Chuyên đề tốt nghiệp
1
GVHD:GS.TS Nguyễn Kế Tuấn
LỜI MỞ ĐẦU
Xây dựng cơ bản (XDCB) là ngành sản xuất giữ vị trí quan trọng, nó tạo
cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế quốc dân và quốc phòng của đất
nước. Một bộ phận lớn thu nhập của nền kinh tế quốc dân nói chung và quỹ tích
luỹ nói riêng cùng với vốn đầu tư nước ngoài đã được sử dụng trong lĩnh vực
đầu tư XDCB. Thực tế trong những năm qua cho thấy, cùng với quá trình đổi
mới của nền kinh tế đất nước, hoạt động xây dựng đã và đang phát triển mạnh
mẽ. Các doanh nghiệp xây dựng ngày càng tăng nhanh về cả số lượng và chất
lượng, phạm vi hoạt động xây dựng ngày một mở rộng mà hạt nhân của nó
chính là các đội xây dựng. Trong doanh nghiệp xây dựng, đội là một hình thức
hiệp tác lao động là lao động tập thể được xem như đơn vị thi công cơ bản, đơn
vị trực tiếp sản xuất có tổ chức ở khâu đầu tiên trong hoạt động xây lắp dựa trên
sự hợp nhất những cố gắng khác nhau của nhiều người, nhiều nghề, nhằm thực
hiện một loại việc hoặc một tập hợp nhiều loại việc, một giai đoạn công tác riêng
biệt hoặc một hạng mục công trình, một công trình xây dựng. Cùng với sự phát
triển về qui mô và sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, tổ chức và quản lý kinh tế đội
trở thành một vấn đề quan trọng và phức tạp đặc biệt là công tác khoán chi phí.
Khác với phần lớn các loại hình sản xuất kinh doanh khác, do đặc điểm của
ngành xây dựng và do sự tác động của cơ chế thị trường, phương thức khoán sản
phẩm xây lắp đến các đơn vị cơ sở, các tổ đội thi công là một phương thức quản
lý xây dựng cơ bản. Chi nhánh xây dựng 319 cũng là một đơn vị áp dụng cơ chế
khoán và áp dụng phương thức khoán gọn công trình, hạng mục công trình đến
các đội xây dựng.
Xuất phát từ thực trạng của Chi nhánh công ty xây dựng 319 về công
tác khoán chi phí cho các đội xây dựng, bên cạnh những ưu điểm tích cực
phòng.
Phần II: Thực trạng công tác khoán chi phí tại Chi nhánh công ty
xây dựng 319 – Bộ Quốc phòng.
Phần III: Giải pháp hoàn thiện công tác khoán chi phí tại Chi nhánh
công ty xây dựng 319 – Bộ Quốc phòng.
Trong thời gian thực tập tại Chi nhánh Công ty xây dựng 319, em đã nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ, nhân viên Chi nhánh nói chung và cán
bộ phòng kế hoạch nói riêng. Đặc biệt với sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo
GS.TS Nguyễn Kế Tuấn cùng với sự nỗ lực tìm hiểu và học hỏi của bản thân, em
đã cố gắng phản ánh một cách chính xác và trung thực các vấn đề của Chi nhánh
Công ty xây dựng 319 trong chuyên đề thưc tập tốt nghiệp này.
Do thời gian thực tập có hạn cùng với sự hạn chế về kiến thức, nên bài
viết của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong được sự đóng góp,
chỉ bảo của các thầy cô giáo cùng các bạn để em có thể rút ra những kinh
nghiệm bổ ích để hoàn thiện tốt bài viết này và hơn nữa là phục vụ cho quá
trình công tác thực tế sau này.
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên: Trần Thị Bích Hồng
Lớp:CN& XD 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
3
GVHD:GS.TS Nguyễn Kế Tuấn
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ CHI NHÁNH CÔNG TY XÂY DỰNG 319 BỘ QUỐC PHÒNG
4
GVHD:GS.TS Nguyễn Kế Tuấn
Thực hiện theo Nghị quyết của Đảng uỷ Quân sự Trung ương về việc
sắp xếp lại các doanh nghiệp trong quân đội, Công ty xây dựng 319-Bộ Quốc
phòng được thành lập lại theo quyết định số 564/QĐ-QP ngày 22/04/1996 của
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Ngày 15/9/2003, Bộ Quốc phòng có Quyết định
số 193/2003/QĐ-BQP về việc xác định lại ngành nghề và tổ chức của Công ty
xây dựng 319 có 12 đơn vị thành viên.
1.1.2 Ngành nghề kinh doanh của công ty:
-Thi công xây lắp các công trình công nghiệp, dân dụng, giao thông,
thuỷ lợi, thuỷ điện, đường dây, trạm điện,các công trình ngầm, nhà máy nước;
- Tư vấn khảo sát thiết kế các công trình xây dựng, giao thông thuỷ lợi;
- Đầu tư phát triển hạ tầng và kinh doanh nhà;
- Lắp đặt thiết bị dây chuyền công nghệ;
- Sản xuất nước uống có cồn và không có cồn;
- Khảo sát, dò tìm, xử lý bom mìn, vật nổ;
- Khai thác, sản xuất kinh doanh khoáng sản, đất sét, cao lanh, vật liệu
xây dựng, xi măng, gạch ngói và đại lý xăng dầu;
- Vận tải đường thuỷ, đường bộ;
- Nhập khẩu các loại vật tư, thiết bị, máy móc và phương tiện vận tải
phục vụ xây dựng.
1.2 Chi nhánh Công ty xây dựng 319.
1.2.1 Lịch sử hình thành.
Chi nhánh là một đơn vị thành viên của Công ty xây dựng 319, hoạt
động theo giấy phép của Công ty xây dựng 319 và đăng ký kinh doanh số
4116000199 do Sở Kế hoạch & Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày
26/4/2004. Chi nhánh hoạt động như một đơn vị hạch toán độc lập, có con
Trong những năm gần đây, với sự cố gắng, nỗ lực của toàn thể cán bộ,
công nhân viên và người lao động trong toàn Chi nhánh, kết quả sản xuất kinh
doanh của Chi nhánh ngày càng tăng và đạt những kết quả đáng mừng. Giá trị
sản xuất và doanh thu của các lĩnh vực sản xuất kinh doanh hằng năm nhìn
chung đều đạt kết quả tốt.
Sinh viên: Trần Thị Bích Hồng
Lớp:CN& XD 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
6
GVHD:GS.TS Nguyễn Kế Tuấn
Bảng 1: Kết quả sản xuất kinh doanh trong các năm 2004-2008.
Đơn vị:Triệu đồng.
Năm
Năm
Năm
Năm
Năm
1.Giá trị sản xuất.
9.926
29.796
66.585
49.116
26.930
1.3 Rà phá bom mìn.
4.232
12.940
16.449
25.526
24.854
2. Doanh thu
16.885
70.666
74.340
1,120
1,470
2,200
3,266
quân(người/tháng)
6. Nộp ngân sách.
1.519
4.729
9.538
30.932
19.803
6.1 Nộp ngân sách Nhà nước.
0.474
1.323
6.205
23.780
Sinh viên: Trần Thị Bích Hồng
Lớp:CN& XD 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
Stt
1
2
3
4
5
6
Chỉ tiêu
7
2005/2004
GVHD:GS.TS Nguyễn Kế Tuấn
2006/2005
∆
%
∆
%
107,2 - 2.046
122,4 11.460
80,9
576
224,3 - 11.129
0,497
1,07
%
- 36
- 1,3
7,5
18,5
- 36
48,5
quân
Ghi chú : ∆: tỷ lệ chênh lệch tuyệt đối.
%: tỷ lệ chênh lệch tương đối.
Từ bảng số liệu trên cho thấy: Tất cả các chỉ tiêu như giá trị sản xuất, doanh
thu, lợi nhuận, thu nhập bình quân đều có xu hướng tăng qua các năm giai đoạn 2004
– 2007. Nhưng sang năm 2008, một số chỉ tiêu như: giá trị sản xuất, doanh thu lại
giảm xuống đáng kể dẫn đến các khoản nộp ngân sách cũng giảm theo. Nguyên nhân
chủ yếu là do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế thế giới dẫn đến khủng hoảng thị
trường tài chính, lạm phát, đầu tư giảm, biến động giá cả nguyên vật liệu,…Tuy
nhiên, từ khi thành lập đến nay, chưa năm nào Chi nhánh làm ăn thua lỗ. Đó là một
kết quả đáng mừng do sự cố gắng, nỗ lực không ngừng của toàn thể Chi nhánh.
Giá trị sản xuất tăng trung bình hàng năm là 50,843 tỷ đồng/năm giai
đoạn từ 2004 – 2007, trong đó cao nhất là năm 2007 tăng 12,523 tỷ đồng
nhưng tốc độ tăng lại thấp hơn năm 2005. Năm 2005, giá trị sản xuất tăng
của Chi nhánh vẫn cao hơn năm 2007 (đạt 3.688 tỷ đồng), chứng tỏ khả năng
sử dụng vốn của Chi nhánh tốt hơn những năm trước.
Ngoài ra, từ bảng số liệu trên cho ta thấy được các chỉ tiêu giá trị thu
hồi vốn của Chi nhánh qua các năm trong đó năm 2006 giá trị thu hồi vốn là
thấp nhất chủ yếu là do nguyên nhân khách quan từ phía chủ đầu tư. Nhưng
sang năm 2007, Chi nhánh đã có những biện pháp nhằm thúc đẩy nhanh công
tác thu hồi vốn, tích cực chủ động hơn phía nhà đầu tư để nhanh chóng quyết
toán giá trị công trình đúng thời hạn ký kết trong hợp đồng, giảm thiểu rủi ro
trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và thu nhập cho người lao
động.
Chỉ tiêu nộp ngân sách phụ thuộc và giá trị các công trình (giá trị tổng
sản lượng) và loại công trình xây dựng.
Thu nhập bình quân của người lao động hằng năm đều tăng, từ 980.000
đồng năm 2004 tăng lên đến 3.266.000 đồng năm 2008, tăng lên gấp 3,3 lần,
đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng được nâng cao. Bên cạnh đó, các
Sinh viên: Trần Thị Bích Hồng
Lớp:CN& XD 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
9
GVHD:GS.TS Nguyễn Kế Tuấn
khoản trợ cấp, tiền thưởng và phúc lợi xã hội cũng được Chi nhánh thường
xuyên quan tâm đúng mức nhằm kích thích người lao động tích cực hơn trong
công việc góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn Chi
Chuyên đề tốt nghiệp
10 GVHD:GS.TS Nguyễn Kế Tuấn
- Các sản phẩm xây lắp rất đa dạng, kết cấu rất phức tạp, khó chế tạo,
khó sửa chữa, yêu cầu chất lượng cao. Điều này đòi hỏi trình độ, kiến thức
chuyên môn trong điều hành, quản lý xây dựng cao, thường xuyên giám sát
chặt chẽ việc thi công đảm bảo chất lượng công trình như kế hoạch.
- Các sản phẩm xây lắp có kích thước qui mô lớn, thời gian sản xuất
sản phẩm dài, chi phí cao, thời gian khai thác cũng kéo dài.Quá trình tổ chức
thi công chia thành nhiều giai đoạn, trong mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều
bước công việc khác nhau. Chính vì vậy, càng đòi hỏi cao hơn, phức tạp hơn,
tổng hợp hơn về các mặt như: vật tư, kỹ thuật, tài chính, lao động, tổ chức
quản lý sản xuất trong công tác quản lý đội xây dựng.
- Các công trình xây lắp bị cố định tại nơi xây dựng, còn các yếu tố đầu
vào như: lao động, máy móc, nguyên vật liệu thì thường xuyên phải di chuyển
địa điểm từ nơi này đến nơi khác theo công trình xây dựng cụ thể nên phụ
thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, điều kiện địa phương. Hơn nữa lại thường
đặt ở ngoài trời dẫn đến phát sinh nhiều vấn đề khó lường trước như: việc mất
mát, hư hỏng nguyên vật liệu, các yếu tố đầu vào khác, các vấn đề văn hóa địa
phương...Mặt khác, các công trình thi công lại có những đặc thù riêng mà bộ
phận tham gia trực tiếp sản xuất là các đội xây dựng. Do đó việc quản lý đội
xây dựng rất khó khăn, phức tạp đòi hỏi việc bảo quản các yếu tố đầu vào tốt
và thiết lập mối quan hệ tốt với chính quyền địa phương nơi xây dựng.
Bảng 3: Cơ cấu giá trị sản xuất của Chi nhánh
Chỉ tiêu
Năm 2005
Giá trị
100
166.038
100
178.561
100
114.311
100
1. GTXL
42.396
49,8
83.004
50
103.919
58,2
62.527
25.526
14,3
24.854
21,7
Nguồn: phòng Kế hoạch – kỹ thuật)
Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy, sản phẩm xây lắp luôn chiếm tỷ
trọng cao và chủ yếu nhất trong tổng doanh thu, trung bình hằng năm chiếm
tới khoảng 53% trong tổng giá trị sản lượng sản xuất hằng năm. Chiếm tỷ
trọng thứ hai trong tổng giá trị sản lượng là sản phẩm các công trình giao
thông, trung bình hằng năm chiếm tới 32%, còn lại là giá trị của các sản phẩm
Rà phá bom mìn (RPBM) chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ khoảng 15%.
Nhìn chung, các đặc điểm của sản phẩm xây lắp nói trên của Chi nhánh
đều có ảnh hưởng đến quản lý đội xây dựng mà cụ thể là ảnh hưởng đến việc
giao khoán cho các Đội xây dựng và việc thực hiện khoán của từng Đội.
1.2 Đặc điểm về thị trường, khách hàng.
Một đặc thù trong nghành xây dựng là quá trình mua bán diễn ra trước
lúc bắt đầu giai đoạn sản xuất thông qua hoạt động đấu thầu, kí kết hợp đồng
và tiếp tục thông qua các giai đoạn trung gian. Quá trình này chỉ chấm dứt sau
khi công trình được quyết toán, bàn giao và đưa vào sử dụng bao gồm cả thời
gian bảo hành sản phẩm. Chi nhánh cạnh tranh trong thị trường xây dựng chủ
yếu thông qua hình thức đấu thầu.
Chi nhánh công ty xây dựng 319 – Bộ Quốc phòng là một trong những đơn vị
xây dựng mạnh trực thộc công ty xây dựng 319 – Bộ quốc phòng. Chi nhánh
có thị trường tương đối rộng rãi ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, uy tín trên
thương trường ngày càng được nâng cao. Đây cũng là một trong những điều
Doanh thu
Giá trị (tr.đ)
Tỷ lệ (%)
Giá trị (tr.đ)
Tỷ lệ (%)
81.798
53,1
77.976
51,3
11.862
7,7
15.352
10,1
60.386
39,2
58.672
38,6
154.046
100
152.000
100
(Nguồn: phòng Kế hoạch – kỹ thuật)
Từ bảng số liệu trên cho thấy, địa bàn hoạt động của Chi nhánh tập
trung nhiều nhất ở khu vực miền Bắc với mức tỷ trọng doanh thu so với cả ở
3 miền trong cả nước chiếm trên 50%, sau đó là khu vực miền Nam trung
bình chiếm 38,9% trong tổng doanh thu toàn Chi nhánh. Điều này cũng dễ
hiểu vì hai khu vực này có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn khu vực
miền Trung, tập trung các đầu mối giao thông quan trọng và do đó nhu cầu về
xây dựng tăng mạnh.
1.4. Đặc điểm về quy trình sản xuất của Chi nhánh Công ty.
Đội xây dựng có nhiệm vụ gắn liền với việc thi công xây dựng các
công trình, do vậy các đặc điểm về công nghệ sản xuất, quy trình sản xuất sản
phẩm có tác động trực tiếp đến công tác tổ chức quản lý. Bất cứ một sự biến
đổi nào của công nghệ sản xuất hay quy trình sản xuất đều đòi hỏi một cơ cấu
quản lý, cơ chế quản ly tương ứng phù hợp. Mỗi một công trình trước khi thi
công đều phải được thiết kế tổ chức thi công có thể do Chi nhánh hoặc các đội
tự thiết kế rồi trình Chi nhánh phê duyệt thông qua.
Dưới đây là sơ đồ tổng quát thể hiện quy trình thực hiện xây dựng công
trình của Chi nhánh công ty xây dựng 319.
Sơ đồ 1: Quy trình thực hiện xây dựng công trình của Chi nhánh
Sinh viên: Trần Thị Bích Hồng
Lớp:CN& XD 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
Giai đoạn
chuẩn bị
thi công
Giai đoạn
thi công
14 GVHD:GS.TS Nguyễn Kế Tuấn
Nghiên cứu cơ hội đấu thầu và lập hồ sơ dự
thầu hoặc chỉ định thầu.
Lập phương án tiến độ thi công.
15 GVHD:GS.TS Nguyễn Kế Tuấn
Chi nhánh Công ty xây dựng 319 là đơn vị sản xuất kinh doanh độc lập,
bộ máy quản lý được tổ chức gọn nhẹ, ban lãnh đạo của Chi nhánh là những
người có năng lực, trình độ trong quản lý và điều hành. Chi nhánh gồm: 05
ban, 09 đội xây dựng, các đội xây dựng đảm nhận thi công các công trình do
Chi nhánh giao.
Sơ đồ 2: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Chi nhánh như sau:
GIÁM ĐỐC CHI NHÁNH
PHÓ GIÁM ĐỐC
CHÍNH TRỊ
PHÓ GIÁM ĐỐC
KẾ HOẠCH – KỸ THUẬT
BAN
KẾ HOẠCH
KỸ THUẬT
Đội
XD
37
Đội
XD
N1
BAN
Đội
XD
N6
Đội
XD
N7
Đội
XD
N8
Trên đây là sơ đồ bộ máy tổ chức của Chi nhánh. Bộ máy quản lý của
Chi nhánh được tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng. Cơ cấu tổ chức bộ
máy quản lý của Chi nhánh như trên có ưu điểm là tập trung được sự quản lý
về một đầu mối đồng thời phát huy được năng lực của các phòng ban chức
Sinh viên: Trần Thị Bích Hồng
Lớp:CN& XD 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
16 GVHD:GS.TS Nguyễn Kế Tuấn
năng. Giám đốc Chi nhánh là người ra quyết định cuối cùng sau khi được sự
tham mưu của các phòng ban chức năng. Tuy nhiên, bộ máy quản lý của Chi
nhánh vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế: thiếu tính đồng bộ, tác phong làm việc
chưa cao, chịu ảnh hưởng nhiều của lề nối làm việc thụ động, quan liêu của
17 GVHD:GS.TS Nguyễn Kế Tuấn
Ngoài các ban ra, Chi nhánh còn có các đội trực thuộc thực hiện nhiệm
vụ trực tiếp thi công các công trình. Hiện tại Chi nhánh có 9 đội xây dựng
trực thuộc: Đội XD N1, Đội XD N2, Đội XD N3, Đội XD N4, Đội XD N5,
Đội XD N6, Đội XD N7, Đội XD N8, Đội XD 37. Trong đó, bao gồm cả
những đội tổng hợp và đội chuyên môn hóa theo sản phẩm xây dựng.
3. Đặc điểm về tình hình tài chính của Chi nhánh
3.1. Tình hình tài chính
Bảng 5: Tình hình tài sản của Chi nhánh
Đơn vị: Triệu đồng.
Chỉ tiêu
2004
2005
2006
2007
Tổng Tài sản
20.651
66.745
87.769
16.322
22.218
27.584
616,749
105,857
137,614
178,899
B. TSCĐ & ĐTDH
2.090
2.284
2.969
3.860
1. TSCĐ
2.090
2.284
Là một doanh nghiệp chủ yếu thi công công trình dân dụng, công nghiệp, các
công trình giao thông... các loại hình này khi thi công đòi hỏi phải có máy móc
trang thiết bị, không thể làm bằng thủ công được vì vậy TSCĐ chiếm tỷ trọng
nhỏ là điểm chưa hợp lý.
3.2 Tình hình nguồn vốn của Chi nhánh
Bảng 6: Tình hình nguồn vốn của Chi nhánh
Đơn vị: Triệu đồng.
Chỉ tiêu
Tổng Nguồn vốn
2004
20.651
2005
66.745
2006
87.769
2007
12.799
A. Nợ Phải trả
20.598
66.111
85.944
25,821
534,165
694,414
902,738
2. Nguồn kinh phí và
quỹ khác
27,211 100,208
1.130
1.069
(Nguồn từ Báo cáo thường niên của Chi nhánh công ty năm2004-2007.)
Nguồn vốn là một trong những yếu tố quan trọng trong việc hình thành
tài sản. Qua bảng về tình hình nguồn vốn của Chi nhánh ta thấy nguồn vốn
chủ sở hữu năm 2004 chiếm có 0,25% nhưng sang đến năm 2005 tăng đáng
kể chiếm 0,95% so với tổng nguồn vốn, và tiếp tục tăng đến lên chiếm 2.1%
Sinh viên: Trần Thị Bích Hồng
Lớp:CN& XD 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
1. Cơ cấu giới tính
Số lượng (người)
Sinh viên: Trần Thị Bích Hồng
Tỷ trọng (%)
440
100
Lớp:CN& XD 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
- Nam
- Nữ
2.Cấp bậc
- Sĩ quan
- QNCN
- CNVQP
- Không cấp bậc
3. Trình độ chuyên môn
- Đại học
- Cao đẳng
- Trung cấp
- Sơ cấp + Bậc thợ
4. Tính chất lao động
- Lao động trực tiếp
38
56
16,8
3,6
8,6
12,7
363
77
82,5
17,5
51
179
210
11,6
40,7
47,7
30
203
207
6,8
46,1
47,1
điều kiện tốt cho họ phát huy hết năng lực của mình. Số còn lại là lao động
giản đơn chiếm phần đông đảo.
Hiện tại, số lao động trong biên chế là 230 người trong đó bao gồm cả
đối tượng lao động hợp đồng không thời hạn chiếm 52,3% . Lao động thời vụ
là 210 người chủ yếu được thuê tại các địa phương nơi công trình thi công và
kết thúc hợp đồng khi công trình hoàn thành đưa vào bàn giao sử dụng.
Cơ cấu lao động theo lứa tuổi ở Chi nhánh tương đối phù hợp, chủ yếu
là đội ngũ lao động trẻ trong độ tuổi 18 – 30 có sức khỏe tốt gắn với lao động
trực tiếp tạo ra sản phẩm chiếm 47,1%; lao động gián tiếp chiếm 46,1% chủ
yếu trong độ tuổi 30 – 50 có kinh nghiệm, trình độ quản lý. Còn lại lao động
trong độ tuổi 50 chiếm tỷ lệ nhỏ 6,8% chủ yếu là các cán bộ sắp nghỉ hưu,có
thâm niên, nhiều kinh nghiệm trong nghề.
Lao động phân bổ trong các phòng ban là những lao động gián tiếp
được phân công nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể đến từng người. Tuy nhiên, vẫn
xảy ra tình trạng người làm, người chơi mà hưởng thành quả làm việc như
nhau. Đây cũng là một thực trạng tiêu cực của Chi nhánh gây ảnh hưởng đến
tâm lý làm việc chung của các thành viên trong ban, không phát huy hết khả
năng của người lao động.
Sinh viên: Trần Thị Bích Hồng
Lớp:CN& XD 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
22 GVHD:GS.TS Nguyễn Kế Tuấn
Số công nhân lao động trong các đội không ngừng được nâng cao cả về
số lượng lẫn chất lượng. Hàng năm, các đội đều có danh sách về nhu cầu lao
Chuyên đề tốt nghiệp
23 GVHD:GS.TS Nguyễn Kế Tuấn
Chi nhánh là một đơn vị trẻ được thành lập từ năm 2004 nên trang thiết
vật tư – xe máy còn hạn chế.
Bảng 8: Một số máy móc thiết bị chính của Chi nhánh:
Stt
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
Loại thiết bị
Cần trục tự hành bánh xích
Cần trục tự hành bánh hơi
05
06
02
90
62
2
04
90
93
02
28
21
12
01
Công suất
4-13 tấn
3-7 tấn
Q=1,2-13 tấn
500kg
500kg
D=0,8-1,2m
60-200 tấn
V=0,25-0,7m3
v-0,2-0,4m3
50m3/h
24-30 tấn
8-12 tấn
L=3,1-3,7m
180m3/h
quả. Hàng tháng, báo cáo kiểm kê định kỳ thực lực trang thiết bị thi công, xe
máy thuộc Chi nhánh cho phòng vật tư – xe máy Công ty đúng qui định; quản
lý và theo dõi số lượng, chất lượng thiết bị thi công, xe máy, giúp đỡ các đội
Sinh viên: Trần Thị Bích Hồng
Lớp:CN& XD 47C
Chuyên đề tốt nghiệp
24 GVHD:GS.TS Nguyễn Kế Tuấn
bảo quản, sửa chữa trang thiết bị thi công đảm bảo an toàn kỹ thuật, kéo dài
tuổi thọ sử dụng trang thiết bị, xe máy.
Tuy nhiên, công tác kiểm tra, đôn đốc bảo quản, đầu tư sửa chữa xe máy
chưa được thường xuyên. Việc quản lý theo dõi về đầu tư sửa chữa xe máy, các
hợp đồng mua bán vật tư vật liệu và trang thiết bị thi công của các đội thuộc Chi
nhánh còn hạn chế.
Đánh giá chung:
Chi nhánh công ty xây dựng 319 đã trải qua nhiều năm xây dựng và
trưởng thành, có bề dày trong công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý và tổ chức
thực hiện nhiệm vụ. Cán bộ CNV trong đơn vị ngày càng trưởng thành, đúc rút
được nhiều kinh nghiệm và trình độ tay nghề được nâng lên, đáp ứng được mọi
yêu cầu.
Địa bàn thi công rộng, mối quan hệ rộng, uy tín trên thương trường ngày
càng được nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình thực hiện nhiệm
vụ của đơn vị.
Có thiết bị khá đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, đáp ứng mọi yêu cầu của các
công trình về mọi qui mô, mức độ phức tạp, mỹ quan và tiến độ công trình.
Dự kiến kế hoạch năm 2009:
+ Sản lượng: 150 tỷ
+ Doanh thu: 161 tỷ
+ Thu hồi vốn:129 tỷ
+ Tỷ suất lợi nhuận: Xây lắp: 2%
+ Thu nhập bình quân của CBCNV: 3.400.000 đồng/người/tháng.
PHẦN II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KHOÁN CHI PHÍ CHO ĐỘI
XÂY DỰNG TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY XÂY DỰNG 319
I. Tổng quan về các Đội tại Chi nhánh.
1. Các căn cứ hình thành đội xây dựng của Chi nhánh.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, qui mô sản xuất của
Chi nhánh được mở rộng, đội xây dựng ngày càng tăng cả về số lượng và chất
lượng để đáp ứng nhu cầu thị trường. Từ khi mới thành lập, Chi nhánh có 5
đội và hiện tại, Chi nhánh có tổng số 9 đội xây dựng: Đội 37; Đội N1; Đội
N2; Đội N3; Đội N4; Đội N5; Đội N6; Đội N7; Đội N8. Trong đó, bao gồm
cả những đội tổng hợp và đội chuyên môn hóa theo ngành.
Sinh viên: Trần Thị Bích Hồng
Lớp:CN& XD 47C