Nghiên cứu hệ thống kênh phân phối sản phẩm thức ăn chăn nuôi tại công ty cổ phần thương mại quốc tế thăng long - Pdf 35

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Với việc chuyển đổi nền kinh tế sang kinh tế thị trường là một bước đi
đúng đắn của Đảng và nhà nước. Cùng với chính sách chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của nước ta hiện nay, tăng tỷ trọng chăn nuôi giảm tỷ trọng trồng trọt
của ngành nông nghiệp thì ngành chăn nuôi ngày càng phát triển. Vì thế nhu
cầu về thức ăn chăn nuôi ngày một tăng, từ khi chuyển dần từ chăn nuôi nhỏ
lẻ sang chăn nuôi tập trung do đó việc sử dụng thức ăn chăn nuôi công nghiệp
là rất cần thiết với người dân.
Bên cạnh đó, nhu cầu thực tế của người dân và sự phát triển mạnh mẽ
của khoa học công nghệ đã tạo động cơ cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi
phát triển vượt bậc. Việc tiêu thụ sản phẩm và đáp ứng được nhu cầu người
tiêu dùng luôn là vấn đề sống còn đối với bất cứ một doanh nghiệp nào.
Doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển nếu như sản phẩm của họ có thể
tiêu thụ được trên thị trường. Vậy một doanh nghiệp muốn tiêu thụ tốt sản
phẩm của mình thì nhất thiết phải có một hệ thống kênh phân phối được thiết
kế xây dựng và quản lý có hiệu quả. Bởi vì để cạnh tranh thành công các
doanh nghiệp không chỉ cung cấp sản phẩm và dịch vụ tốt hơn người cạnh
tranh, mà còn làm tốt hơn khả năng sẵn sàng của sản phẩm ở bất cứ đâu và
bất cứ khi nào để cho người tiêu dùng tiếp cận được sản phẩm. Chỉ có qua
kênh phân phối sản phẩm những khả năng này mới được thực hiện.
Công ty cổ phần thương mại quốc tế Thăng Long là công ty đóng vai
trò quan trọng trong việc cung ứng thức ăn chăn nuôi tới người dân. Trong
thời gian qua công ty luôn cố gắng vươn lên để khẳng định vị thế của mình
trên thị trường nhưng cũng không thể tránh khỏi một số trở ngại. Việc mở
rộng thị trường là hết sức quan trọng với công ty hiện nay, muốn làm được
điều này thì hệ thống kênh phân phối sản phẩm của công ty phải được nghiên

1



1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi về nội dung
Nghiên cứu hệ thống kênh phân phối sản phẩm thức ăn chăn nuôi tại
công ty cổ phần thương mại quốc tế Thăng Long.
1.4.2 Phạm vi về không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống kênh phân phối sản phẩm của
công ty trên khu vực thị trường Phú Thọ và một số tỉnh phía Bắc.
1.4.3 Phạm vi về thời gian
- Thời gian nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu trong khoảng thời gian từ
năm 2007 – 2009.
- Thời gian thực hiện đề tài: từ 12/01/2010 đến 25/05/2010.

3


PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Cơ sở lý luận về thị trường
2.1.1.1 Khái niệm về thị trường
Thị trường xuất hiện cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của sản
xuất và trao đổi hàng hoá. Thực tế có rất nhiều khái niệm khác nhau về thị
trường, ở nhiều phương diện và góc độ khác nhau. Mỗi lĩnh vực cụ thể lại có
những khái niệm riêng mang những nét đặc trưng cho thị trường đó.
Theo quan điểm cổ điển: “Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động trao
đổi buôn bán” hay có thể hiểu đó là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán.
Theo C Mác, ông cho rằng: “Hễ ở đâu và khi nào có phân công lao
động xã hội và có sản xuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy có thị trường”.
Theo quan điểm thương mại truyền thống: “Thị trường là nơi diễn ra
các hoạt động mua bán và chuyển nhượng, là nơi người mua và người bán
gặp gỡ, trao đổi hàng hoá, dịch vụ”.

Nhờ có thị trường quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn
ra liên tục, thị trường là công cụ điều tiết kích thích sản xuất. Thị trường là
cầu nối doanh nghiệp với khách hàng, doanh nghiệp khác, ngành khác, nó
phá vỡ nền kinh tế tự cung tự cấp. Do đó thị trường thực hiện một số chức
năng sau:
Chức năng thừa nhận: Hiệu quả kinh doanh phụ thuộc vào việc sản
phẩm hay dịch vụ của các doanh nghiệp có được thị trường thừa nhận hay
không. Khi sản phẩm, dịch vụ được thị trường thừa nhận là điều kiện để
chúng thực hiện được giá trị của mình và khi đó sản xuất kinh doanh mới có
hiệu quả.
Chức năng thực hiện: Thông qua chức năng này hàng hoá, dịch vụ sẽ
hoàn thành quá trình chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ. Quá
trình trao đổi hay mua bán là quá trình chủ yếu diễn ra trên thị trường. Thông

5


qua quá trình này sản phẩm hay dịch vụ bằng quan hệ cung cầu sẽ hình thành
nên giá cả, cơ sở để thanh toán và điều kiện để thoả mãn nhu cầu.
Chức năng điều tiết kích thích: Lợi nhuận là mục đích cao nhất của quá
trình sản xuất. Lợi nhuận kinh doanh chỉ hình thành thông qua hoạt động thị
trường, vì vậy thị trường vừa là môi trường vừa là động lực để điều tiết kích
thích các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chức năng thông tin: Trên thị trường sẽ hình thành nên hệ thống thông
tin đa chiều. Hệ thống thông tin Marketing là hệ thống hoạt động thường
xuyên của sự tương tác giữa con người, thiết bị và phương tiện kỹ thuật dùng
để thu thập, phân tích, đánh giá, truyền đi những thông tin chính xác kịp thời
và cần thiết để người phụ trách lĩnh vực marketing sử dụng chúng với mục
tiêu lập, tổ chức thực hiện, điều chỉnh kế hoạch marketing và kiểm tra hiệu
quả của hoạt động marketing. Hay đây là chức năng phát tín hiệu của thị

chuyển qua các tổ chức khác nhau. Một số vẫn mô tả kênh phân phối sản
phẩm như là các hình thức liên kết lỏng lẻo của các công ty để cùng thực hiện
một mục đích thương mại. Như vậy tuỳ theo quan điểm sử dụng và mục đích
nghiên cứu, ứng dụng mà có những khái niệm khác nhau:
Theo quan điểm nhà sản xuất: Kênh phân phối là một tập hợp các
doanh nghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau mà qua đó doanh
nghiệp sản xuất thực hiện bán sản phẩm cho người sử dụng hoặc người tiêu
dùng cuối cùng.
Theo quan điểm của nhà trung gian: Kênh phân phối là dòng chảy của
việc chuyển nhượng quyền sở hữu hàng hoá hay dịch vụ qua các cấp trung
gian để đến tay người tiêu dùng.
Theo quan điểm của chức năng phân phối: Kênh phân phối là một hệ
thống hậu cần (logistics) nhằm chuyển một sản phẩm, một dịch vụ hay một
giải pháp đến tay người tiêu dùng ở một thời điểm và một địa điểm nhất định.
Theo quan điểm của chức năng quản trị: Kênh phân phối là một tổ
chức các quan hệ bên ngoài doanh nghiệp để quản lý các hoạt động phân

7


phối, tiêu thụ sản phẩm nhằm đạt các mục tiêu của doanh nghiệp trên thị
trường. Với quan điểm này có thể nhận thấy bốn đặc trưng như sau:
+ Kênh phân phối là tổ chức quan hệ: đề cập đến chức năng đàm phán
của các thành viên trong kênh.
+ Kênh phân phối là tổ chức quan hệ bên ngoài: kênh phân phối chỉ tồn
tại bên ngoài doanh nghiệp, việc tổ chức kênh sẽ liên quan đến việc quản lý
giữa các tổ chức hơn là nội bộ doanh nghiệp. Mối quan hệ trong kênh phân
phối là mối quan hệ giữa các tổ chức chứ không phải là mối quan hệ trong
nội bộ một tổ chức.
+ Kênh phân phối là tổ chức quan hệ bên ngoài để quản lý các hoạt

xuất và người tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ. Các thành viên trong kênh thực
hiện một hay một số các chức năng chủ yếu sau đây của kênh phân phối:
Chức năng nghiên cứu thị trường: nhằm thu thập những thông tin cần
thiết cho việc thiết lập các chiến lược phân phối sản phẩm. Nghiên cứu thị
trường còn giúp nắm bắt nhanh nhạy những thông tin của các đối thủ trên thị
trường, cũng như phản hồi của người tiêu dùng; từ đó có những điều chỉnh
kịp thời và hiệu quả.
Chức năng kích thích tiêu thụ: quá trình phân phối thực hiện hoạt động
truyền bá các thông tin về hàng hoá và các chương trình khuyến khích tiêu
thụ khác đến với khác hàng và trung gian.
Tiếp xúc, thiết lập mối quan hệ: các công ty phải thực hiện các quan hệ
tiếp xúc để xác định ai là người mua hàng ở các giai đoạn khác nhau trong
kênh. Thông báo cho khách hàng biết các thông tin, thiết lập mối quan hệ
thương mại và nhận các đơn đặt hàng.
Thích ứng, hoàn thiện sản phẩm: Các thành viên của kênh thực hiện
các hoạt động nhằm gia tăng hiệu quả của quá trình trao đổi, tăng tính thích
ứng và hoàn thiện sản phẩm thông qua các hoạt động như: phân loại hàng
hoá, đóng gói, cung cấp các dịch vụ bảo hành, tư vấn…

9


Thương lượng: thông qua việc thực hiện các thoả thuận, đàm phán liên
quan đến giá cả và các điều kiện bán hàng, thực hiện việc chuyển giao sở hữu
hàng hoá và dịch vụ.
Lưu thông hàng hoá: thông qua hoạt động vận chuyển, bảo quản và lưu
kho hàng hoá làm cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Điều hoà cung cầu giữa
các khu vực thị trường và giữa các thời điểm tiêu dùng khác nhau.
Tài chính, trang trải chi phí: thông qua hoạt động bán hàng thu tiền,
tìm kiếm các nguồn tài chính trang trải cho các hoạt động sản xuất và hoạt

trị cao thì kênh phân phối này không phù hợp.

Doa
nh
nghiệ
p

Đại lý công ty

Lực lượng bán
hàng của DN

Ng
ười
tiêu
dùn
g
Sơ đồ 2.1: Dạng kênh phân phối trực tiếp
- Kênh phân phối gián tiếp: là kênh có trung gian tham gia, trung gian
chính là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Trong một kênh có
thể có một hay nhiều trung gian khác nhau. Nhờ có các trung gian mà sản
phẩm được phân phối ở nhiều thị trường, tạo nên mạng lưới phân phối hợp lý
có hiệu quả tăng cường sự phát triển của thương mại dịch vụ.

11


Doanh nghiệp
Đại lý



12


nhưng không có quá nhiều người trung gian xen giữa khách hàng và doanh
nghiệp.
- Kênh phân phối dài: là kênh phân phối có sự tham gia của nhiều cấp
trung gian. Hàng hoá của doanh nghiệp có thể được chuyển dần sở hữu cho
một loạt các nhà buôn lớn đến nhà buôn nhỏ hơn rồi qua nhà bán lẻ đến tay
người tiêu dùng cuối cùng.
Như vậy, doanh nghiệp có thể tuỳ ý lựa chọn dạng kênh phân phối cho
mình. Nhưng để có hiệu quả thì cần phải nắm được ưu nhược điểm của các
dạng kênh đối với doanh nghiệp mình. tuỳ vào loại hình doanh nghiệp, quy
mô, nguồn lực tài chính mà đưa ra các quyết định lựa chọn phù hợp.
2.2.2.5 Cấu trúc của kênh phân phối


Khái niệm cấu trúc kênh phân phối

Cấu trúc kênh phân phối là một nhóm các thành viên của kênh mà các
công việc phân phối được phân bổ cho họ.


Vai trò của cấu trúc kênh phân phối

Việc quyết định cấu trúc của một hệ thống kênh phân phối là vô cùng
quan trọng trong các quyết định chiến lược của mỗi doanh nghiệp. Cấu trúc
kênh phân phối cũng là một biến số cực kỳ quan trọng và phức tạp của chiến
lược Marketing mix của doanh nghiệp. Do vậy cấu trúc của một hệ thống
kênh phân phối được xem xét trong mối quan hệ tác động hữu cơ qua lại với

thành viên khác hoặc thông qua việc chia sẻ lợi ích cho các thành viên tham
gia trong kênh.
- Cấu trúc kênh phân phối theo chiều ngang: được hình thành do hai
hay nhiều doanh nghiệp ở một cấp hợp lại với nhau để khai thác cơ hội kinh
doanh mới xuất hiện trên thị trường. Các doanh nghiệp có thể làm việc với
nhau trên cơ sở tạm thời hay lâu dài hoặc lập thành một doanh nghiệp riêng
gọi là doanh nghiệp cộng sinh.
Cấu trúc này có một số hạn chế nhất định: khó khăn trong phối hợp
hoạt động; khó thích ứng với một thị trường luôn biến động; khó tăng cường
vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Cấu trúc kênh phân phối đa kênh

14


Phân phối đa kênh là cấu trúc phân phối theo đó các doanh nghiệp sử
dụng hai hay nhiều kênh phân phối cho những nhóm khách hàng khác nhau.
Bằng cách sử dụng cùng lúc nhiều kênh phân phối, doanh nghiệp có thể tăng
được phạm vi bao quát thị trường và gia tăng khả năng thoả mãn theo ý muốn
của khách hàng.
Các doanh nghiệp thường bổ sung thêm một kênh phân phối nhằm tiếp
cận được một nhóm khách hàng mà kênh phân phối hiện có chưa vươn tới
được, hoặc bổ sung thêm một kênh phân phối mới để giảm chi phí bán hàng
cho một nhóm khách hàng hiện có.
Tuy nhiên, những kênh phân phối mới cũng gây ra những khó khăn
nhất định trong việc quản trị hệ thống kênh, như việc phát sinh mâu thuẫn khi
các kênh phân phối tranh giành nhau cùng một nhóm khách hàng, và việc
kiểm soát phức tạp hơn khi những kênh phân phối mới mang tính độc lập
hơn.
2.2.2.6 Các thành viên của kênh

- Trung gian bán buôn: Trung gian bán buôn là những doanh nghiệp và
cá nhân mua hàng hoá để bán lại cho các doanh nghiệp hoặc tổ chức khác
(các nhà bán lẻ, bán buôn, các doanh nghiệp sản xuất, các tổ chức xã hội, cơ
quan nhà nước). Người bán buôn có ba loại chính sau:
+ Người bán buôn sở hữu hàng hoá thực sự: là các doanh nghiệp kinh
doanh độc lập về sở hữu. Họ tham gia kênh phân phối với các chức năng
mua, sở hữu hàng hoá, dự trữ và quản lý sản phẩm với khối lượng lớn, và bán
lại với khối lượng nhỏ hơn cho các khách hàng là những đơn vị kinh doanh
khác.
+ Đại lý, môi giới và nhà bán buôn hưởng hoa hồng: là những doanh
nghiệp kinh doanh độc lập, đảm nhiệm hoạt động phân phối sỉ, tham gia đàm
phán nhưng không sở hữu hàng hoá. Họ chỉ được nhận một khoản tiền hoa
hồng hoặc lệ phí nhất định trên doanh số bán ra.

16


+ Chi nhánh và đại diện bán của nhà sản xuất: là các tổ chức của nhà
sản xuất đặt tại các khu vực thị trường với chức năng thay mặt nhà sản xuất
bán sỉ sản phẩm của họ. Quyền sở hữu hàng hoá và điều hành hoạt động phân
phối đều do nhà sản xuất đảm nhiệm.
- Người trung gian bán lẻ: trung gian bán lẻ bao gồm các doanh nghiệp
và cá nhân kinh doanh bán sản phẩm hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu
dùng cuối cùng là cá nhân hoặc hộ gia đình.
Người bán lẻ trong kênh phân phối có vai trò phát hiện nhu cầu của
khách hàng, tìm kiếm và bán những sản phẩm hoặc dịch vụ mà khách hàng
mong muốn ở thời gian, địa điểm và theo một cách thức nhất định.
Chức năng của trung gian bán lẻ là tiếp xúc với khách hàng, phát hiện
nhu cầu tiêu dùng, thu thập thông tin thị trường về phản hồi các thông tin này
cho nhà sản xuất; thực hiện bán hàng quảng cáo và trưng bày sản phẩm; phân

công ty nên tránh sử dụng trung gian”.
- Mật độ thị trường: được xác định bởi số lượng khách hàng và khách
hàng tiềm năng trên một đơn vị địa lý. Một thị trường có 10.000 khách hàng
trên 10 km2 sẽ có mật độ cao hơn một thị trường có số lượng tương tự nhưng
trên diện tích là 30 km2. Nhìn chung, mật độ thị trường càng thấp thì phân
phối càng khó khăn và tốn kém.
- Hành vi thị trường: hành vi thị trường bao gồm 4 yếu tố phụ trợ: thị
trường mua khi nào, thị trường mua ở đâu, thị trường mua như thế nào và ai
mua. Mỗi hành vi của khách hàng có thể có những ảnh hưởng khác nhau đến
cẩu trúc kênh.
Thứ hai, về sản phẩm
Các biến số sản phẩm là một trong những nhân tố quan trọng ảnh
hưởng tới việc lựa chọn các kênh phân phối sản phẩm. Một biến số sản phẩm
quan trọng đó là: kích cỡ, trọng lượng, tính dễ hư hỏng, giá trị đơn vị, mức độ
tiêu chuẩn hoá, kỹ thuật và tính mới lạ.
- Thể tích và trọng lượng: các sản phẩm nặng và cồng kềnh có chi phí
bốc dỡ và chuyên trở rất lớn tương ứng với giá trị của nó. Do vậy, cấu trúc

18


kênh cho các sản phẩm nặng và cồng kềnh theo nguyên tắc chung là càng
ngắn càng tốt. Điều này có nghĩa là trực tiếp từ người sản xuất đến người sử
dụng. Tuy nhiên, trừ trường hợp khách hàng mua với khối lượng nhỏ và cung
cấp nhanh thì cần sử dụng một số hình thức trung gian.
- Tính dễ hư hỏng: cấu trúc kênh nên được thiết kế sao cho sản phẩm
nhanh chóng được vận chuyển từ người sản xuất đến người tiêu dùng.
- Giá trị đơn vị sản phẩm: Nhìn chung, giá trị đơn vị sản phẩm càng
nhỏ thì các kênh nên càng dài hơn. Bởi vì giá trị đơn vị thấp chỉ dành phần
nhỏ cho chi phí phân phối. Do đó việc lựa chọn kênh tiêu thụ sản phẩm nên

hoạt động của hệ thống kênh phân phối chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố
khác nhau. Các nhân tố ảnh hưởng gồm nhân tố thuộc môi trường bên ngoài
và môi trường bên trong của doanh nghiệp. các yếu tố này có tác động qua lại
với nhau.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thị trường thức ăn chăn nuôi
Bước sang nền kinh tế thị trường thì sản xuất hàng hoá là sách lược
quan trọng và cần thiết. Nước ta phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào phát triển
sản xuất nông nghiệp, trong những năm qua nông nghiệp đã đóng góp rất lớn
vào mức tăng trưởng kinh tế của đất nước (Ngành nông nghiệp hiện tại chiếm
22% GDP và hơn 60% nguồn lao động). Với chủ trương đẩy mạnh phát triển
sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp đang được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và chính phủ. Trong
đó với chính sách đẩy mạnh phát triển chăn nuôi cũng được sự quan tâm và
đầu tư rất lớn. Cụ thể, Với mục tiêu tăng cường năng lực cạnh tranh cho
ngành chăn nuôi Việt Nam, ngày 10/12/2009, Ngân hàng nhà nước Việt Nam
và ngân hàng thế giới đã ký kết một hiệp định tín dụng, qua đó ngân hàng thế
giới sẽ cung cấp khoản tín dụng 65,26 triệu USD trong tổng số 79,03 triệu đô
USD vốn đầu tư dành cho Dự án cạnh tranh chăn nuôi và an toàn thực phẩm.
Tính đến đầu năm 2007, cả nước có 17.721 trang trại (chưa kể những
trang trại chuyên chăn nuôi thỏ, lợn rừng, nhím và các loại động vật sống

20


trong nước ngoài cá), trong đó có 7.475 trang trại chăn nuôi lợn, 2.837 trang
trại chăn nuôi gia cầm, 6.405 trang trại chăn nuôi bò (có 2.011 trang trại chăn
nuôi bò sữa), 247 trang trại chăn nuôi trâu, 757 trang trại chăn nuôi dê. Chăn
nuôi trang trại đang trên đà phát triển mạnh, số liệu tổng kết cho thấy, chăn
nuôi nhỏ lẻ đáp ứng đến 60% nhu cầu tiêu dùng trong nước, đồng thời là

tháng năm 2009 đã có 9 đợt thức ăn chăn nuôi tăng giá gây không ít khó khăn
cho người chăn nuôi.
Tại các tỉnh phía Bắc, giá thức ăn cho gà và lợn đang dao động khoảng
143.000-145.000đồng/bao loại 25kg (tăng 22.000-28.000đồng/bao, so với
đầu năm); thức ăn cho bò tăng 10.000-12.000đồng/bao 25kg. Nguyên nhân
giá thức ăn chăn nuôi tăng chủ yếu là do giá nguyên liệu đầu vào tăng. Theo
cục chăn nuôi (Bộ NN&PTNT), giá ngô- nguyên liệu chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong thành phần thức ăn chăn nuôi (35%); giá ngô nhập khẩu tăng khoảng
56%/năm. Một số nguyên liệu nhập khẩu khác cũng tăng mạnh: cám gạo tăng
41%; tấm gạo tăng 36%, khô dầu đỗ tương tăng 21%. Bên cạnh đó cước vận
chuyển, tiền lưu kho, bến bãi…cũng tăng đáng kể. Theo cục chăn nuôi, giá
nguyên liệu nhập khẩu thời điểm hiện nay so với cùng kỳ năm ngoái đã tăng
trung bình 37,7%. Điều đó khiến giá thức ăn chăn nuôi trong nước tăng
chóng mặt: TĂCN hỗn hợp tăng 11,8%; TĂCN đậm đặc tăng 4,5%(có nơi
đến 15%). (Đức Kế, 2007).
Một thực tế là ngành sản xuất thức ăn gia súc trong nước vẫn phải nhập
một lượng lớn nguyên liệu từ nước ngoài. Theo thống kê của cục chăn nuôi
thì hiện nay, nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi chỉ đáp ứng được 70 % so
với nhu cầu còn 30% là phải nhập khẩu. Theo tính toán thì bình quân mỗi
năm Việt Nam sẽ phải nhập khẩu đến 1,5 tỷ USD nguyên liệu và nhập gần
như 100% nguyên liệu dùng cho sản xuất thức ăn hỗn hợp. Do vậy, việc phải
nhập khẩu thức ăn là đương nhiên. Việc quá phụ thuộc vào nguồn nguyên
liệu nhập khẩu đã khiến thị trường trong nước biến động theo giá thế giới.
(Hồng Liên – Quang Diệu, 2009).

22


Như vậy, với tình hình thị trường như hiện nay thì làm thế nào để thức
ăn chăn nuôi đảm bảo chất lượng, giá cả hợp lý thì đòi hỏi cần phải có hệ

vực nông nghiệp và thực phẩm. ( />Một trong những chiến lược chính trong kinh doanh của Cargill là xây
dựng hệ thống phân phối mạnh và phủ sóng khắp toàn quốc. Cargill luôn xem
các nhà phân phối là những đối tác quan trọng trong công cuộc kinh doanh.
Mối quan hệ đối tác giữa Cargill và các nhà phân phối luôn được củng cố và
phát triển tốt đẹp dựa trên 3 giá trị căn bản mà Cargill áp dụng trên toàn cầu.
Đó là: tính nhất quán, sự tôn trọng lẫn nhau và khát vọng thành công.
Đối với các nhà chăn nuôi & nuôi trồng thủy sản, chiến lược của
Cargill luôn cung cấp những sản phẩm có chất lượng cao và ổn định. Với sự
hỗ trợ của Trung Tâm Nghiên Cứu Dinh Dưỡng của Cargill tại tổng hành
dinh Meneapolis Hoa Kỳ, hàng năm Cargill luôn ứng dụng công nghệ mới
vào các sản phẩm của mình để không ngừng gia tăng và cải tiến chất lượng
sản phẩm cũng như giới thiệu những sản phẩm mới mang tính đột phá, giúp
nhà chăn nuôi tăng năng suất khi sử dụng sản phẩm Cargill, giảm chi phí thức
ăn đầu vào và mang lại chất lượng đầu ra (chất lượng thịt tốt nhất).
Bên cạnh đó, các tập đoàn công ty lớn có tác động mạnh mẽ đến chính
sách của chính phủ. Các công ty vừa và nhỏ vận động xung quanh hệ thống
thị trường và được chính phủ hỗ trợ. Do đó các công ty vừa và nhỏ thường
nhập khẩu hàng hoá và bán theo một số cách thức sau:
Phân phối trực tiếp xuống các cửa hàng bán lẻ. Theo cách này thì
thông qua nhà nhập khẩu hàng hoá được bán trực tiếp cho các nhà bán lẻ.
Cách bán hàng này rất có hiệu quả khi hàng hóa có nhu cầu mạnh và có lợi
nhuận cao.
Bán hàng cho nhà phân phối. Các nhà phân phối thường có hệ thống
phân phối rộng khắp một khu vực hoặc nằm trong nhóm ngành công nghiệp
nào đó. Họ có khả năng bán hàng nhanh chóng trong thời điểm ngắn. Nhưng

24


qua cách này người bán phải chia sẻ bớt lợi nhuận của mình cho các nhà phân



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status