Nguyễn Thị Kim Ánh
GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
LỜI MỞ ĐẦU
Nông nghiệp nông thôn là khu vực sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống con
người, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người với sản phẩm chủ yếu là lương
thực thực phẩm – vừa là sản phẩm tự nhiên ( do cây trồng, vật nuôi có những quy
luật sinh trưởng, phát triển không phụ thuộc con người ) vừa là sản phẩm của xã hội
– sản phẩm của người lao động nông nghiệp.
Vai trò của sản xuất nông nghiệp là rất lớn và tất nhiên vai trò của lao động
nông nghiệp cũng rất lớn, tuy nhiên , sản xuất nông nghiệp của nước ta còn rất lạc
hậu, manh mún. Đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, thu nhập của lao động
nông nghiệp thấp. Xuất hiện lao động dư thừa trong nông nghiệp, nông thôn. Đây là
biểu hiện tiêu cực của nền nông nghiệp nước ta.
Vậy làm sao để giải quyết tình trạng này, làm sao để số lao động dư thừa này
có công ăn việc làm. Đây là vấn đề mà nhà nước và xã hội phải quan tâm để có
những biện pháp khắc phục tạo việc làm cho lao động dư thừa nông nghiệp nông
thôn.
Đồng bằng sông Hồng là khu vực có dân số đông, tốc độ tăng của lực lượng
lao động hàng năm cao, tỉ lệ đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp và ngày
càng có xu hướng giảm sút do tác động mạnh của đô thị hóa. Tất cả các lý do trên
làm cho lao động dư thừa trong nông nghiệp nông thôn vùng ĐBSH ngày càng cao.
Cùng với mối quan tâm chung của xã hội, tôi thực hiện đề tài: "Lao động dư
thừa trong nông thôn vùng Đồng Bằng Sông Hồng - Thực trạng và giải pháp".
Trong quá trình thực hiện, tôi đã được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Lê Huy
Đức cùng các bác, anh chị trong viện Khoa học, Lao động và Xã hội. Nhân đây tôi
muốn gửi lời cảm ơn tới thầy cùng các bác, anh chị.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
- Hệ thống hóa và phân tích các vấn đề lý luận về lao đông, lao động nông
thôn và vị trí, vai trò của nó làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về dư thừa lao
Chương 3: Các giải pháp tăng cường việc làm trong nông thôn vùng ĐBSH
Lớp KTPT 47A-QN
2
Nguyễn Thị Kim Ánh
GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
Chương I: Lao động nông thôn và vấn đề dư thừa lao động
trong nông nghiệp nông thôn
I . Những vấn đề chung về lao động nông thôn
1. Khái niệm và phân loại lao động
1.1. Nguồn lao động
Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của
pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người
ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế
quốc dân.
Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau ở các nước, thậm chí
khác nhau ở giai đoạn của mỗi nước. Điều đó tuỳ thuộc trình độ phát triển của nền
kinh tế. Đa số các nước quy định cận dưới (tuổi tối thiểu) của độ tuổi lao động là 15
tuổi, còn cận trên (tuổi tối đa) có sự khác nhau (60 tuổi, hoặc 64 tuổi…). Trị số tối
đa về tuổi là trùng với tuổi về hưu. Ví dụ, ở Ôxtraylia không quy định tuổi về hưu
và cũng không có giới hạn tuổi tối đa. Ở nước ta, theo quy định của Bộ luật Lao
động (2002), độ tuổi lao động đối với nam là từ 15 tuổi đến 60 tuổi và nữ là từ 15
tuổi đến 55 tuổi. Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt biểu hiện đó là số
lượng và chất lượng.
Theo khái niệm trên, nguồn lao động về mặt số lượng bao gồm:
Một là, nguồn lao động có sẵn trong dân số, bao gồm những người trong độ
tuổi lao động có khả năng lao động hay chính là dân số hoạt động. Độ tuổi lao động
là giới hạn về tâm sinh lý mà theo đó con người có đủ điều kiện tham gia vào quá
trình lao động. Việc quy định giới hạn độ tuổi lao động phụ thuộc vào điều kiện
kinh tế xã hội của từng nước và trong từng thời kỳ . Ở nước ta quy định giới hạn độ
tuổi lao động là từ tròn 15 tuổi đến tròn 55 tuổi (đối với nữ) và 60 tuổi (đối với
nam). Nguồn lao động có sẵn trong dân số chiếm tỷ lệ cao trong dân số ( thường là
từ trên 50%).
Hai là, nguồn lao động tham gia hoạt động kinh tế còn gọi là dân số hoạt
động kinh tế. Đây là số người có công ăn việc làm, hoạt động trong các ngành kinh
tế quốc dân. Như vậy, nguồn lao động này không bao gồm những người trong độ
tuổi lao động có khả năng hoạt động kinh tế nhưng thực tế không tham gia hoạt
động kinh tế (thất nghiệp, có khả năng làm việc nhưng không muốn làm việc, đang
học tập…).
Ba là, nguồn lao động dự trữ. Nguồn lao động này bao gồm nhưngx người
trong độ tuổi lao động nhưng vì những lý do khác nhau chưa tham gia hoạt động
Lớp KTPT 47A-QN
4
Nguyễn Thị Kim Ánh
GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
kinh tế song khi cần thiết có thể huy động được như là: những người nội trợ trong
gia đình, những người hoàn thành nghĩa vụ quân sự, những người trong độ tuổi lao
động đang bị thất nghiệp.
1.3.2 Phân theo vai trò của nguồn lao động
Nguyễn Thị Kim Ánh
GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
3.1. Lao động nông nghiệp nông thôn có tính thời vụ.
Sản xuất nông nghiệp chịu sự chi phối của tự nhien với những quy luật sinh
trưởng, phát triển riêng của từng loại cây trồng vật nuôi. điều này quy định tính thời
vụ trong sản xuất nông nghiệp cũng như tính thời vụ của lao động nông nghiệp.
Quá trình SXNN là quá trình gieo trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng theo từng
giai đoạn phát triển của cây trồng vật nuôi. Trong quá trình này có những thời gian
lao động không tác động vào cây trồng mà cây trồng tự sinh trưởng, phát triển theo
những quy luật sinh học của nó. Những thời gian đó gọi là thời gian nhàn rỗi của
lao động nông nghiệp.
Tính thời vụ của lao động nông nghiệp nông thôn ( đặc biệt với lao động
trong ngành trồng trọt) có ảnh hưởng lớn đến đời sống sản xuất và thu nhập của
người lao động nông nghiệp, đặc biệt đối với hộ nông dân SXNN thuần tuý, không
có nghề phụ. Vì trong cả quá trình sản xuất, từ làm đất, gieo trồng đến khi thu hoạch
có những thời điểm lao động nông nghiệp rất bận rộn với khối lượng lớn công việc
như thời kỳ thu hoạch. Nhưng lại có những thời gian nhàn rỗi như thời gian mà cây
trồng có thể tự sinh trưởng, phát triển nhờ nguồn dinh dưỡng được tạo ra từ ban đầu
cũng như các quy luật sinh học của nó.
Do tính chất của công việc trong SXNN như vậy mà hình thành nên tâm lý
hay thói quen làm việc một cách không liên tục, không sáng tạo của người lao động
nông nghiệp nông thôn. Việc nâng cao năng xuất cây trồng, vật nuôi dựa vào tiến
bộ khoa học công nghệ nhiều hơn là dựa vào năng lực ủa người lao động.
Một biểu hiện rõ nét của tính thời vụ của lao động nông nghiệp nông thôn là
số lao động dư thừa trong trong nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên, sự dư thừa này
còn do nhiều nguyên nhân khác nhưng lao động dư thừa trong những thời gian nhàn
rỗi của sản xuất nông nghiệp là một thực tế.
3.2. Lao động nông nghiệp nông thôn có kết cấu phức tạp, không đồng
Có lẽ trình độ lao động nông nghiệp nông thôn thấp hơn là do ưu đãi của tự
nhiên với những quy luật quy luật sinh học gán cho sản xuất nông nghiệp, người sản
xuất nông nghiệp có thể không cần chăm sóc hoặc ít quan tâm đến cây trồng, vật
nuôi mà vẫn có sản phẩm thu hoạch. Từ đó tạo ra trạng thái trì trệ không chịu vận
động, không sáng tạo của lao động nông nghiệp nông thôn nếu so sánh với lao động
trong công nghiệp thì có sự khác nhau rõ nét về tính chất công việc và trình độ cần
có của lao động. Đối với sản xuất công nghiệp, lao động phải hoạt động một cách
liên tục mới có được sản phẩm cuối cùng hoàn chỉnh mà sản phẩm công nghiệp lại
luôn biến đổi về mẫu mã và chất lượng nên lao động trong công nghiệp phải luôn
vận động, sáng tạo trong công việc để có những sản phẩm mới, chất lượng cao hơn.
Tóm lại, phương thức sản xuất nông nghiệp quyết định trình độ của lao động
nông nghiệp là thấp hơn trrình độ lao động thuộc các khu vực kinh tế khác, trong
Lớp KTPT 47A-QN
7
Nguyễn Thị Kim Ánh
GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
quá trình phát triển của xã họi, nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp nói riêng,
trình độ lao động nông nghiệp nông thôn ngày càng được nâng cao do nhu cầu của
con người về sản phẩm nông nghiệp, do tiến bộ trong khoa học, công nghệ có tác
động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp và do sự phát triển của các ngành, các lĩnh
vực kinh tế khác có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của sản xuất nông nghiệp,
nó đòi hỏi trrình độ lao động nông nghiệp nông thôn phải nâng cao hơn để thích
ứng. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay sản xuất nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hoá với quy mô lớn. Sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra phải
-
GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
Trình độ, công cụ máy móc, thiết bị nông nghiệp thấp. Sản xuất nông
nghiệp chủ yếu dựa vào các công cụ lao động thô sơ của từng hộ sản xuất.
-
Trình độ người lao động trong nông nghiệp thấp nên khó thu được hiệu
quả cao trong tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
-
Một số nơi tập quán sản xuất còn rất lạc hậu nên kìm hãm sự phát triển
của sản xuất nông nghiệp. ậ những nơi này sản xuất nông nghiệp năng xuất lao
động rất thấp.
Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác ảnh hưởng đến thu nhập của ngời lao
động nôgn nghiệp nông thôn như:
-
Tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp: làm cho thu nhập của người lao
động nông nghiệp không ổn định tại những thời điểm khác nhau.
-
Tình hình biến động giá cả của sản phẩm nông nghiệp bất lợi cho kinh
GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
quân của thế giới cũng như so với lao động trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế
khác. Số người thất nghiệp là vấn đề nóng bỏng của xã hội hiện nay, lao động dư
thừa trong nông nghiệp, nông thôn thường bị rơi vào cảnh nghèo đói.
3.5. Lao động nông nghiệp, nông thôn có xu hướng chuyển sang khu vực
kinh tế phi nông nghiệp .
Hiện nay, nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường với sự tham gia của
nhiều thành phần kinh tế, có nhiều ngành nghề xã hội. Đối với một người lao động
có trình độ nhất định, năng động sáng tạo thì việc lựa chọn cho mình môt nghề hay
một lĩnh vực kinh tế nào đó để hoạt động sản xuất kinh doanh là không khó. Thực tế
là nhiều lao động có năng lực ở khu vực sản xuất nông nghiệp co xu hướng chuyển
sang các hoạt động thương mại, dịch vụ hoăc sang các ngành công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp… trong đó số người chuyển sang hoạt động kinh doanh thương mại và
dịch vụ nhiều. Vậy tại sao họ lại chuyển sang khu vực kinh tế phi nông nghiệp?
Như chúng ta đã biết, năng xuất lao động trong nông nghiệp thấp, hoạt động
sản xuất kinh doanh nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, mức độ rủi ro cao, thời gian
quay vòng vốn dài, lợi nhuận của một chu kỳ sản xuất kinh doanh thấp. Vì vậy,
những người lao động nông nghiệp có năng lực chuyển sang các hoạt động sản xuất
kinh doanh phi nông nghiệp để hoạt động kinh tế hiệu quả hơn và làm giàu một
cách nhanh hơn.
Một số người vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm thương mại, dịch vụ có thu
nhập cao. Trong đó, thu nhập từ kinh doanh thương mại, dịch vụ là chủ yếu còn sản
xuất nông nghiệp chỉ là để ổn định nhu cầu lương thực, thực phẩm hoặc không
muốn bỏ không hoặc bán đất canh tác hoặc để tận dụng nhân công trong gia đình.
Những lao động nhàn rỗi hay lao động dư thừa trong nông nghiệp tại sao
không làm kinh tế ở khu vực kinh tế phi nông nghiệp? Có lẽ họ bị hạn chế về năng
lực hoặc hạn chế về vốn kinh doanh hoặc các yếu tố khác.
Nhìn vào xu hướng vận động này, chúng ta có thể đưa ra biện pháp tạo việc
Trong lao động nông nghiệp nông thôn có nhiều ngành nghề khác nhau và
mỗi loại đó lại mang vị trí cấp bậc công việc khác nhau:
Sản xuất cây lương thực vẫn được coi là chủ đạo và thu hút nhiều lao động
nông nghiệp nông thôn tham gia.
Sản xuất cây công nghiệp và chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò), gia súc (lợn), gia
cầm được xếp vị trí thứ hai trong những công việc thu hút nhiều lao động tham gia.
Sản xuất cây ăn quả và nuôi trồng thuỷ sản đứng vị trí thứ ba.
Số lượng lao động tham gia vào các ngành dịch vụ và công nghiệp còn ít và hạn chế.
Lớp KTPT 47A-QN
11
Nguyễn Thị Kim Ánh
GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
5.Nguồn lao động trong nông nghiệp
Để duy trì sản xuất, nông nghiệp cần lao động từ các nguồn sau: lao động
của nông trại (hộ gia đình hay của doanh nghiệp nông nghiệp), lao động từ thị
trường và lao động đổi cộng
5.1. Lao động của nông trại
Lao động của nông trại là toàn bộ những người có khả năng lao động trong
nông nghiệp của trang trại hay doanh nghiệp đó. Ở nước ta, nguồn lao động này bao
gồm những người trong độ tuổi lao động ( 15-60 tuổi đối với nam và 15-55 tuổi đối
với nữ) và những người trên hay dưới tuổi lao động quy định trên có khả năng lao
động. Lao động của nông trại biến động theo quy luật nhân khẩu hộ gia đình. Tỷ lệ
người tiêu dùng trên lao động là chỉ tiêu cơ bản để phản ánh mức độ tham gia lao
động của các thành viên trong nông trại vào quá trình sản xuất.
động, mức tiền công và số người có việc làm thể hiện sự cấu thành của nguồn lực lao
động trong hàng hóa, dịch vụ, nó trở thành nhân tố phản ánh sự tăng trưởng kinh tế.
Lực lượng lao động ở nông thôn Việt Nam nói chung và ĐBSH nói riêng có
thể nói là chiếm đa số trong tổng lượng lượng lao động. Tuy nhiên lao động nhiều
nhưng lại có biểu hiện dư thừa lao động hay thiếu việc là. Lao động có năng suất
thấp, phần đóng góp của lao động nông thôn trong tổng thu nhập còn hạn chế. Như
vậy, vùng nông thôn là khu vực có số ngừơi lao động có việc làm thấp hơn so với
tiền năng lao động vốn có.Lao động nông thôn có vai trò quan trọng trong việc tăng
trưởng và phát triển kinh tế.
II. Lao động dư thừa và các tiêu chí đánh giá
1. Khái niệm lao động dư thừa
Quá trình sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ rất cao, thu hút lao động
không đồng đều, đặc biệt trong ngành trồng trọt việc làm chỉ thạp trung chủ yếu vào
gieo trồng, và thu hoạch, thời gian còn lại là rỗi rãi, đó là lao động “ nông nhàn”
trong nông thôn hay còn gọi là lao động dư thừa trong nông thôn.
2. Các tiêu chí đánh giá lượng lao động dư thừa
2.1 . Tỷ lệ thất nghiệp
+ Tỷ lệ thất nghiệp : được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa số người thất
nghiệp và lực lượng lao động trong độ tuổi lao động.
Tỷ lệ thất nghiệp phản ánh tình trạng thất nghiệp của nền kinh tế. Theo khái
niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thất nghiệp (theo nghĩa chung nhất) là
tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn có việc làm nhưng
không thể tìm được việc làm ở mức tiền công nhất định. Người thất nghiệp là người
trong độ tuổi lao động, không có việc làm và đang có nhu cầu tìm việc làm.
Lớp KTPT 47A-QN
13
làm đầy đủ so với dân số hoạt động kinh tế
Lớp KTPT 47A-QN
14
Nguyễn Thị Kim Ánh
GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
III. Nguyên nhân dẫn đến lao động dư thừa trong nông nghiệp và nông thôn
1. Đất nông nghiệp có xu hướng giảm do quá trình đô thị hóa, dân số tăng.
Đất nông nghiệp bình quân đầu người ngày càng giảm và manh mún. Trong
những năm qua, mặc dù diện tích đất tự nhiên của vùng có tăng lên do khai hoang,
phục hóa nhưng do quá trình đô thị hóa, đất công nghiệp và dành cho các nhu cầu
khác không ngừng tăng lên, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người giảm.
So với cả nước, ĐBSH là nơi có đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp nhất,
497m2 so với 1.224m2 (chỉ bằng 40,7% mức bình quân chung của cả nước). Đất
nông nghiệp bình quân đầu người thấp và rất manh mún, bình quân một hộ ở ĐBSH
có từ 2-4 mảnh, điều này làm cho sản xuất nông nghiệp của ĐBSH giảm kéo theo
đó là lượng lao động dư thừa trong nông nghiệp tăng.
Đô thị hóa đòi hỏi phải dành một bộ phận đất nông nghiệp cho việc xây dựng
các công trình kết cấu hạ tầng. Đô thị hóa càng mạnh thì đất đai nói chung và đất
nông nghiệp nói riêng ngày càng thu hẹp. Riêng vùng ngoại thành Hà Nội, đất canh
tác bình quân một lao động nông nghiệp là 1,15 ha vào năm 1990 nhưng đến nay
chỉ còn 0,09 ha. Dự báo đến năm 2010 diện tích đất nông nghiệp còn lại 29.965,8
ha. Để giữ nguyên đất canh tác bình quân đầu người như ở mức năm 1990, với điều
kiện các yếu tố khác không đổi thì việc mất đất canh tác do quá trình đô thị hóa ở
ngoại thành Hà Nội đã làm dư ra hơn 16 vạn lao động nông nghiệp. Theo viện Quy
trọt càng nghiêm trọng hơn. Số thời gian lao động thuần nông chỉ đạt 1/2 tổng quỹ
thời gian trong năm. Theo điều tra của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, ở tỉnh
Vĩnh Phúc, hộ lao động thuần nông chỉ sử dụng tối đa 56,87% tổng quỹ thời gian; ở
Hà Tây là 50%. Đặc biệt, nếu chỉ chuyên trồng trọt, số giờ làm việc thực tế chỉ đạt
khoảng 630 giờ/4.800 giờ làm việc, tức là chỉ sử dụng hết 13,13% tổng quỹ thời
gian trong năm.
Tỷ trọng đóng góp nông nghiệp ngày càng giảm trong tổng GDP, tỷ trọng
của lao động nông nghiệp trong lực lượng lao động cũng giảm nhưng số lao động
tuyệt đối vẫn tiếp tục tăng hàng năm, bình quân mỗi năm tăng thêm khoảng 422000
lao động, tạo thành dư thừa trong lao động nông nghiệp. Bên cạnh đó khu vực công
nghiệp và dịch vụ mức tăng việc làm vẫn còn thấp cả về quy mô lẫn tốc độ dẫn đến
việc thu hút lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ còn hạn chế.
3. Dân số và cung lao động tăng nhanh hơn tốc độ tạo việc làm
Trong thời gian gần đây, do tốc độ gia tăng dân số của nước ta luôn cao làm
cho dân số hoạt động kinh tê hay lực lượng lao động tăng lên hàng năm đặc biệt là
khu vực nông thôn của ĐBSH. Khu vực nông thôn ĐBSH năm 2000 có 7,517 triệu
người, đến năm 2007 tăng là 8,763 triệu người nhưng khả năng tạo việc làm lại hạn
chế do công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển. Dẫn tới việc dư thừa phần lớn lao
động nông thôn đặc biệt là nữ giới.
Lớp KTPT 47A-QN
16
Nguyễn Thị Kim Ánh
GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
4. Hậu quả của quá trình thu hồi đất nông nghiệp đáp ứng nhu cầu của
17
Nguyễn Thị Kim Ánh
GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
trong số họ phải chấp nhận làm những công việc giản đơn, nặng nhọc nhưng thu
nhập thấp và nhiều rủi ro. Đồng thời, điều này đang đặt ra nhiều vấn đề cho các địa
phương phải giải quyết (cả nơi đi lẫn nơi đến) như việc quản lý nguồn nhân lực, tệ
nạn xã hội gia tăng, vấn đề ô nhiễm môi trường, bảo vệ quyền lợi người lao động ...
Hiện nay, trên địa bàn Hà Nội có khoảng 20 đến 25 vạn lao động đến từ các vùng
nông thôn của các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng.
5. Trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu công
nghiệp hóa hiện đại hóa.
Đối với nông thôn Việt Nam hiện nay cũng như ở ĐBSH, năng suất lao động
thấp do chất lượng nguồn lao động không cao đang là một thách thức lớn. Trong
những năm vừa qua, trình độ học vấn của nông thôn không ngừng được vươn cao.
So với các nước có GDP bình quân đầu người tương đương với nước ta thì tỷ số
chất lượng nguồn nhân lực thông qua tỷ lệ người biết đọc, biết viết ở nước ta cao
hơn nhiều. Tuy nhiên, nếu so với các nước trong khu vực thì trình độ chuyên môn
kỹ thuật trong lao động nông nghiệp nước ta vẫn còn kém. Trong bảy vùng lãnh thổ
thì ĐBSH là vùng có tỷ lệ lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
nhất, chiếm 20,66% nhưng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật cũng
còn tới 79,33%. Điều đó, làm cho lao động khi tham gia vào quá trình CNH - HĐH
không đáp ứng được yêu cầu dẫn đến tình trạng thừa lao động nhưng vẫn thiếu lao
động có tay nghề.
Lớp KTPT 47A-QN
Vùng là cái nôi của văn minh sông Hồng, nền văn minh đồ đồng phát
triển rực rỡ với trống đồng, thạp đồng, mũi tên đồng, với nông nghiệp trồng lúa
nước. Hiện tại, Đồng bằng sông Hồng bao gồm 10 tỉnh thành: Bắc Ninh , Hà
Nam, Hà Nội, Hải Dương , Hải Phòng , Hưng Yên , Nam Định , Thái Bình , Ninh
Bình, Vĩnh Phúc .
Đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng kinh tế có tầm quan trọng
đặc biệt trong phân công lao động của cả nước. Đây là vùng có vị trí địa lí và điều
kiện tự nhiên thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, dân cư đông
đúc, nguồn lao động dồi dào, mặt bằng dân trí cao.
Lớp KTPT 47A-QN
19
Nguyễn Thị Kim Ánh
GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
1. Điều kiện tự nhiên
Vùng Đồng bằng sông Hồng có toạ độ địa lí là 22 0 - 21030' B và 105030' 1070 Đ, nằm ở phía Nam của đường chí tuyến Bắc. Vùng bao gồm đồng bằng châu
thổ màu mỡ, dải đất rìa trung du với một số tài nguyên khoáng sản, tài nguyên du
lịch và vịnh Bắc Bộ giàu tiềm năng.
Như đúng tên gọi của vùng, sông Hồng đã gắn bó ngàn đời nay với cư dân
của vùng đồng bằng châu thổ này. Địa hình của vùng tương đối bằng phẳng, có độ
cao từ 0,4 - 12m so với mực nước biển. Ngoài ra, địa hình cũng có một số vùng đồi
có cấu tạo cacxtơ đá vôi dọc hai cánh Tây Nam và Đông Bắc. Vùng có khí hậu
nhiệt đới và cận nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,5 - 23,5 0C.
Lượng mưa trung bình năm là 1400 - 2000mm.
Vùng có vị trí thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội. Đây là cầu nối giữa
đổi nhiều do trồng lúa.
Vùng có hai hệ thống sông lớn là hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái
Bình nên nguồn nước rất phong phú. Cả nguồn nước trên mặt lẫn nguồn nước ngầm
đều có chất lượng rất tốt. Tuy nhiên, vùng cũng có xảy ra tình trạng quá thừa nước
trong mùa mưa và thiếu nước trong mùa khô. Vùng còn có bờ biển dài, có ngư
trường Hải Phòng - Quảng Ninh, cảng Hải Phòng, khu du lịch Đồ Sơn.
Điều kiện khí hậu và thuỷ văn thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụ trong
sản xuất nông nghiệp. Thời tiết mùa đông rất phù hợp với một số cây trồng ưa lạnh.
Tài nguyên có giá trị đáng kể là các mỏ đá (Hải Phòng, Hà Nam, Ninh Bình),
sét cao lanh (Hải Dương), than nâu (Hưng Yên), khí tự nhiên (Thái Bình). Về
khoáng sản thì vùng có trữ lượng lớn về than nâu, đá vôi, sét, cao lanh. Đặc biệt, mỏ
khí đốt Tiền Hải đã được đưa vào khai thác nhiều năm nay và đem lại hiệu quả kinh
tế cao. Nguồn tài nguyên biển đang được khai thác có hiệu quả nhờ phát triển nuôi
trồng và đánh bắt thủy sản, du lịch
Tuy nhiên, vùng thiếu nguyên liệu cho việc phát triển công nghiệp, phần lớn
nguyên liệu phải được nhập từ vùng khác. Một số tài nguyên của vùng bị suy thoái
do khai thác quá mức.
2. Đặc điểm dân cư, xã hội
Vùng Đồng bằng sông Hồng gồm có 10 tỉnh, thành là Hà Nội, Bắc Ninh,
Hà Nam, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Đinh, Ninh Bình, Thái Bình,
Vĩnh Phúc .
Biểu 1: Dân số, diện tích và mật độ dân số của các tỉnh vùng ĐBSH và cả nước
Tên vùng, tỉnh
Dân số
Diện tích
Mật độ
867
Bắc Ninh
1.028,8
823,1
1.250
Hải Dương
1.732,8
1.652,8
1.048
Hải Phòng
1.827,7
1.520,7
1.202
Hưng Yên
1.156,5
923,5
1.252
Thái Bình
1.868,8
1.546,5
1.208
Hà Nam
825,4
859,7
960
Nam Định
1991,2
1.650,8
1.206
Ninh Bình
GVHD: PGS.TS Lê Huy Đức
Ở ĐBSH, dân số gia tăng vẫn còn nhanh. Vì vậy, tốc độ tăng dân số chưa
phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội. Điều này gây khó khăn cho việc
phát triển kinh tế - xã hội của đồng bằng.
Việt Nam là nước có diện tích canh tác tính theo đầu người rất thấp (892m 2).
Trên cái nền chung ấy, chỉ số này ở Ðồng bằng sông Hồng còn thấp hơn nhiều do bị
sức ép quá nặng nề của dân số. Ở đây, bình quân mỗi đầu người chỉ đạt khoảng ½
con số trung bình của cả nước. Đất canh tác ít, dân đông nên phải đẩy mạnh thâm
canh. Song nếu thâm canh không đi đôi với việc hoàn lại đầy đủ các chất dinh
dưỡng sẽ làm cho đất đai ở một số nơi bị giảm độ phì nhiêu.
Dân số đông và sự gia tăng dân số đã để lại những dấu ấn đậm nét về kinh tế
- xã hội. Mặc dù mức gia tăng dân số đã giảm nhiều, nhưng sản xuất nhìn chung
chưa đáp ứng được nhu cầu tích luỹ và cải thiện đời sống nhân dân. Hàng loạt vấn
đề xã hội như việc làm, nhà ở, y tế, văn hoá, giáo dục vẫn còn gây bức xúc.
Trong nhiều năm qua, nước ta đã tiến hành phân bố lại dân cư và lao động
trên phạm vi cả nước. Đối với Ðồng bằng sông Hồng, điều đó có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng. Trong thời kỳ 1984 – 1989, tỉ lệ chuyển cư thuần tuý (tương quan giữa
tỉ lệ người chuyển đến và tỉ lệ người chuyển đi) của hầu hết các tỉnh trong vùng đều
mang giá trị âm, nghĩa là số người chuyển đi nhiều hơn số người chuyển đến Ngoài
vấn đề chuyển cư, giải pháp hàng đầu ở Ðồng bằng sông Hồng là việc triển khai có
hiệu quả công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình nhằm giảm tỉ lệ sinh. Đồng thời,
trên cơ sở lựa chọn cơ cấu kinh tế hợp lí, từng bước giải quyết việc làm tại chỗ cho
lực lượng lao động thường xuyên tăng lên, tiến tới nâng cao chất lượng cuộc sống
của nhân dân trong vùng.
Biểu 2:Một số chỉ tiêu phát triển dân cư, xã hội ở Đồng bằng sông Hồng năm 1999
Tiêu chí
Đơn vị
Tỉ lệ thiếu việc làm ở nông thôn
%
26
26,5
Thu nhập bình quân đầu người
Nghìn đồng
280,3
295
Tỉ lệ người lớn biết chữ
%
94,5
90,3
Tuổi thọ trung bình
Năm
73,7
70,9
Tỉ lệ dân thành thị
%
19,9
23,6
Nguồn : Địa lí kinh tế Việt Nam - NXB Giáo dục - 2006
Đồng bằng sông Hồng là vùng có kết cấu hạ tầng nông thôn hoàn thiện nhất
trong cả nước. Với chiều dài tổng cộng hơn 3000km, hệ thống đê điều được xây
dựng và bảo vệ từ đời này qua đời khác, không chỉ là bộ phận quan trọng trong kết
cấu hạ tầng mà còn là nét độc đáo của nền văn hoá sông Hồng, văn hoá Việt Nam.
Cơ sở vật chất của vùng cũng ngày càng hoàn thiện, đặc biệt là mạng lưới đường
giao thông.
Do được khai thác từ lâu đời, vùng tập trung nhiều lễ hội, làng nghề, di tích
văn hoá lịch sử, có mạng lưới đô thị phát triển. Đồng bằng sông Hồng có một số đô
thị hình thành từ lâu đời. Kinh thành Thăng Long, nay là thủ đô Hà Nội được thành
trưởng kinh tế nhanh, bền vững, gắn liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội.
Trong kế hoạch từ nay đến năm 2010, tỉ trọng 3 khu vực sẽ đạt lần lượt là 20%,
34%, 46%.
3.1.Công nghiệp
Công nghiệp Đồng bằng sông Hồng hình thành sớm nhất và phát triển mạnh
trong thời kì đất nước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Giá trị công nghiệp
ở Đồng bằng sông Hồng tăng mạnh từ 18,3 nghìn tỉ đồng (năm 1995) lên 55,2
nghìn tỉ đồng, chiếm 21% GDP công nghiệp của cả nước (năm 2002). Phần lớn giá
trị công nghiệp tập trung ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng.
Các ngành công nghiệp trọng điểm của Đồng bằng sông Hồng là công
nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất vật liệu
xây dựng và công nghiệp cơ khí. Sản phẩm công nghiệp quan trọng của vùng là
máy công cụ, động cơ điện, phương tiện giao thông, thiết bị điện tử, hàng dệt kim,
giấy viết, thuốc ...
Việc chuyển dịch cơ cấu trong ngành công nghiệp cũng được thực hiện qua
việc hình thành các ngành trọng điểm dựa trên thế mạnh của vùng về tự nhiên và
dân cư như dệt may, giày da, cơ khí điện tử, vật liệu xây dựng, chế biến lương thực
thực phẩm.
3.2.Nông nghiệp
Về diện tích và tổng sản lượng lương thực, Đồng bằng sông Hồng chỉ đứng
sau Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng là vùng có trình độ thâm canh cao nên năng
xuất lúa rất cao. Hầu hết các tỉnh ở Đồng bằng sông Hồng đều phát triển một số cây
ưa lạnh đem lại hiệu quả kinh tế lớn như các cây ngô đông, khoai tây, su hào, bắp
Lớp KTPT 47A-QN
25