LUẬN VĂN:
Hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố
cáo của công dân trong điều kiện xây dựng
nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Khiếu nại tố cáo là hiện tượng khách quan trong đời sống xã hội. Bởi lẽ, trong xã
hội nói chung, và trong quá trình quản lý nhà nước nói riêng không thể tránh khỏi tình
trạng những vi phạm pháp luật xâm phạm đến lợi ích Nhà nước hoặc quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân hay tổ chức, xã hội. Từ xưa tới nay, trong bất kì nhà nước nào, dù phát
triển theo xu hướng chính trị nào đi chăng nữa, thì các giai cấp thống trị, các nhà cầm
quyền đều muốn chế độ của mình được trường tồn. Do đó, các nhà cầm quyền ở mức độ
này hay mức độ khác, đều quan tâm và cho phép người dân được kêu oan đến cơ quan nhà
nước để được xem xét và giải quyết, nhằm làm dịu lòng dân và ổn định xã hội. Mặt khác,
thông qua việc người dân khiếu nại, tố cáo và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, các hiện tượng tiêu cực và vi phạm pháp luật trong xã hội được
kịp thời phát hiện và xử lý, góp phần giữ vững trật tự, kỉ cương xã hội.
ở nước ta, từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, nhà nước Việt nam dân chủ cộng hoà
ra đời cho đến nay, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của
của công dân và coi đây là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp, các ngành trong hoạt động quản lý
Nhà nước. Tuy nhiên, từ khi nước ta bước vào thực hiện công cuộc đổi mới, nhiều cơ chế, chính
sách, pháp luật và các điều kiện kinh tế - xã hội được đổi mới, tình hình khiếu nại tố cáo cũng đang
có chiều hướng gia tăng cả về số lượng, qui mô và mức độ, đặt ra những vấn đề hết sức bức xúc,
phức tạp. Thậm chí còn xuất hiện nhiều "điểm nóng" gây ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh, chính
trị, trật tự và ổn định xã hội ở một số địa phương trong cả nước . Đây là những vấn đề nhạy cảm, đòi
hỏi phải giải quyết một cách thận trọng, chặt chẽ và toàn diện. Mặc dù đã có luật khiếu nại, tố cáo và
các văn bản hướng dẫn thi hành, song đến nay, luật khiếu nại, tố cáo mới thực hiện được hơn hai
năm, đã bộc lộ những bất cập giữa lý luận và thực tiễn. Luật chưa phản ánh được sự đa dạng của
"Hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong điều kiện xây dựng Nhà
nước pháp quyền ở nước ta hiện nay". Đây là vấn đề mới mẻ, tuy nhiên luận văn có thể tiếp thu một
cách có chọn lọc những hạt nhân hợp lý của các công trình khoa học pháp lý có liên quan, để phát
triển và hoàn chỉnh vấn đề nghiên cứu của mình.
3- Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn : làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp
luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân. Từ đó đưa ra những phương hướng và giải pháp sát
thực để hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, nhằm góp phần bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng của công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện
nay.
- Nhiệm vụ của luận văn: để đạt được mục tiêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
+ Làm rõ quan niệm về khiếu nại, tố cáo và quyền khiếu nại, tố cáo của công dân ở nước ta
hiện nay.
+ Phân tích, làm rõ vai trò của pháp luật đối với quyền khiếu nại, tố cáo của công dân .
+ Làm rõ đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền với yêu cầu hoàn thiện pháp luật về
quyền khiếu nại, tố cáo của công dân .
+ Phân tích quá trình hình thành và phát triền quyền khiếu nại, tố cáo của công dân qua
Hiến pháp và pháp luật Việt Nam
+ Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân ở Việt
Nam hiện nay. Trên cơ sở đó tìm ra những phương hướng và giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật
về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta
hiện nay
4- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Pháp luật về khiếu nại, tố cáo có nội dung rất phong phú và đa dạng trên nhiều lĩnh vực của
đời sống xã hội (Hành chính, thuế, đất đai, nhà ở, xử lý vi phạm hành chính...) và với nhiều loại chủ
thể khiếu nại, tố cáo (có thể là công dân, tổ chức hay người nước ngoài sống trên lãnh thổ Việt
Nam...). Do vậy, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các qui
định pháp luật về quyền khiếu nại của công dân đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính
Chương 1
Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và vai trò pháp luật trong việc thực hiện quyền
khiếu nại, tố cáo của công dân
1.1. Khái niệm khiếu nại, tố cáo và quyền khiếu nại, tố cáo của công dân .
1.1.1. Khái niệm khiếu nại, tố cáo:
Nhà nước ra đời trở thành công cụ bạo lực của giai cấp thống trị, thông qua việc sử
dụng Nhà nước, giai cấp thống trị đã điều hoà được những mâu thuẫn giai cấp trong xã hội, bảo vệ
được quyền lợi của giai cấp mình. Tuy nhiên bất kì Nhà nước nào muốn tồn tại và phát triển đều phải
an dân và ổn định xã hội. Bởi, nếu không có dân thì cũng không có Nhà nước. Do vậy, trong hoạt
động của mình, mọi Nhà nước đều có những qui định trong luật việc bảo vệ công dân của mình. Về
phía người dân, dù người có hiểu biết cao đến hiểu biết thấp đều nhận thức rằng: dưới sự bảo hộ của
Nhà nước thì mọi quyền lợi của mình mới được bảo đảm, được bảo vệ. Song, do bản chất của mỗi
kiểu Nhà nước khác nhau nên mức độ bảo hộ cũng có khác nhau. Mặt khác, bản thân Nhà nước cũng
luôn mong muốn bộ máy do mình lập ra, trong đó có đội ngũ quan chức Nhà nước phải tuân thủ sự
điều khiển, quản lý của Nhà nước, không muốn bất kì ai, tổ chức nào trong bộ máy nhà nước lại phá
vỡ những qui định (pháp luật) mà Nhà nước đã đặt ra. Thế nhưng, trong thực tiễn, từ nhiều lý do
khác nhau, chẳng hạn, từ sự chi phối của lợi ích, của tình cảm hay từ sự yếu kém trong quản lý mà
một bộ phận nào đó đã vô tình hoặc cố ý làm sai, thậm chí vi phạm nghiêm trọng những quy định
của Nhà nước, của pháp luật làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước , quyền lợi hợp pháp của công
dân, tổ chức, xã hội. Những sai lầm, vi phạm đó cũng khó giữ kín, và như vậy tố cáo xuất hiện. ở góc
độ khác, mỗi công dân trong hoạt động thực tiễn của mình, dù ít, dù nhiều đều có quan hệ với bộ
máy chính quyền nhà nước , với tổ chức xã hội và các công dân khác. Trong các quan hệ đó, có lúc,
có nơi với nhiều lý do khác nhau, những người trong bộ máy công quyền cũng đã vi phạm đến lợi ích
hợp pháp của công dân, và như vậy xuất hiện khiếu nại.
Trong đời sống xã hội, khi quyền, lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm từ phía các
cơ quan nhà nước, người dân có quyền khiếu nại các cơ quan nhà nước đề đòi lại sự công bằng cho
bản thân, đó là lẽ đương nhiên mà bất kỳ người nào, thời đại nào cũng hiểu. Trong xã hội cũ, những
hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội có một số người cho qua, bởi họ không tin vào sự
hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính.
11- Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ theo qui định của pháp
luật..."
Từ khái niệm trên chúng ta có thể thấy rằng, giữa khiếu nại và tố cáo có điểm chung là đều
phát sinh khi có vi phạm pháp luật (hoặc bị người khiếu nại, tố cáo cho là vi phạm pháp luật) của cơ
quan, tổ chức, hoặc cá nhân và họ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết, xử
lý việc làm đó để khôi phục hoặc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể; quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân. Tuy nhiên, giữa khiếu nại và tố cáo có những điểm khác nhau cơ bản sau đây :
- Về chủ thể:
Chủ thể của khiếu nại bao gồm công dân, cơ quan, tổ chức,trong khi chủ thể của tố cáo
chỉ là công dân. Xuất phát từ tính chất của tố cáo là yêu cầu xử lý người bị tố cáo, nên Nhà nước
khuyến khích người tố cáo đúng, đồng thời qui định nếu người nào lợi dụng quyền tố cáo, tố cáo sai
sự thật, gây thiệt hại cho người khác thì phải bị xử lý để tránh tình trạng có người nhân danh cơ quan,
tổ chức nào đó, thực hiện việc tố cáo với mục đích cá nhân. Để cá thể hoá trách nhiệm của người tố
cáo, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thể xử lý người cố tình tố cáo sai sự thật, Luật quy định
chủ thể tố cáo phải là công dân (cá nhân) chứ không bao gồm cơ quan, tổ chức như chủ thể khiếu
nại.
Điểm khác nữa, chủ thể bị khiếu nại có thể đồng thời là chủ thể giải quyết khiếu nại còn
chủ thể bị tố cáo không đươc phép làm như vậy.
- Về đối tượng:
Đối tượng khiếu nại bao gồm: quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ
quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức trong khi đối tượng của tố cáo
rộng hơn nhiều, bao gồm: hành vi vi phạp pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây
thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân,
cơ quan, tổ chức .
- Về nguyên nhân phát sinh:
Đối với khiếu nại là khi quyền, lợi ích của bản thân người khiếu nại bị xâm phạm, còn
nước ta hiện nay.
1.1.2. Khái niệm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân :
Hành vi khiếu nại, tố cáo là hiện tượng khách quan trong xã hội , và nó chỉ trở thành
quyền một khi được Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật . Vì thế, quyền khiếu nại, tố cáo của công
dân bao giờ cũng mang bản chất giai cấp. ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, mỗi nhà nước khác nhau
thì quy định nội dung pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo cũng khác nhau.
Trong lịch sử các Nhà nước bóc lột, pháp luật khiếu nại, tố cáo được đặt ra, suy cho cùng
để phục vụ và bảo vệ lợi ích của giai cấp bóc lột. Vì vậy, người dân dưới chế độ Nhà nước kiểu
phong kiến, tư sản họ không hiểu mình có những quyền gì để mà khiếu nại, tố cáo. Việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo của các cơ quan có thẩm quyền hoặc thiên vị bên này, hoặc bên kia không theo sự
công bằng, lẽ phải, mà thực tế cho thấy, lẽ phải thuộc về kẻ mạnh, kẻ giàu có trong xã hội. Chính vì
vậy, khiếu nại, tố cáo trong các chế độ xã hội của nhà nước đó chỉ là hình thức, quyền pháp lý thì có
nhưng không được thực thi. Thậm chí người dân nô lệ trong chế độ xã hội nô lệ, xã hội phong kiến
còn không có một chút quyền nào. ở chế độ Tư bản chủ nghĩa, về pháp lý, Hiến pháp và pháp luật
của Nhà nước Tư sản công nhận các quyền tự do, bình đẳng, tố cáo.v.v.. cho mọi công dân. Song,
trên thực tế chỉ những kẻ giàu có thuộc giai cấp bóc lột mới có điều kiện để hưởng quyền này, còn
người lao động nghèo khổ bị áp bức bóc lột thì không thực hiện được quyền đó.
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa vị trí của nhân dân lao động và mối quan hệ của từng
công dân đối với Nhà nước có những thay đổi căn bản về chất. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà
nước của nhân dân , do nhân dân và vì nhân dân, sức mạnh của Nhà nước bắt nguồn từ nhân dân,
nhân dân lao động là người chủ Nhà nước; lợi ích của Nhà nước gắn liền với lợi ích của nhân dân ,
Nhà nước là công cụ phục vụ lợi ích của nhân dân. Do đó, Nhà nước luôn quan tâm đến việc bảo vệ
và thực hiện các quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân. Trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa, quyền
khiếu nại, tố cáo của công dân được ghi nhận ở Hiến pháp và pháp luật, và được đảm bảo thực hiện
trong thực tế. Điều này thực chất là nhằm tôn trọng, bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
là sự thừa nhận tính tối cao của quyền con người, quyền công dân trong xã hội . Lê nin từng nói:
"Chỉ có khi nào tin tưởng vào nhân dân, dấn mình vào nguồn sáng tạo, sinh động của nhân dân mới
là người chiến thắng, mới giữ được chính quyền"{17, tr. 68-69]. Như vậy chỉ trong Nhà nước xã hội
văn để vào các ngày 6, 16, 26 (âm lịch) ai có điều gì oan ức cần đệ đơn, được đến đánh trống để nhân
viên ra nhận đơn và chuyển cho quan nghị xét. Ngoài ra, những khi địa phương nào có nhiều đơn kêu
oan của dân, triều đình liền cử các phái đoàn thanh tra đặc biệt (gọi là kinh lược đại sử ) gồm các đại
thần có uy tín đến giải quyết [24, tr.12-13].
ở triều đại nhà Lê Sơ (1428 -1527) việc giải quyết khiếu tố của dân có quy định chặt chẽ
hơn. Vua ban hành "Quốc triều khám tụng điều lệ", quy định về trình tự khiếu kiện; trong đó đã có
quy định cấm việc khiếu nại vượt cấp: "Các việc kiện tụng chưa kinh qua lần khám nào đã dẫn dắt
khiếu nại vượt cấp thì các nha môn đều không được nhận khám", tuy nhiên "mọi trường hợp bị người
quyền quý ức hiếp thiệt hại nặng, cùng các trường hợp oan ức, không biết khám lệ ở nha môn nào,
không còn đường nào có thể kêu cầu, cùng các trường hợp đã qua công luận, phúc đình nhưng chưa
giải tỏ được lý, mới cho khua chông gióng mõ mà kêu lên" [26, tr.113]. Sở dĩ có quy định như vậy,
là vì trong Quốc triều hình luật có quy định từng loại việc kiện được giải quyết ở từng cấp hành
chính, ai làm trái thì xử bằng đánh trượng và biếm chức. Điều 672 Quốc triều Hình luật, chương
Đoán ngục nêu: "Dân trong lộ, trong huyện có việc tranh kiện nhau, việc rất nhỏ kiện đến xã quan;
việc nhỏ đến kiện ở lộ quan; việc trung bình đến kiện ở quan phủ; các quan kể trên phải xét xử cho
công bằng, đúng pháp luật; còn việc lớn thì phải đến kinh. Nếu trái luật này thì xử tội trượng hoặc tội
biếm. Tố cáo những việc mưu phản nghịch thì không theo luật này".
Thời Lê - Trịnh, năm 1683 chúa Trịnh Căn cũng ban lệnh việc khiếu tố phải theo đúng cấp
quy định.
Về thời hiệu khiếu tố, từ thời Lý đã có quy định từng loại việc có thời hiệu khác nhau.
Chẳng hạn, đối với việc tranh chấp ruộng đất bỏ hoang bị người khác cày cấy, trồng trọt trong vòng
một năm thì còn được quyền để nhận lại, quá hạn ấy thì không được kêu kiện nữa. Nhưng có những
việc thì pháp luật nhà Lý không giới hạn thời gian khiếu kiện, như việc tố cáo bộ máy quan lại tham
nhũng, thu sai thuế, ăn chặn thuế [18, tr.173].
Về thời hạn giải quyết khiếu tố, thời Nhà Lê sơ có quy định: " phân việc kiện tụngvề ruộng
đật, trộm cướp đều hạn 3 tháng; kiện tụng về mưu giết 4 tháng; kiện tụng về hộ khấu, hôn thú là 2
tháng, đều lấy ngày bắt được bị cáo làm ngày đầu tiên..."[25, tr.13].
Về tổ chức cơ quan làm nhiệm vụ giải quyết khiếu tố của dân, trên cơ sở phân loại việc
kiện cho nhân dân tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Nghị quyết hội nghị
Trung ương lần thứ 8 (Khoá VIII) nhấn mạnh: "Đẩy mạnh việc giải quyết các khiếu kiện của công
dân. Soát xét bổ sung và thể chế hoá các chính sách, trước hết đối với chính sách lĩnh vực mà dân
khiếu kiện nhiều như những tranh chấp về nhà đất..." [ 9, tr.30]. Đặc biệt Nghị quyết Đại hội lần thứ
VIII của Đảng một lần nữa khẳng định: "Cùng với việc đảm bảo thực hiện các quyền khiếu nại, tố
cáo của công dân cần nghiên cứu hướng dẫn để mọi công dân có điều kiện phát hiện, đề xuất, kiến
nghị giúp cho hoạt động giám sát có hiệu quả " [ 8, tr.130 - 131]. Cụ thể hoá quan điểm này, Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 3 ( Khoá VIII ) chỉ rõ: cần "xác định rõ trách nhiệm của thủ trưởng cơ
quan trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân , xử lý nghiêm minh các hành vi trì hoãn
làm chậm trễ, sai lệch, can thiệp trái pháp luật hoặc lẩn tránh trách nhiệm đối với việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo. Cần có qui chế tạo thuận lợi để người dân trình bày ý nguyện, thực hiện quyền
khiếu nại, tố cáo của mình" [ 10, tr.45 ]. Để tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền khiếu nại, tố
cáo của công dân xác định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo. Nhà nước ta đã thể chế hoá đường lối, quan điểm của Đảng về khiếu nại, tố cáo của công dân
thành Hiến pháp và pháp luật, đồng thời ban hành nhiều nghị quyết, nghị định, chỉ thị... nhằm thực
hiện trong thực tế quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố
cáo. Đặc biệt là sự ra đời của Luật khiếu nại, tố cáo (Quốc hội khoá X thông qua ngày 2/12/1998) đã
đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, coi
đây là một trong những công tác góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng
và quản lý đất nước, là cơ sở pháp lý quan trọng, để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình, của Nhà nước và của tập thể. Đồng thời là phương tiện để công dân thực hiện quyền làm chủ
và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước, loại trừ
những biểu hiện tiêu cực của cán bộ ,công chức nhà nước như quan liêu, hách dịch, sách nhiễu, cửa
quyền, những hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, thoái hoá, biến chất.v.v...
Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong
Hiến pháp và pháp luật hiện hành, người công dân nào cũng có quyền sử dụng vì lợi ích chung, lợi
ích của chính mình. Đây là cơ sở pháp lý để củng cố thực hiện một bước địa vị pháp lý của công dân
trong xã hội. Về phía Nhà nước, mọi cơ quan, cán bộ công chức nào cũng cần quán triệt, tôn trọng,
nhận trong Hiến pháp và pháp luật của mỗi nước. Vì vậy, nó có vị trí, vai trò quan trọng trong việc
bảo vệ, phát triển quyền công dân, quyền con người ở mỗi nước cũng như trong thế giới hiện đại.
Nội dung và những diễn biến của pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân gắn liền với sự
phát triển nền chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Những thay đổi về chế độ kinh tế, chế độ
chính trị, về tổ chức bộ máy nhà nước đều tác động sâu sắc đến pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo
của công dân; đem lại cho nó những nội dung mới. Những nội dung đó được thể hiện tập trung nhất
trong mối quan hệ biện chứng giữa Nhà nước và công dân, nó phản ánh quyền dân chủ trực tiếp của
công dân đối với hoạt động của Nhà nước, nó được qui định trong Hiến pháp và pháp luật hiện hành.
Theo nghĩa rộng, pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân gồm: hệ thống
những quy định mang tính pháp lý về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội (khi các quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm hại), cùng với những thiết chế
tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và các qui định về trình tự, thủ tục tiến hành khiếu nại, tố
cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Theo nghĩa hẹp, pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của
công dân bao gồm: hệ thống các qui định về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, tố cáo, thẩm
quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, trình tự, thủ tục tiến hành khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại,
tố cáo của công dân trong pháp luật khiếu nại, tố cáo và các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật
hiện hành. Đây là vấn đề rất rộng. Do đó, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật về quyền khiếu
nại, tố cáo của công dân theo nghĩa hẹp trong phạm vi Luật khiếu nại, tố cáo và Nghị định số
67/1999/NĐ-CP ngày 7/8/1999 của Chính phủ về qui định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật khiếu
nại, tố cáo. Có nghĩa là luận văn chỉ xem xét và hoàn thiện các qui định pháp luật về quyền và nghĩa
vụ của người khiếu nại, tố cáo, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, trình tự, thủ tục tiến hành
khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo, về xử lý vi phạm pháp luật về quyền khiếu nại, tố
cáo của công dân trong Luật khiếu nại, tố cáo và Nghị định 67/1999/NĐ-CP. Do vậy, hoàn thiện
pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân chính là đi rà soát, đánh giá thực trạng các qui
định pháp luật đó, tìm ra những điểm bất cập, không hợp lý để đưa ra những phương hướng và giải
Đối với người khiếu nại, Điều 17 Luật khiếu nại, tố cáo qui định người khiếu nại có quyền
nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giải quyết khiếu nại; được nhận quyết định giải quyết khiếu
nại; được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo qui định
của pháp luật; được quyền rút lại khiếu nại trong bất kì giai đoạn nào của quá trình giải quyết. Ngoài
ra, luật còn qui định người khiếu nại có quyền khởi kiện ra toà án hành chính hay kiện lên cơ quan
hành chính nhà nước cấp trên trực tiếp của cấp đó sau khi khiếu nại lần đầu của mình được giải quyết
không thoả đáng hoặc sau khi khiếu nại 30 ngày nhưng không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
giải quyết; Người khiếu nại được quyền đưa ra các bằng chứng hoặc phản ánh về tình hình có liên
quan đến nội dung khiếu nại.
Đi đôi với quyền của người khiếu nại, Luật khiếu nại, tố cáo cũng qui định người khiếu nại
có các nghĩa vụ: khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết, trình bày trung thực sự việc,
cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại, chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội
dung trình bày và việc cung cấp các thông tin, tài liệu đó; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải
quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật .
- Về tố cáo, Luật khiếu nại, tố cáo qui định: chủ thể của tố cáo chỉ là công dân, còn cơ quan,
tổ chức không có quyền này. Phạm vi tố cáo cũng rất rộng: mọi hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt
hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. ở đây vấn
đề tố cáo không nhất thiết phải gắn liền với lợi ích của người tố cáo.
Đối với người tố cáo, Điều 57 Luật khiếu nại, tố cáo qui định người tố cáo có các quyền
sau đây: quyền được gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ; có
quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước giữ bí mật về tên, địa chỉ, bút tích của mình và có quyền yêu
cầu được thông báo kết quả giải quyết tố cáo; có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước đảm bảo an
toàn cho họ, tránh sự trù dập, đe doạ, trả thù. Đi đôi với quyền tố cáo, Luật qui định người tố cáo có
nghĩa vụ: phải trình bày trung thực về nội dung tố cáo; nêu rõ họ tên, địa chỉ của mình; chịu trách
nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật.
- Về thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo, pháp luật qui định như sau :
+ Đối với khiếu nại thì quyết định hành chính và hành vi hành chính của cơ quan nào bị
khiếu nại thì thủ trưởng cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết lần đầu. Nếu giải quyết lần đầu không
Luật khiếu nại, tố cáo quy định thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ khi nhận được quyết
định hành chính hoặc biết được hành vi hành chính, công dân có quyền khiếu nại với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền . Trong trường hợp ốm đau, thiên tại địch hoạ... hoặc vì những trở ngại khách
quan khác thì thời gian trở ngại không tính vào thời hiệu khiếu nại ( Điều 31 ).
Đối với tố cáo thì không có thời hiệu. Nếu phát hiện việc làm có vi phạm pháp luật đã,
đang và sẽ xảy ra thì công dân có quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền .
Hình thức khiếu nại, tố cáo được viết bằng đơn hoặc trình bày trực tiếp với cơ quan nhà
nước. Nếu khiếu nại, tố cáo gửi bằng đơn thì trong đơn phải thể hiện những nội dung: họ tên, địa chỉ
người khiếu nại, tố cáo ; nội dung vụ việc khiếu nại, tố cáo : Họ tên, địa chỉ, chức vụ người khiếu
nại, tố cáo ; yêu cầu của người khiếu nại, tố cáo . Kèm theo đơn, người khiếu nại, tố cáo phải gửi
kèm theo hồ sơ , tài liệu và cung cấp các chứng cứ về vụ việc bị khiếu nại, tố cáo .
Nhận được tài liệu, chứng cứ này, cơ quan nhà nước phải ghi biên nhận cho người khiếu
nại, tố cáo. Nếu khiếu nại, tố cáo trực tiếp bằng lời nói với cơ quan có thẩm quyền thì cán bộ tiếp
nhận phải ghi lại nội dung như đối với khiếu nại, tố cáo bằng đơn. Kể cả khiếu nại, tố cáo bằng đơn
hay bằng lời trực tiếp đều phải có chữ ký của người khiếu nại , tố cáo vào đơn hoặc văn bản ghi lại
nội dung khiếu nại, tố cáo. Đối với tố cáo, cán bộ tiếp nhận tố cáo phải có trách nhiệm giữ bí mật họ
tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo ( Điều 57 Luật khiếu nại, tố cáo ).
Trong 10 ngày, kể từ ngày tiếp nhận khiếu nại, tố cáo , nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải
quyết của mình, thì người giải quyết khiếu nại, tố cáo phải ra quyết định thụ lý giải quyết. Nếu vụ
việc không thuộc thẩm quyền của cơ quan ( không thụ lý) thì phải nêu rõ lý do. Cả hai trường hợp
thụ lý hoặc không thụ lý, cơ quan tiếp nhận khiếu nại, tố cáo đều phải thông báo bằng băn bản cho
người khiếu nại biết (nếu là khiếu nại ), hoặc cơ quan đó phải có trách nhiệm chuyển cho cơ quan , tổ
chức có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo biết nếu họ yêu cầu (đối với tố cáo ).
Giai đoạn thứ hai: Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Sau khi thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thụ lý giải
quyết thì giao cho cán bộ thanh tra thẩm tra, xác minh vụ việc và kiến nghị giải quyết .
Đối với khiếu nại : thời gian giải quyết lần đầu là không quá 30 ngày, đối với vụ việc phức
tạp thì có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày. Nếu vùng sâu, vùng xa thì thời hạn giải quyết
pháp luật tố tụng hình sự (Điều 71 Luật khiếu nại, tố cáo ).
Kết thúc giai đoạn này là việc công bố quyết định giải quyết khiếu nại , tố cáo và gửi cho
đương sự, những người liên quan, đồng thời đề ra các biện pháp thực hiện.
Giai đoạn ba: Tổ chức thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo
Giai đoạn này bắt đầu từ khi giải quyết khiếu nại, tố cáo có hiệu lực thi hành. Trong giai
đoạn này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề ra các biện pháp theo dõi, tổ chức thực hiện quyết
định , xử lý những cá nhân, tổ chức nào sai trái, đề nghị khắc phục tổn thất do việc làm trái pháp luật
gây ra. Giai đoạn này kết thúc khi các hành vi sai trái bị xử lý. Khi quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức, cá nhân được khôi phục thoả đáng.
1.2. Vai trò của pháp luật trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân:
Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền con người, quyền công dân và đã được
ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Do vậy, nếu quan niệm một cách biện chứng và
trong trạng thái động với đầy đủ những thuộc tính và nội dung của nó, thì việc thực hiện quyền con
người , quyền công dân nói chung, quyền khiếu nại, tố cáo nói riêng là một quá trình ,và phụ thuộc
vào tổng thể các điều kiện khác nhau của đời sống xã hội, như điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa,
giáo dục và pháp luật. Trong đó pháp luật chiếm vị trí, vai trò quan trọng nhất và được thể hiện cụ
thể ở những điểm cơ bản sau đây :
1.2.1. pháp luật là phương tiện chính thức hoá giá trị xã hội của quyền con người,
quyền công dân trong đó có quyền khiếu nại, tố cáo.