiết
Đi trễ, vi phạm nội quy
Nam
Nữ
DTTS
Nam
Nữ
DTTS
Thể dục
10
5
33
17
7
Nam
Nữ
DTTS
Về học lực:
Môn tính Tin học
theo %
Nam
Nữ
Thể dục
DTTS
Giỏi
10%
15% 10%
12%
16% 10%
Qua nhiều trăn trở, suy nghĩ, tôi nhận thấy rằng, việc làm cho các em học
sinh, học trái buổi thực hiện nội quy, ý thức, học tập tốt như chính khóa phải bắt
nguồn từ rất nhiều yếu tố: Đó là sự giám sát chặt chẽ của Ban Giám hiệu nhà
trường; sự phối kết hợp nhuần nhuyễn của Đội Thiếu niên tiền phong, Giáo viên
Chủ nhiệm, gia đình... Trong đó, có sự tận tâm, nhiệt tình của chính Giáo viên
dạy trực tiếp bộ môn đó là vấn đề quan trọng. Từ đó, tôi luôn thực hiện các công
việc sau đây:
- Điểm danh học sinh trước khi dạy bài mới;
- Kiểm tra xem trước đó có học sinh nào nghỉ môn Thể dục không;
- Giấy xin phép phải lưu giữ và xác minh chữ ký của phụ huynh có đúng
không;
- Thường xuyên giáo dục học sinh ý thức giữ gìn, bảo vệ tài sản chung;
- Giao cho Lớp trưởng quản lý lớp học, chia ra thành từng nhóm và có một
(01) trưởng nhóm để tiện việc theo dõi, quản lý;
- Bắt buộc học sinh đi học đầy đủ, nếu vắng học sẽ không được tổng kết
bộ môn;
7
Ngoài ra, tôi còn lấy ý kiến của 100 học sinh về việc có nên học trái buổi
hay không, kết quả thu được như sau:
PHIẾU TRẮC NGHIỆM:(Học sinh chỉ đánh 01 dấu X vào ô bên cạnh)
Câu hỏi: Học sinh có đạt hiệu quả khi học trái buổi và có hứng thú học không?
A
Hứng thú và đạt hiệu quả
B
Đạt hiệu quả nhưng không hứng thú
Không đạt hiệu quả và không có hứng thú
15%
Qua việc lấy ý kiến đó tôi càng cố gắng gần gũi học sinh, mỗi giờ dạy
luôn hòa đồng, tạo niềm vui, không khí cởi mở, thân thiện trong học tập đối với
các em. Sau 01 học kỳ, tình hình chung có nhiều học sinh đã học tốt hơn trước,
với kết quả sau:
BẢNG THỐNG KÊ HỌC KỲ II NĂM HỌC 2009 – 2010
Về đạo đức:
Môn
Bỏ tiết
Đi trễ, vi phạm nội quy
Nam
Nữ
DTTS
Nam
Nữ
DTTS
Thể dục
7
5
22
12
6
Về học lực:
Môn
(tính
theo %)
Tin học
Nam
Nữ
Giỏi
12%
Khá
TB
DTTS
12% 20%
12%
9%
10%
8
Với niềm đam mê nghề nghiệp, nhiệt huyết cháy bỏng của người giáo
viên trẻ tuổi. Tôi vẫn cảm thấy chất lượng như trên chưa thật cao, bộ môn chưa
đạt chất lượng theo quy định của Phòng giáo dục và đào tạo, của Ban Giám hiệu
nhà trường đề ra. Học sinh vi phạm nội quy vẫn còn nhiều, có một số vi phạm
mới nãy sinh, nhưng Nhóm trưởng không dám báo cáo lại với giáo viên. Ngoài
ra, sự phối kết hợp của các thành viên trong Tổ chuyên môn chưa cao. Bên cạnh
đó, đạo đức học sinh ở trong trường có phần bị xuống cấp, suy thoái... Có một
trường hợp học sinh (trong số 100 học sinh tôi nghiên cứu) đã bỏ học vì vi phạm
nội quy, từ đó không dám đến lớp, dù đó là một học sinh ngoan, học lực trung
bình – khá.
Năm học 2010 – 2011, tôi xin phép Ban Giám hiệu nhà trường cho tôi
tiếp tục dạy khối 7 năm học trước (nay các em đã học lớp 8), lúc này số lượng
học sinh tôi nghiên cứu chỉ còn lại 99 em (vì 01 em đã nghỉ học ở lớp 8A2).
Tôi tiếp tục thực hiện những kinh nghiệm mà bản thân đã áp dụng năm
học trước, bỏ một số biện pháp mà tôi đã nghiên cứu, áp dụng chưa tốt ở năm
học 2009 - 2010; đồng thời, bổ sung thêm một số biện pháp mới, cụ thể:
- Đề nghị sự tăng cường giám sát chặt chẽ của Ban Giám hiệu nhà trường
để có ý kiến chỉ đạo kịp thời;
- Phối, kết hợp chặt chẽ với các Tổ trưởng chuyên môn khác để học tập
BẢNG THỐNG KÊ HỌC KỲ I NĂM HỌC 2010 – 2011
Về đạo đức:
Môn
Bỏ tiết
Đi trễ, vi phạm nội quy
Nam
Nữ
DTTS
Nam
Nữ
DTTS
Thể dục
2
2
1
7
4
Về học lực:
Môn
(tính
theo %)
Nam
Nữ
Giỏi
15%
Khá
TB
Dưới TB
Tin học
DTTS
Thể dục
Nam
Nữ
19% 20%
15%
Đạo đức, ý thức, nền nếp, chất lượng dạy và học đã tăng lên một cách rõ
rệt, chất lượng bộ môn đạt yêu cầu do Ban Giám hiệu nhà trường đề ra.
10
PHẦN C: KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
I. Ý KIẾN ĐỀ XUẤT
Từ những kinh nghiệm giảng dạy thực tế và kết quả thu được trong một
năm qua, tôi thấy rằng để tăng hiệu quả quản lý học sinh, nâng cao chất lượng
giáo dục học sinh học trái buổi cần phải:
1. Phải tích cực xây dựng đội ngũ nhà giáo thực sự có tinh thần yêu
nghề, tận tụy với công việc: Chính lòng yêu nghề, yêu công việc sẽ giúp đội
ngũ giáo viên mà đặc biệt là giáo viên Chủ nhiệm quan tâm nhiều hơn cho công
tác của mình trong đó có công tác quản lý học sinh.
2. Giáo viên Chủ nhiệm cần quan tâm thường xuyên đến các hoạt
động của lớp mình: Một giáo viên Chủ nhiệm tốt không chỉ giúp lớp mình học
tốt mà còn biết cách để giúp các em học sinh siêng năng học tập, đi học đều đặn
hơn, đạo đức, ý thức học tập tốt hơn.
3. Sự phối hợp giữa giáo viên Chủ nhiệm và giáo viên bộ môn trong
công tác giảng dạy và quản lý học sinh: Công tác phối hợp giữa giáo viên bộ
môn và giáo viên Chủ nhiệm là một việc hết sức quan trọng trong công tác chủ
nhiệm. Học sinh có thể thích học môn này, không thích môn kia vì những lý do
khác nhau, nên giáo viên Chủ nhiệm cần tìm hiểu cặn kẽ các nguyên nhân để từ
đó cùng với giáo viên bộ môn đề ra các biện pháp thích hợp nhằm giúp các em
có thể có kết quả học tập tốt hơn từ đó các em sẽ hứng thú học tập và nâng cao
chất lượng giáo dục.
4. Phối hợp với Ban giám hiệu nhà trường, các Tổ chuyên môn và các
Đoàn thể trong nhà trường: Công tác quản lý là một công tác khoa học (khoa
học quản lý), đòi hỏi phải phối, kết hợp giữa các tổ chức, lực lượng khác nhau
- Thường xuyên nhắc nhở các thành viên trong tổ, giám sát chặt chẽ học
sinh, đặc biệt là những học sinh hay vi phạm nội quy, học lực yếu;
- Tổng hợp ý kiến của các thành viên trong mỗi lần họp tổ để nắm bắt kịp
thời những học sinh có dấu hiệu thay đổi về tính tình bất thường...;
- Giao lưu với các trường bạn nhằm học hỏi thêm kinh nghiệm.
II. KIẾN NGHỊ
- Ban Giám hiệu nhà trường giám sát chặt chẽ hơn nữa trong các tiết học
trái buổi;
- Các Đoàn thể, Tổ chuyên môn sẵn sàng giúp đỡ khi được yêu cầu trợ
giúp của các giáo viên tiết học trái buổi;
- Đội cờ đỏ, Liên đội làm việc chặt chẽ hơn đối với các học sinh đi học
trái buổi;
- Giáo viên Chủ nhiệm tăng cường trách nhiệm với lớp mình quản lý hơn
nữa, nhất là trong các tiết học trái buổi, sinh hoạt ngoại khóa cũng như học
chính khóa;
- Giáo viên bộ môn phải là người tiên phong, biết làm chủ tình hình và có
tinh thần trách nhiệm cao hơn với học sinh;
- Học sinh cần cố gắng và tích cực hơn nữa trong học tập, rèn luyện;
- Sự đoàn kết của Hội đồng Sư phạm nhà trường, giáo viên và toàn thể
học sinh là chìa khóa đưa đến mọi thành công của nhà trường.
III. KẾT LUẬN
Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã áp dụng vào giảng dạy và quản lý
học sinh cũng như đề xuất với Ban giám hiệu và giáo viên trong Hội đồng Sư
phạm nhà trường. Dù đã đạt được một số kết quả nhất định, bước đầu; Tuy
nhiên, do có nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan và vẫn còn một số mặt
hạn chế. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của Lãnh đạo nhà trường và quý
đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được áp dụng ngày càng có hiệu
quả hơn. Xin chân thành cảm ơn!
Ea Drăng, ngày 09 tháng 01 năm 2011
Người viết đề tài
Phần C – Kiến nghị và kết luận
I. Ý kiến đề xuất
II. Kiến nghị
III. Kết luận
Tài liệu tham khảo
Mục lục
Trang
1
2
2
3
4
5
5
5
6
10
10
11
11
12
13