ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯƠNG VŨ ĐỨC
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI VỤ TRỒNG ĐẾN KHẢ
NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG SẮN MỚI
HL2004-28 TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Khoa học cây trồng
Khoa
: Nông học
Khóa học:
: 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình, em đã nhận được sự quan
tâm của nhiều tập thể và cá nhân. Em xin tỏ lòng biết ơn và kính trọng tới Ban
giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và tập thể các thầy giáo, cô
giáo Khoa Nông học đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ em trong
quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo
GS.TS. Trần Ngọc Ngoạn phó hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên và cô giáo ThS. Hoàng Kim Diệu đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và
giúp đỡ em vượt qua khó khăn để hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Em cũng chân thành cảm ơn bạn bè và gia đình đã luôn động viên giúp
đỡ em về tinh thần, vật chất trong quá trình học tập và thời gian thực hiện
luận văn tốt nghiệp cuối khóa học.
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Lương Vũ Đức
DANH MỤC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN
Trang
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng và thành phần hóa học trong một số loại
cây trồng dùng làm thức ăn cho gia súc .......................................... 5
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới từ năm 2008 2012 ................................................................................................. 6
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của những nước trồng sắn chính
trên thế giới năm 2012 .................................................................... 7
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam giai đoạn 2007 2012 ................................................................................................. 9
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các vùng trong cả nước
năm 2012 ....................................................................................... 10
Bảng 2.6: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của Thái Nguyên giai đoạn
2008 - 2012 ................................................................................... 12
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
CIAT
FAO
IITA
NSSVH
NSCT
NSTB
NSCK
NSTL
TLCK
TLTB
: Trung tâm quốc tế nông nghiệp nhiệt đới
: Tổ chức nông nghiệp và lương thực thế giới
: Viện quốc tế nông nghiệp nhiệt đới
: Năng suất sinh vật học
: Năng suất củ tươi
: Năng suất tinh bột
: Năng suất củ khô
: Năng suất thân lá
: Tỷ lệ chất khô
: Tỷ lệ tinh bột
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích của đề tài .................................................................................... 2
4.3. Ảnh hưởng của thời vụ trồng sắn đến tốc độ sinh trưởng của giống sắn
mới HL2004-28 ............................................................................................... 28
4.3.1. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của
giống sắn HL2004-28 ...................................................................................... 28
4.3.2. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tốc độ ra lá ...................................... 30
4.4. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến đặc điểm nông sinh học của giống sắn
HL2004-28 ...................................................................................................... 32
4.4.1. Chiều cao thân chính ............................................................................. 33
4.4.2. Chiều dài các cấp cành .......................................................................... 33
4.4.3. Chiều cao cây cuối cùng ....................................................................... 34
4.4.4. Đường kính gốc ..................................................................................... 35
4.4.5. Tổng số lá trên cây ................................................................................ 35
4.5. Ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
giống sắn HL2004-28 ...................................................................................... 35
4.5.1. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất của
giống sắn mới HL2004-28 .............................................................................. 36
4.5.2. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất củ tươi, năng suất thân lá,
năng suất sinh vật học và hệ số thu hoạch của giống sắn HL2004-28 ............... 38
4.5.3. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến chất lượng của giống sắn mới
HL2004-28 ...................................................................................................... 41
4.6. Ảnh hưởng của thời vụ đến hiệu quả kinh tế của giống sắn HL2004-28 ...... 44
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ........................................................... 46
5.1. Kết luận .................................................................................................... 46
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 48
1
PHẦN 1
2
sắn của Việt Nam hiện đạt 600 - 800 nghìn tấn, trong đó có khoảng 70% dành
cho xuất khẩu và 30% tiêu thụ trong nước (Trần Ngọc Ngoạn, 2007).
Một trong những tồn tại của sản xuất sắn ở Việt Nam hiện nay là năng
suất sắn ở địa phương vẫn còn thấp hơn nhiều so với tiềm năng năng suất của
các giống sắn mới. Lí do là người dân thường quan niệm sắn là cây dễ trồng,
thích ứng rộng, ít sâu bệnh, chịu đất chua, nghèo dinh dưỡng và không đòi hỏi
kỹ thuật phức tạp nên chưa chú ý đầu tư thâm canh, chọn giống và thời vụ
trồng thích hợp với giống sắn. Để phục vụ cho chiến lược phát triển sắn bền
vững ở Việt Nam, ngoài việc nghiên cứu về giống, kỹ thuật trồng sắn, việc
nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố thời vụ đến khả năng sinh trưởng, phát triển
và năng suất của các giống sắn là vấn đề rất cần thiết. Chính vì những thực tế
trên, em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ
trồng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống sắn mới HL2004-28
tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích của đề tài
Xác định thời vụ trồng thích hợp cho giống sắn HL2004-28 để đáp ứng
nhu cầu nguyên liệu cho các nhà máy chế biến tinh bột sắn hiện nay ở các tỉnh
Trung du và miền núi phía Bắc.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá ảnh hưởng của thời vụ trồng đến khả năng sinh trưởng, phát
triển của giống sắn mới HL2004-28.
- Đánh giá ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất, chất lượng của
giống sắn mới HL2004-28.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các giống sắn tham gia thí nghiệm.
1.4. Ý nghĩa đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được củng cố và hệ thống
cho biết cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ Latinh (Crantz,
1976) và được trồng cách đây khoảng 5000 năm (CIAT,1993).
Trung tâm phát sinh của cây sắn được giả thuyết tại Đông Bắc Brazil
thuộc lưu vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại
(Đecanola, 1986; Roger, 1965).
Trung tâm phân hóa phụ của cây sắn có thể tại Mehico, Trung Mỹ và
ven biển các nước Nam Mỹ. Bằng chứng là những di tích khảo cổ ở
Venezuela niên đại 2700 năm trước công nguyên, những lò nướng bánh sắn
trong phức hệ Malabo ở phía bắc Colombia niên đại khoảng 1200 năm trước
công nguyên, những hạt tinh bột sắn ở trong phần hóa thạch được phát hiện
tại Mehico có tuổi khoảng 900 năm đến 200 năm trước công nguyên (Roger
và Appan, 1973).
Các công trình nghiên cứu gần đây của nhiều tác giả kết luận rằng: Cây
sắn có nguồn gốc phức tạp và có bốn trung tâm phát sinh đó là: Brazil có hai
trung tâm, còn lại là ở Mehico và Bolivia.
Cây sắn được người Bồ Đào Nha đưa đến Congo của châu Phi vào
thế kỷ 16. Tài liệu nói tới sắn ở vùng này là của Barre và Thevet viết năm
1558. Ở Châu Á, sắn được du nhập vào Ấn Độ khoảng thế kỷ 17 (P.G.
Rajendran et al, 1995) và Sri Lanka đầu thế kỷ 18 (W.M.S.M Bandara và
M Sikurajapathy, 1992). Sau đó, sắn được trồng ở Trung Quốc, Myanma và
các nước châu Á khác ở cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 (Fang Baiping, 1992;
U Thun Than, 1992).
5
Ở Việt Nam cây sắn được du nhập vào khoảng thế kỷ thứ 18 (Phạm Văn
Biên, Hoàng Kim) và được canh tác phổ biến ở hầu hết các tỉnh của Việt Nam
từ Bắc đến Nam. Diện tích sắn trồng nhiều nhất ở vùng Bắc Trung Bộ và duyên
hải miền Trung, vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng Trung du và miền núi
(%)
(%)
(%)
(%)
(Kcal/đvtă)
Thân lá cỏ voi non 11,80
2,20
3,20
0,04
0,02
240
Cây ngô non
13,10
1,40
3,40
0,08
0,03
285
Lá cây keo dậu
25,53
6,94
3,63
0,37
0,07
707
Lá cỏ Stylo
20,10
4,10
3,30
0,40
Bã sắn ướt
20,36
0,50
1,71
0,04
0,03
468
(Nguồn: FeedPig/2001_VCN 30/12/2000 Viện Chăn Nuôi)
6
Qua số liệu ở bảng 2.1 ta thấy lượng vật chất khô của củ sắn cả vỏ, lá
sắn, bột lá sắn, bã sắn ướt đều cao hơn so với một số cây thường dùng làm
thức ăn cho gia súc khác. Đặc biệt trong củ sắn cả vỏ có hàm lượng chất khô,
protein thô, xơ thô, canxi, photpho và năng lượng trao đổi đều cao hơn hẳn so
với các loại thức ăn khác. Điều này chứng tỏ thành phần dinh dưỡng trong củ
sắn là rất cao, đáp ứng được nhu cầu trong khẩu phần ăn của vật nuôi.
2.2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam
2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới
Trên thế giới sắn là cây quan trọng được xếp đứng thứ năm sau cây
ngô, lúa gạo, lúa mì và khoai tây.
Diện tích sắn trên toàn thế giới năm 2012 đạt 19,99 triệu ha, năng suất
bình quân 12,83 tấn/ha, sản lượng 256,53 triệu tấn. Diện tích, năng suất và sản
lượng sắn trên thế giới 5 năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.2 như sau:
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới
từ năm 2008 - 2012
Diện tích
Năng suất
240,66
2011
20,06
12,78
256,40
2012
19,99
12,83
256,53
Năm
(Nguồn: FAOSTAT, 2013)
Qua bảng số liệu 2.2 ta thấy:
Từ năm 2008 đến năm 2012 diện tích sắn đã tăng 1,13 triệu ha, năng
suất tăng 0,05 tấn/ha nên sản lượng sắn đã tăng 24,989 triệu tấn. Tuy vậy có
thể nhận thấy diện tích năm 2012 giảm so với năm 2011 là 0,069 triệu ha.
Qua đó ta thấy rằng cây sắn hiện nay đang bị thu hẹp về diện tích song vẫn
phát triển cả về năng suất và sản lượng. Có được kết quả đó là do chiến lược
13,379
10,93
146,217
Nigeria
3,850
14,03
54,000
Cộng hòa Congo
2,200
7,27
16,000
Angola
1,062
10,07
10,636
23,414
Paraguay
0,183
13,99
2,560
Colombia
0,212
10,74
2,274
Peru
0,092
12,11
1,119
Haiti
0,155
0,551
17,69
9,746
Ấn Độ
0,221
36,48
8,076
Trung Quốc
0,280
16,29
4,56
Campuchia
0,208
21,69
4,500
Ở Việt Nam, sắn là một trong bốn cây trồng có vai trò quan trọng
trong chiến lược an toàn lương thực quốc gia sau lúa và ngô (Phạm Văn
Biên, 1998). Và là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo
do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp với sinh thái và điều
kiện kinh tế nông hộ.
Tình hình sản xuất sắn ở Việt Nam giai đoạn 2007 - 2012 được thể hiện
ở bảng 2.4 dưới đây:
9
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam
giai đoạn 2007 - 2012
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(nghìn ha)
(tấn/ha)
(triệu tấn)
2007
495,5
16,53
17,73
9,898
2012
550,6
17,69
9,745
Năm
(Nguồn: FAOSTAT, 2013)
Qua số liệu ở bảng 2.4 cho thấy tình hình sản xuất sắn qua các năm so
với năm 2007 tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Năm 2007 có diện
tích trồng sắn là 495,5 nghìn ha, năm 2012 là 550,6 nghìn ha, tăng so với năm
2007 là 55,1 nghìn ha đánh dấu sự gia tăng năng suất từ 16,53 tấn/ha trong
năm 2007 lên 17,69 tấn/ha vào năm 2012.
Ở nước ta khoảng 66% diện tích của sắn được trồng trên đất đồi núi,
40% diện tích còn lại được trồng trên các loại đất khác. Sắn ưa đất có độ pH
từ 4,5 - 6,0. Tại miền Bắc Việt Nam, sắn được trồng chủ yếu ở khu vực có địa
hình đồi núi và khoảng 68% của diện tích trồng sắn là đất đá và 12% có đất
cát pha tương ứng. Trong khi đó sắn ở miền Nam Việt Nam được trồng chủ
yếu trên đất cát màu xám, các loại đất này phẳng và nghèo chất dinh dưỡng,
các khu vực ven biển miền Trung và Đông Nam Bộ, chiếm khoảng 60% diện
tích sắn toàn miền Nam. Trong khi đó hơn 30% diện tích sắn được trồng ở
Tây Nguyên và Đồng Nai, Bình Phước của khu vực Đông Nam Bộ trên đất đỏ
117,0
127,1
1 486,5
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung
174,9
346,0
3 027,5
Tây Nguyên
149,5
170,0
2 542,0
Đông Nam Bộ
96,0
258,9
2 485,1
(vùng sắn huyện Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Sơn Hà), Bình Định
(vùng sắn huyện Phù Cát, Tây Sơn, Vân Canh) và Phú Yên (vùng sắn huyện
Đồng Xuân, Sông Hinh và Tuy Hòa).
11
- Vùng Tây Nguyên: Có diện tích sắn lớn thứ 2 cả nước, với ưu thế về
điều kiện tự nhiên và con người, diện tích sắn liên tục tăng mạnh trong thời
gian qua. Năm 2012, diện tích sắn toàn vùng đạt 149,5 nghìn ha (chiếm
27,16% diện tích toàn quốc), năng suất 170,0 tạ/ha, sản lượng ước đạt trên 2,5
triệu tấn củ tươi (chiếm 26,08% tổng sản lượng sắn toàn quốc). Diện tích tập
trung tại một số tỉnh: Kon Tum (vùng sắn huyện Đắk Tô, Đắk Hà, Ngọc Hồi và
Sa Thầy), Gia Lai (vùng sắn huyện An Khê, Măng Yang, Chư Prông, Krông Pa
và Đức Cơ), Đắc Lắc (vùng sắn huyện Ea Kar, MDrăk, Đăk Song, Đăk Lấp,
Đăk Nông và Krông Bông).
- Vùng Đông Nam Bộ: Là vùng có NSTB cao thứ 2 toàn quốc, diện tích
tăng liên tục trong thời gian qua, đặc biệt từ năm 2000 đến nay do nhu cầu sắn
nguyên liệu cho các nhà máy chế biến tinh bột tăng cao, việc đầu tư thâm canh
cây sắn đã mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn một số cây trồng khác trong cùng
điều kiện như mía, lúa 1 vụ… người trồng sắn đã bắt đầu có tích lũy và làm giàu
nhờ nghề trồng sắn. Năm 2012 diện tích toàn vùng đạt 96,0 nghìn ha (chiếm
17,4% diện tích toàn quốc), năng suất 258,9 tạ/ha, sản lượng đạt 2,485 triệu tấn
củ tươi (chiếm 25,5% tổng sản lượng toàn quốc). Diện tích tại một số tỉnh như:
Tây Ninh (vùng sắn ở huyện Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu và Châu
Thành), Đồng Nai (vùng sắn ở huyện Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Đông Phú, Phước
Long, Lộc Ninh, Bù Đăng và Bình Long), Bà Rịa - Vũng Tàu (vùng sắn huyện
Xuyên Mộc), Bình Thuận (vùng sắn huyện Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm
Thuận Nam, Tánh Linh, Hàm Tân và Đức Linh), Ninh Thuận (vùng sắn ở huyện
Bắc Ái).
Năng xuất
Sản lượng
(nghìn ha)
(tạ/ha)
(nghìn tấn)
2008
4,1
105,6
43,3
2009
3,9
131,3
51,2
2010
3,9
càng phát triển nhất là ngành chế biến tinh bột và ethanol thì sắn được coi là một
trong những cây trồng cho thu nhập cao. Tổng diện tích trồng sắn của tỉnh Thái
Nguyên đạt 4,1 nghìn ha, mặc dù từ năm 2008 đến năm 2012 diện tích trồng sắn
của tỉnh giảm từ 4,1 nghìn ha xuống còn 3,8 nghìn ha nhưng năng suất sắn lại tăng
từ 105,6 lên 146,8 tạ/ha, sản lượng tăng từ 43,3 nghìn tấn lên 55,8 nghìn tấn. Điều
này cho thấy một bước tiến bộ vượt bậc trong công tác nghiên cứu và áp dụng vào
thực tiễn sản xuất. Từ đó ta thấy người dân nơi đây đã và đang sử dụng những
giống sắn mới cho năng suất cao, chất lượng tốt, tỷ lệ tinh bột cao và áp dụng vào
sản xuất những biện pháp kỹ thuật canh tác sắn thích hợp, bền vững.
2.3. Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống sắn trên thế giới và Việt Nam
2.3.1. Tình hình nghiên cứu sắn trên thế giới
Trước đây, sắn được coi là một cây màu lương thực vì vậy thường được
phát triển trên diện rộng. Sắn là cây trồng của người nghèo và được sản xuất
bởi người nông dân nghèo nên có thời gian sắn bị lãng quên ở cộng đồng các
nước phát triển.
Đến năm 1970, với sự thành lập chương trình nghiên cứu sắn của CIAT
ở tại các nước Colombia và IITA (International institute for Tropical
Agriculture) ở Nigieria.
Trên thế giới sắn được trồng chủ yếu bằng hom nên có lợi thế về mặt
duy trì các tính trạng tốt qua các thế hệ sinh sản vô tính (dòng vô tính) song
lại có khó khăn là hệ số nhân giống của sắn rất thấp (trung bình là 1:7). Quá
trình chọn tạo giống sắn cần phải có ít nhất 6 năm để xác định được dòng sắn triển
vọng (Trần Ngọc Ngoạn, 1995), (Trần Ngọc Ngoạn và cs, 2004). Nguồn gen và
cơ cấu giống sắn phù hợp cho mỗi vùng sinh thái có ý nghĩa quan trọng
hàng đầu trong công tác cải tiến giống sắn. Sự phong phú, đa dạng về
nguồn gen và phương pháp chọn, tạo vật liệu giống sắn triển vọng là cơ sở
để tạo ra giống tốt.
Trên thế giới, việc nghiên cứu giống sắn được thực hiện chủ yếu ở
Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới - CIAT tại Colombia, Viện
Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới - IITA tại Nigeria, cùng với các Trường,
Institute Tropical Agriculture) đặt tại Nigieria đã qua thu thập, đánh giá,
bảo quản 1.286 mẫu giống, vật liệu đã chọn lọc và đưa vào sản xuất một số
giống sắn chống chịu virus có năng suất cao hơn giống địa phương 2 đến 3
lần (Phan Kim Sơn, 2008).
15
Ở Châu Phi, CIAT phối hợp với IITA và các nước Nigeria, Congo,
Ghana, Tanzania, Mozambique, Angola, Uganda cùng nhiều tổ chức quốc
tế như FAO, Bill Gates Foundation... để nghiên cứu nhằm phát triển các
giống sắn mới ngắn ngày, chất lượng cao (giàu carotene, vitamin, protein…)
thích hợp ăn tươi và có khả năng kháng bệnh virus (một loại bệnh dịch hại
nghiêm trọng đối với cây sắn ở châu Phi).
Ở Châu Á, các nhà chọn tạo giống sắn tham dự hội thảo được tổ chức
tại Thái Lan vào tháng 11/1987 đã nhất trí xác định mục tiêu của các chương
trình cải tiến giống sắn quốc gia là chọn tạo ra những giống sắn có năng suất
củ tươi và tỷ lệ tinh bột cao nhằm đáp ứng nhu cầu chế biến công nghiệp.
Mục tiêu cải tiến giống sắn của những quốc gia (Ấn Độ, Indonexia, Srilanca)
có nhu cầu cao về sử dụng sắn làm lương thực là chọn tạo những giống sắn
ngắn ngày có năng suất cao, chất lượng tốt, hàm lượng axit Cyanhydric
(HCN) trong củ thấp, thích hợp tiêu thụ tươi, dạng cây đẹp, có khả năng
chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận và sâu bệnh.
Tại Hội thảo Sắn Quốc tế lần thứ Tám tổ chức tại thủ đô Viên
Chăn, Lào ngày 20 - 24 tháng 10 năm 2008. Các nhà khoa học đã xác
định tương lai mới cho sắn ở châu Á là làm thực phẩm, thức ăn gia súc và
nhiên liệu sinh học có lợi cho người nghèo, mục tiêu là chọn tạo được những
giống mới đáp ứng được yêu cầu sử dụng củ và lá sắn làm thức ăn gia súc,
phát triển mới trong chế biến sắn, đặc biệt là làm nhiên liệu sinh học, tinh bột,
tinh bột biến tính, màng phủ sinh học, công nghiệp thực phẩm.
nhóm sắn đắng có tỷ lệ tinh bột cao (>30%).
Trong giai đoạn 1975 - 1990, ở miền Bắc Trường Đại học Nông nghiệp 3 Bắc Thái tiến hành thu thập đánh giá nguồn gen của 20 giống sắn và đã chọn được
giống sắn XVP là giống địa phương tốt nhất ở các tỉnh phía Bắc (Trần Ngọc
Ngoạn và Trần Văn Điền, 1992). Ở miền Nam, trung tâm Nghiên cứu Thực
nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp
miền Nam) đã đánh giá nguồn gen của 33 giống sắn địa phương và cũng xác định
được ba giống sắn tốt là HL23, HL24, HL20, đồng thời 3 giống này mỗi năm
được sản xuất nhân ra trồng trên 70.000 ha ở các tỉnh phía Nam (Nguyễn Xuân
Hải và cộng sự, 1990). Vì những giống sắn mới được chọn lọc có năng suất bình
quân trong thí nghiệm đạt 15 - 25 tấn/ha, tỷ lệ tinh bột 20 - 25% nên đáp ứng
được mục tiêu đề ra là phục vụ cho nhu cầu lương thực.
Từ năm 1988, công tác nghiên cứu chọn giống sắn ở Việt Nam có quan
hệ chặt chẽ với CIAT. Trong suốt 18 năm (1988 - 2005), chương trình sắn của
Việt Nam đã phối hợp với CIAT chọn lọc và phát triển hai giống sắn mới là
17
KM60 và KM94 ra sản xuất. Đây là hai giống sắn có năng suất củ tươi cao
(25 - 40 tấn/ha), có tỷ lệ tinh bột cao (27 - 30%), thích hợp với chế biến tinh
bột. Cũng từ năm 1993 trở lại đây nhiều nhà máy chế biến tinh bột sắn được
xây dựng, cây sắn đã chuyển sang hướng sản xuất hàng hóa. Do đó các giống
sắn mới đã và đang được phát triển mạnh ở hai miền Nam - Bắc. Việc giới
thiệu và phát triển hai giống sắn mới này vào sản xuất đã là một bước đột phá
mới trong nghề trồng sắn ở Việt Nam.
Với sự hợp tác của CIAT, chương trình sắn Việt Nam cũng đã tiến
hành đánh giá vào khoảng 30.000 hạt lai do CIAT/Colombia, CIAT/Thái
giới thiệu và khoảng 7.000 hạt lai từ nguồn lai tạo trong nước. Hàng chục
dòng triển vọng tiếp tục được chọn ra từ nguồn vật liệu này như: KM98-1,
KM98-5, KM95-3, KM98-7, KM140… Trong số các dòng này, có những