Lòch sử thế giới cận đại
- 20 -
CHƯƠNG IV : CÁCH MẠNG TƯ SẢN PHÁP
I. TÌNH HÌNH NƯỚC PHÁP TRƯỚC CUỘC CÁCH MẠNG.
1. Chế độ quân chủ chuyên chế và đẳng cấp trong xã hội phong kiến Pháp.
- Trước cách mạng, nước Pháp là một nước quân chủ chuyên chế phong kiến. Vua nắm mọi quyền
hành trong nước. Vua Louis XVI, thường tự coi ý muốn của mình là ý chúa, là luật pháp và quyền
lực.
- Chế độ quân chủ chuyên chế, một mặt duy trì những đạo luật những nguyên tắc và tập tục phong
kiến, mặt khác để củng cố quyền lực của mình, nó còn được bảo vệ rất chặt chẽ bởi sự phân chia
đẳng cấp trong xã hội: tăng lữ, quý tộc và đẳng cấp thứ ba.
- Đẳng cấp tăng lữ và quý tộc chỉ chiếm 1% dân số như có vò trí rất lớn, nắm giữ tất cả những vò trí
cao cấp trong chính quyền và giáo hội từ trung ương tới đòa phương. Đẳng cấp thứ ba chiếm 99% dân
số bao gồm tư sản, nông dân, thò dân… bò tước đoạt mọi quyền chính trò, bò bóc lột bằng thuế khoá, bò
phụ thuộc và phải phục vụ cho hai đảng cấp tăng lữ, quý tộc. Chính vì vậy mâu thuẫn giữa đẳng cấp
thứ ba với hai đẳng cấp trên ngày càng gay gắt.
2. Sự phát triển công thương nghiệp tư bản chủ nghóa và những trở lực của nó.
- Trên lónh vực kinh tế: khác với nước Anh vào thế kỷ XVII, chủ nghóa tư bản đã xâm nhập mạnh
mẽ vào nông nghiệp, các chủ ruộng đất đã chuyển sang kinh doanh theo phương thức tư bản chủ
nghóa thì ngược lại ở Pháp vẫn nằm trong tình trạng lạc hậu, năng suất lao động thấp kém. Chế độ
bóc lột theo hai hình thức: lãnh đòa – phát canh thu tô và đặc biệt là chế độ vónh điền nông nô “đã
bóc lột đến tận xương tủy người nông dân Pháp”. Kết quả là trước cách mạng, nền kinh tế ngày càng
suy sụp: nạn đói diễn ra thường xuyên; nông dân bò phá sản ngày càng tăng. Do đó, giải phóng khỏi
ách phong kiến là một yêu cầu cấp thiết của nhân dân Pháp lúc đó và giải quyết vấn đế ruộng đất đã
trở thành vấn đề cơ bản của cuộc cách mạng.
Cuối thế kỷ XIII, nền công thương nghiệp Pháp đang trên đà phát triển. Sản lượng công
thương nghiệp đã đóng góp một vai trò quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nhìn chung,
cuối thế kỷ XVIII, các ngành công thương nghiệp đã phát triển mạnh mẽ, yếu tố kinh tế tư bản chủ
Mùa hè 1789, nước Pháp đứng trước ngưỡng cửa của một cuộc cách mạng tư sản. Quần chúng
nhân dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản đã đứng dậy tiến hành đấu tranh lật đổ nền quân chủ
chuyên chế phong kiến, lập nên chế độ tư bản chủ nghóa. Quá trình đó có thể chia làm 3 giai đoạn:
1.
Giai đoạn cách mạng bùng nổ và nền thống trò của đại tư sản lập hiến (14 /7/1789 – 10/8/1792)
2.
Giai đoạn thống trò của phái cộng hòa tư sản Girondins (10/8/1792 – 31/5/1793).
3.
Giai đoạn chuyên chính dân chủ cách mạng Jacobins (6/1793 – 7/1794).
1. Giai đoạn 1 của cuộc cách mạng.
a.Cuộc đấu tranh ở hội nghò ba cấp và sự kiện 14/ 7/1789.
Trước tình thế khốn quẫn về tài chính. Ngày 5/5/1789, Louis XVI buộc phải triệu tập hội nghò ba
cấp với hy vọng được hội nghò biểu quyết thông qua luật đánh thuế mới (luật thuế thu nhập cao, tài sản
lớn). Nhưng tại hội nghò này đã diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt của 300 đại biểu thuộc đẳng cấp thứ ba
với 270 đại biểu của hai đẳng cấp tăng lữ và quý tộc xoay quanh vấn đề cách thức bỏ phiếu và kiểm tra
tư cách đại biểu.
Được sự ủng hộ nhiệt tình của quần chúng, ngày 17/6/1789, các đại biểu của đẳng cấp thứ ba đã tự
tuyên bố thành lập “Hội đồng dân tộc”. Đến ngày 9/7/71789, “Hội đồng dân tộc” tự tuyên bố thành lập
hội đồng hiến để xác đònh quyền của mình trong việc ban hành luật lệ nhà nước.
Đứng trước tình hình trên, Louis XVI đã điều động quân đội hòng bóp chết cuộc cách mạng từ
trong trứng nước. Nhưng quần chúng nhân dân ở thủ đô Paris đã thành lập Ủy ban thường trực và tổ chức
lực lượng vũ trang dân binh đánh chiếm các cơ quan và những vò trí quan trọng trong thành phố.
Ngày 114/7/1789, pháo đài Bastille biểu trưng của chế độ phong kiến Pháp bò suy sụp. Sau sự
kiện này, phong trào cách mạng của nông dân ở các đòa phương và phong trào “cách mạng thò chính” ở
Còn công dân tiêu cực (gồm tuyệt đại quần chúng nhân dân lao động thì bò gạt ra khỏi đời sống chính trò
của đất nước. Như vậy hiến pháp 1791 đã vi phạm những nguyên tắc “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” được
nêu ra trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1789, đã tước đoạt quyền lợi chính trò của đa số quần
chúng, mà chỉ bảo vệ quyền lợi cho một thiểu số hữu sản trong xã hội.
Trên lónh vực kinh tế:
Về chính sách ruộng đất, quốc hội lập hiến tuyên bố hủy bỏ hoàn toàn trật tự phong kiến: Những
đặc quyền cơ bản như thuế cens, tô hiện vật, tô lao dòch… chỉ được bãi bỏ khi nông dân có tiền chuộc (gần
20 lần tiền tô phải nộp hàng năm). Ruộng đất của nhà thờ bò tòch thu và bán theo từng ấp trại lớn. Trên
thực tế người nông dân Pháp “không có tiền để được giải phóng”.
Trong chính sách kinh tế công – thương nghiệp, Quốc hội lập hiến quyết đònh bãi bỏ quy chế
phường hội, cho phép tự do buôn bán. Chính sách này đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư bản chủ
nghóa phát triển.
Từ tháng 5 đến tháng 11 năm 1970, Quốc hội lập hiến đã tiến hành tổ chức hành chính theo quy
chế mới và can thiệp mạnh mẽ vào giáo hội như: chia thủ đô Paris thành các phân khu; toàn quốc chia
làm 83 quận với cơ cấu thống nhất; xoá bỏ thuế quan nội đòa; buộc giáo hội Pháp phải phục tùng quốc
gia, chuyển quyền quản lý hộ tòch từ nhà thờ về tay Nhà nước… Những biện pháp tích cực đó có một ý
nghóa tiến bộ lớn vì nó đã gạt bỏ được những nhân tố kìm hãm sự phát triển kinh tế của chủ nghóa tư bản,
Nguyễn Công Chất
Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới cận đại
- 23 -
từng bước hạn chế quyền lực của giáo hội và góp phần rất lớn vào việc hoàn thành quá trình thống nhất
dân tộc Pháp.
Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực các chính sách của Quốc hội lập hiến ngày càng tỏ rõ
lập pháp được ban bố với chế độ bầu cử phổ thông đầu phiếu cho tất cả nam giới từ 21 tuổi trở lên. Chính
phủ mới được thành lập (gọi là Hội đồng hành pháp lâm thời) gồm phần lớn các bộ trưởng của phái
Girondins.
Nguyễn Công Chất
Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới cận đại
- 24 -
Ngày 12-8-1792, 80 vạn quân phổ vượt biên giới tràn vào lãnh thổ Pháp. Các thế lực phản động ở
châu Âu câu kết thành liên minh chống Pháp đã đẩy tình hình nước Pháp đứng trước nguy cơ mất nước.
Trong giờ phút gian nan đó, các công xã ở Paris và những người Jacobins đã tỏ ra kiên quyết và
dũng cảm. Tiến hành trấn áp bọn phản cách mạng, thành lập các tiểu đoàn tình nguyện góp phần làm nên
chiến thắng Vamme (ngày 20-9-1792) làm thay đổi hoàn toàn cục diện của cuộc chiến tranh.
Một ngày sau khi chiến thắng Vanme, ngày 21-9, Hiệp hội dân tộc tuyên bố thiết lập nền Cộng
hoà – mở đầu kỷ nguyên mới trong lòch sử nước Pháp.
b.Đấu tranh giai cấp và sự sụp đổ của chính quyền Girondins.
Chính quyền girondins được thiết lập sau cuộc khởi nghóa ngày 10-8 thực chất vẫn chỉ là một
chính quyền nằm trong tay giai cấp tư sản cánh hữu.
Phát Jacobin được coi là phái tả, đại diện cho những người tư sản dân chủ và cách mạng, chủ yếu
là tư sản lớp dưới, liên minh với tiểu thư sản và các tầng lớp bình dân như tiểu chủ, thợ thủ công, công
nhân trong các công trường thủ công và nông dân. Trong một thời đoạn nhất đònh và hoàn cảnh cách
mạng đang ở chiều hướng đi lên. Phái Jacobins đứng đầu là Robespierre đã quyết đònh hướng theo nhân
dân đẩy cách mạng tiến tới “tiêu diệt thù trong giặc ngoài”. Điều này trái ngược với phái girondins, đại
diện cho quyền lợi của các tầng lớp tư sản công thương nghiệp và tư sản ruộng đất. Và nhất là khi dưới áp
lực của quần chúng và những người thuộc phái Jacobins, tháng 12-1792, toà án của Hiệp hội dân tộc
Năm 1793, liên minh các nước Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Áo, Phổ và Nga hoàng liên kết với
nhau chống lại nước Pháp. Đứng trước tình hình nước Cộng hoà Pháp non trẻ cùng một lúc phải đương
đầu với âm mưu phản loạn từ bên trong và liên minh phong kiến từ bên ngoài. Những người thuộc phái
Jacobins đã liên kết với phái “Điên dại”, lập ra Ủy ban khởi nghóa ở thủ đô Paris (31-5-1973) và tiến
hành cuộc khởi nghóa ngày 2-6-1793, lật đổ chính quyền Girondins, chuyển chính quyền vào tay những
người Jacobins dân chủ và cách mạng.
Khởi nghóa 2-6-1793, một lần nữa thể hiện ý chí kiên cường và sức mạnh vô đòch của quần chúng nhân
dân quyết tâm thúc đẩy cách mạng đi lên. Một giai đoạn phát triển mới của Đại cách mạng tư sản Pháp
được mở ra đó là giai đoạn của “Nền chuyên chính dân chủ cách mạng Jacobins”.
3. Giai đoạn thứ 3 của cuộc cách mạng
a. Sự thành lập chính quyền chuyên chính dân chủ và cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc.
Nền chuyên chính dân chủ cách mạng Jacobins được thiết lập sau ngày 2-6-1793, trong điều kiện hết
sức nguy kòch “thù trong giặc ngoài” đẩy nền Cộng hoà đứng trước bờ vực thẳm.
Trong tình trạng vô cùng khó khăn và nguy hiểm đó, những người Jacobins cách mạng, đứng đầu
là Robespierre đã nhận thức được rằng muốn bảo vệ được nền cộng hoà thì cần phải có một nền chuyên
chính cách mạng triệt để nhằm trấn áp kẻ thù và thoả mãn ở mức tối đa những quyền lợi của quần chúng
để vận động đông đảo nhân dân tham gia cuộc đấu tranh tiêu diệt thù trong giặc ngoài.
Điều quan tâm đầu tiên của những người Jacobins là cần phải thông qua nhanh chóng một hiến
pháp mới làm cơ sở chính trò thông qua nhanh chóng một hiến pháp mới làm cơ sở chính trò tập hợp lực
lượng cách mạng. Ngày 24-6-1793, Hiệp hội dân tộc thông qua bản hiến pháp mới. Bản hiến pháp cộng
hoà đầu tiên trong lòch sử nước Pháp.
Hiến pháp 1793, ngoài việc thừa nhận quyền tự do bình đẳng; quyền tự do tín ngưỡng và ngôn
luận của công dân, nó còn thừa nhận quyền chống áp bức (điều 33), thậm chí quyền khởi nghóa khi chính
phủ vi phạm quyền của nhân dân (điều 35) và quyền tự do tư hữu.
Hiến pháp 1793, xoá bỏ phân loại công dân tích cực và tiêu cực. Quy đònh nam giới từ 21 tuổi trở
lên được đi bầu cử quốc hội lập pháp. Quốc hội bầu lại hàng năm vào ngày 1-5. Hội đồng hành pháp 24
người do quốc hội lập pháp cử ra là cơ quan tối cao của nền cộng hoà.
Hiến pháp 1793 phản ánh và đánh dấu một giai đoạn mới của Đại cách mạng tư sản Pháp. Nó
tuyên bố trước toàn thế giới những nguyên tắc tự do và dân chủ, một nền tư sản tiến bộ hơn hẳn hiến
đầu cơ tích trữ, hạn chế tự do buôn bán, đònh giá tối đa về lương thực thực phẩm và tổ chức Ủy ban phân
phối.
Dựa theo sáng kiến của quần chúng, 23-8-1793, Hiệp hội dân tộc thông qua sắc lệnh “tổng động
viên toàn quốc”. Nước Pháp cách mạng sục sôi tinh thần ái quốc. Đến đông xuân 1793 – 1794. quân
Pháp đã chuyển sang thế chủ động tấn công quân thù (liên minh các nước châu Âu) đã bò quét sạch khỏi
lãnh thổ nước Pháp.
b. Mâu thuẫn nội bộ và sự tan rã của liên minh Jacobins. Giai đoạn thoái trào của cách mạng:
Trong suốt quá trình đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản, nội bộ Jacobins đã xảy ra sự phân
hoá ngày càng rõ rệt. Nhất là vào đầu năm 1794, khi mà thù trong giặc ngoài đều bò đẩy lùi thì trong liên
minh Jacobins mâu thuẫn nội bộ ngày càng gay gắt. Bọn đại tư sản muốn tự do trong kinh doanh, đòi
chính phủ huỷ bỏ luật tối đa. Trái lại quần chúng nhân dân đòi hỏi được thoả mãn triệt để hơn những
quyền lợi cơ bản họ đòi hỏi bỏ đạo luật lương tối đa, thẳng tay trừng trò bọn đầu cơ và thi hành hiến pháp
1793.
Bò tấn công từ hai phía, chính quyền Jacobins do Ropespierre đứng đầu cho rằng đường lối đúng
đắn duy nhất là giữ vững khối liên minh, cùng một lúc diệt trừ hai khuynh hướng “hữu” và “tả” trong nội
bộ Jacobins. Vì vậy 27-71794 (ngày 9 tháng Thermidor), giai cấp tư sản đã tổ chức cuộc chính biến phản
cách mạng, lật đổ chính quyền cách mạng Jacobins, bắt những người lãnh đạo chủ chốt và đưa họ lên
máy chém.
Cuộc chính biến ngày 9 tháng Thermidor đã chuyển chính quyền từ tay phái tư sản cách mạng
sang tay phái tư sản phản cách mạng. Sau một thời gian đầy biến động phức tạp, tháng 11-1799 dựa vào
sức mạnh quân sự Napoleon Bonaparte lên cầm quyền và 5 năm sau 1804, ông ta tuyên bố lên ngôi
hoàng đế.
Nguyễn Công Chất
Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới cận đại
minh tạm thời giữa kẻ bóc lột và người bò bóc lột để thanh toán những kẻ thù của giai cấp tư sản và quần
chúng nhân dân là chế độ quân chủ chuyên chế. Mối liên minh này hoàn toàn khác về bản chất so với
khối liên minh công nông trong cuộc cách mạng vô sản.
Và không có gì khác hơn chính ý tưởng tư hữu của chế độ tư hữu đã dẫn tới sự tan rã và sụp đổ của
liên minh Jacobins và nền chuyên chính dân chủ và cách mạng Jacobins.
Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII, không tránh khỏi những hạn chế của một cuộc cách mạng
tư sản. Mặc dù vậy, cách mạng tư sản Pháp là một cuộc cách mạng tư sản vó đại tấn công vào thành trì
của chế độ cũ, để xây dựng chế độ xã hội mới. Những biến cố vó đại của cuộc cách mạng đã vượt ra
ngoài khuôn khổ nước Pháp, làm rung chuyển chế độ phong kiến ở châu Âu, thức tỉnh tất cả những lực
Nguyễn Công Chất
Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới cận đại
- 28 -
lượng dân chủ tiến bộ đứng lên chống lại chế độ phong kiến. Cuộc cách mạng tư sản Pháp đã để lại dầu
ấn lòch sử sâu đậm trong sự phát triển của nước Pháp cũng như trên thế giới.
Nguyễn Công Chất
Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới cận đại
- 29 -
các nước châu Mỹ La Tinh: nhân dân các dân tộc ở khu vực châu lục này đã liên tiếp đấu tranh chống lại
ách thống trò của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và Anh, dẫn đến việc thành lập một số quốc gia độc lập như
Mexico, Braxin, Colombia, Chilê… sau khi được giải phóng, các nước này nhanh chóng trở thành miếng
Nguyễn Công Chất
Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới cận đại
- 30 -
mồi ngon cho tư bản Bắc Mỹ “trong thuyết Molro”châu Mỹ của người dân Mỹ. Nhưng thực ra chính là
thực hiện mưu đồi chiếm châu Mỹ là của riêng nước Mỹ.
II. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ TBCN VÀ SỰ XUẤT HIỆN NHỮNG
HỌC THUYẾT KINH TẾ VÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN.
Trong khi phong trào cách mạng không ngừng tiếp điển thì kinh tế tư bản chủ nghóa đã có những bước
tiến quan trọng. Trong nhiều nước ở châu âu tuy chưa tiến hình cách mạng tư sản, nhưng nhân tố tư bản
chủ nghóa cũng đã nảy nở trong nền kinh tế mổi nước. Trong nửa đầu thế kỷ XIX nhất là trong khỏang
1815 – 1848, cuộc cách mạng công nghiệp tiếp tục phát triển trong các nước lớn, đẩy nền kinh tế lên một
mức cao. Tình hình đó đã tạo nên một nguồn của cải phong phú và mở ra khả năng sản xuất to lớn. Đồng
thời nó cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của mâu thẩn xã hội. Bên cạnh mâu thuẫn giữa chủ nghóa tư
bản với chế độ phong kiến, đã xuất hiện mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Điều đó tác
động quan trọng đến sự diễn biến của phong trào cách mạng trong những năm giữa thế kỹ XIX.
Sự phát triển kinh kinh tế tư bản chủ nghóa cũng đã tạo điều kiện cho sự ra đời của những học
thuyết chính trò kinh tế và triết học cổ điển với những đại biểu như Adam Smith David Ricardo, Mal
Thoux (Trường phái chính trò kinh tế cổ điển Anh) và Héger, Feurbach (Triết học cổ điển Đức). Các học
giả này đã cố gắng giải thích những hiện tượng mới trong xã hội. Mặc dù còn có nhiều hạn chế nhưng nó
Các ông đã chỉ trích, kết tội tư bản chủ nghóa, mơ ước xóa bỏ nó và tưởng tượng ra một chế độ xã
hội tốt đẹp hơn. Nhưng chủ nghóa xã hội không tưởng không thể vạch ra một lối thoát thật sự. Nó không
giải thích được bản chất của chế độ nô lệ làm thuê trong chế độ tư bản chủ nghóaNó không phát hiện
được quy luật phát triển của chế độ ấy và cũng không tìm thấy lực lượng xã hội có khả năng xây dựng
nên một xã hội mới là giai cấp công nhân. Tuy nhiên trong điều kiện lòch sử lúc đó chủ nghóa xã hội
không tưởng là một trào lưu tư tưởng tiến bộ và trở thành một trong những nguồn gốc của thuyết học
Maxx.
VI. TỪ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHÔNG TƯỞNG ĐẾN CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN
KHOA HỌC.
Học thuyết về chủ nghóa cộng sản khoa học do Marx và Engel đế xướng vào những năm 40 của
thế kỷ XIX là một sự kiện lòch sử trọng đại to lớn. Nó ra đời trong những điều kiện lòch sử nhất đònh của
sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghóa và của mối mâu thuẫn giai cấp giữa tư sản và vô sản ngày càng
tăng, sự phát triển của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ngày càng sâu rộng. Dựa vào những
tri thức khoa học về tự nhiên và xã hội cũng như quá trình đấu tranh không mệt mỏi của mình Marx và
Engels đã nghiên cứu xây dựng nền tảng đầu tiên cho học thuyết cộng sản khoa học. Bước chuyển biến
từ chủ nghóa xã hội không tưởng sang chủ nghóa cộng sản khoa học được đánh dấu bằng tác phẩm “Tuyên
ngôn của Đảng cộng sản” được công bố vào tháng 2 năm 1842.
“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” đó chính là cương lónh cách mạng của giai cấp vô sản.
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản bao gồm những nội dung chính:
Lời mở đầu: Marx và Engels nói lên mục đích khi viết tuyên ngôn là “công khai trình bày trước toàn
thể thế giới những quan điểm, mục đích, ý đồ của mình để đập lại quan điểm của giai cấp tư sản về bóng
ma cộng sản”.
Chương I : nêu lên một cách khái quát quy luật phát triển cơ bản của xã hội tư sản, vạch rõ lợi ích đối
lập giữa giai cấp tư sản và vô sản và sứ mệnh lòch sử của giai cấp vô sản.
Chương II : Marx và Engels nêu lên muốn hoàn thành sứ mệnh lòch sử chôn vùi giai cấp tư sản và xây
dựng xã hội mới, giai cấp vô sản cần phải có một chính đảng vô sản, một nền chuyên chính vô sản và
phải dùng những biện pháp bạo lực cách mạngđể chống lại bạo lực phản cách mạng
Chương III : Để phát triển và bảo vệ chân lý của chủ nghóa cộng sản khoa học, Marx và Engels phê
1.Cách mạng tháng 2.
Năm 1845 – 1846, khủng hoảng kinh tế đã diễn ra ở nước Pháp. Khủng hoảng kinh tế đã tác động và
làm chín muồi cuộc khủng hoảng chính trụ, đẩy nền thống trò của Louis Philippe đến chỗ mục ruỗng, thối
nát, và cách mạng đã bùng nổ.
Ngày 22 – 2 – 1848, quần chúng nhân dân Pa-ri, nòng cốt là những người công nhân tiên tiến đã
kéo xuống đường biểu tình đòi cách chức thủ tướng Gizo và tiến hành cải cách tuyển cử. Nhiều cuộc xung
đột đã xảy ra giữa cảnh sát, binh lính với những người biểu tình. Các chiến lũy đã được dựng lên khắp các
ngả đường. Hội viên các đoàn thể cách mạng bí mật, công nhân và những người dân chủ tiêu tư sản đã
đứng ra lãnh đạo cuộc đấu tranh vũ trang của quần chúng.
Quân đội của chính phủ bò đánh tan, vua Luis Philippe phải thoái vò và chạy trốn sang Anh. Cách
mạng đã giành được thắng lợi bước đầu. Một chính phủ lâm thời được thành lập gồm tuyệt đại đa số đại
biểu của giai cấp tư sản, hai đại biểu của giai cấp vô sản là là Luois Blanche và Anberre, còn lại là đại
biểu của tầng lớp tiểu tư sản. Đó là biểu hiện của sự thỏa hiệp giữa các giai cấp khác nhau đã cùng nhau
lật đổ nền Quân chủ tháng Bảy, nhưng lợi ích thì vẫn đối lập nhau.
Trước áp lực của quần chúng nhân dân và thái độ kiên quyết của giai cấp công nhân, chính phủ lâm
thời buộc phải thực thi một số biện pháp.
•
Tuyên bố thành lập nền cộng hòa (25 – 2 – 1848), nhưng thực chất đó là nền cộng hòa tư sản.
•
Thông qua quyết nghò thành lập y ban lao động do Luis Blanche và Anbrre phụ trách.
•
Cho xây dựng các công xưởng quốc gia để giải quyết việc làm cho những người thất nghiệp và
giảm bớt giờ làm cho công nhân.
Đứng trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp công nhân, giai cấp tư sản đã dùng nhiều
thiếu sự ủng hộ và phối hợp chặt chẽ chẽ của quần chúng nhân dân.
Dẫu bò thất bại, nhưng khởi nghóa tháng sáu có ý nghóa rất lớn. Marx nhận đònh; đó là cuộc giao
chiến lớn đầu tiên giữa hai giai cấp đối lập trong xã hội hiện đại. Đó là cuộc đấu tranh để duy trì hoặc để
tiêu diệt chế độ tư sản.
Sau thất bï của giai cấp công nhân Pháp trong khởi nghóa Tháng Sáu, chính phủ cộng hòa thiết
lập chế độ chính trò phản động khủng bố gắt gao, tước bỏ quyền dân chủ, tập trung quyền hành độc đoán
vào tay Louis Ponaparte (danh hiệu Napoleon III). Tháng 12 – 1982, nền cộng hòa thứ hai ở Pháp hoàn
toàn sụp đổ. Đế chế thứ hai được xác lập. Chính sách bành trước thuộc đòa của nền đế chế hai được thi
hành ráo riết hơn ở khu vực châu Phi và châu Á.
II. CÁCH MẠNG 1848 VÀ CÔNG CUỘC THỐNG NHẤT NƯỚC ĐỨC.
1. Cách mạng 1848 ở Đức.
Trong hoàn cảnh lòch sử chung của châu u, nước Đức cũng rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế – chính
trò ngày càng trầm trọng. Tình trạng đất nước bò chia cắt đã làm cản trở rất lớn cho sự phát triển của đất
nước. Nó không những cản trở sự phát triển của chủ nghóa tư bản mà còn gây khó khăn cho phong trào
đấu tranh của giai cấp công nhân vì thống nhất dân tộc, vì dân chủ và đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng
dân tộc bò áp bức.
Nguyễn Công Chất
Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới cận đại
- 34 -
Tháng 2 năm 1848, cách mạng đã nổ ra ở hấu hết các tiểu vương quốc ở miền Nam nước Đức. Những
cuộc nổi dậy ở miền Nam nước Đức đã thu được một số thắng lợi nhất đònh buộc giai cấp phong kiến phải
thay các chính phủ phản động cũ bằng nội các tư sản tự do.
phản cách mạng do giai cấp quý tộc phong kiến- tư sản Gioongke tiến hành. Giai cấp công nhân Đức còn
đang trong giai đoạn hình thành, lực lượng phân tán nên chưa thể lãnh đạo công cuộc thống nhất đất
nước. Hai quốc gia lớn là o và Phổ đang tranh chấp nhau, đều muốn giữa đòa vò lãnh đạo nước Đức
thống nhất sau này.
Nguyễn Công Chất
Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới cận đại
- 35 -
Quá trình thống nhất nước Đức được bắt đầu từ khi Bismak, người đại diện cho quan điểm và
quyền lợi cho tầng lớp Gioongke lên làm thủ tướng kiêm bộ trưởng bộ ngoại giao Phổ. Bismak theo chủ
nghóa dân tộc Phổ, đặt nước Phổ đứng đầu quốc gia Đức, chủ trương dùng bạo lực để chống o và các
nước khác cản trở việc thống nhất Đức theo ý ông ta.
Năm 1864, Bismak đã khai chiến với Đan Mạch. Năm 1866, chiến tranh Pháp – Phổ bùng nổ và
Phổ giành được thắng lợi. Bò thua o phải rút khỏi liên bang Đức (thành lập từ 1815) thừa nhận Phổ có
quyền xây dựng một tổ chức chính trò mới là liên bang Bắc Đức.
Bismak xem việc thành lập liên bang Bắc Đức chỉ là một giai đoạn trên con đường đi đến thống
nhất hoàn toàn. Bismak vội vàng lợi dụng tình hình do các chiến thắng vừa thu được để tiến hành cuộc
chiến tranh với Pháp nhằm sáp nhập luôn miền Tây Nam vào Đức, hoàn thành thống nhất nước Đức.
Ngày 19 – 7 – 1790, chiến tranh bùng nổ. Tháng 11 -1870, các quốc gia Nam Đức đã gia nhập
liên minh Bắc Đức. Pháp thất bại thảm hại trong cuộc chiến tranh và sau đó còn bò Đức đưa quân sang
xâm lược. Tính chất của cuộc chiến tranh đã hoàn toàn thay đổi: lúc đầu, chính nghóa của cuộc chiến
tranh thuộc về phía Đức, nhưng khi Đức đưa quân sang xâm chiếm nước Pháp. Khi đó, đứng về phía Đức
thì cuộc chiến tranh trở thành xâm lược, phi nghóa.
Như vậy, việc thống nhất nước Đức (sự thống nhất là một tiến bộ của lòch sử, vì nó mở đường cho
động do Ferdinand I cầm đầu công khai đối lập với quần chúng nhân dân, gây ra nhiều vụ khiêu khích và
điều quân đội đến đàn áp phong trào cách mạng, dập tắt cuộc khởi nghóa tháng 10 của quần chúng nhân
dân ở Viên. Chúng công khai tuyên bố khôi phục lại nước Áo.
Như vậy, cuộc cách mạng 1848 không hoàn thành được nhiệm vụ lật đổ chế độ quân chủ và giải
phóng các dân tộc khỏi ách áp bức của nhà nước Áo.
b. Phong trào giải phóng dân tộc ở Tiệp và Hunggari.
Mùa xuân năm 1848, cao trào cách mạng ở Châu Âu cũng tràn về Tiệp và Hunggari.
Vấn đề đặt ra đối với cách mạng ở Tiệp là giải phóng các dân tộc Xlavơ khỏi thống trò của đế
quốc Áo. Trong cao trào cách mạng chung ở châu Âu, ngày 11 – 3 – 1848, quần chúng Praha họp mít tinh
đòi những quyền tự do dân chủ. Một số người cấp tiến còn yêu cầu thủ tiêu chế độ phong kiến. Trước
phong trào mạnh mẽ của quần chúng, giai cấp tư sản tự do Tiệp triệu tập đại hội Xlavơ, nhưng không
thành bởi cuộc khởi nghóa ngày 2 – 6 của quần chúng nhân dân nhằm chống lại chủ trương biến nước Áo
thành một liên bang các dân tộc. Trước sức mạnh của kẻ thù, ngày 17 – 6 phong trào cách mạng bò dập
tắt.
- Đối với dân tộc Hunggari, cuộc đấu tranh đặt ra là chống lại triều đình phong kiến Hapxbua gắn
liền với những yêu cầu cải cách tư sản và những yêu sách của quần chúng. Ngày 15 – 3, cuộc khởi nghóa
bùng nổ ở Bunđapet do công nhân, thợ thủ công, sinh viên và nông dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của
nhà dân chủ cách mạng Sandro Pêtophi (nhà thơ). Lực lượng cách mạng đã đánh lùi quân đội chính phủ,
tràn vào thành phố và lập nên chính phủ độc lập đầu tiên của Hunggari do Cotchianni, một phần tử tự do
ôn hòa đứng đầu.
Trước những yêu cầu cách mạng của quần chúng, chính phủ mới đã không có ý đònh thật sự giải
quyết các vấn đề cơ bản của đất nước, không đem lại quyền bình đẳng và tự trò cho các dân tộc. Nó
không được sự ủng hộ của quần chúng và ngả dần sang lập trường phản động của nền quân chủ Áo.
Sau sự thất bại của khởi nghóa tháng sáu ở Paris, bọn phản cách mạng Áo chuyển sang thế tấn
công và Nga hoàng cũng đã kòp thời đem quân can thiệp. Đến cuối tháng 9, cuộc cách mạng Hunggari đã
bò các thế lực phong kiến phản động châu Âu dập tắt.
2. Phong trào cách mạng 1848 và cuộc đấu tranh thống nhất nước Ý.
a. Phong trào cách mạng 1848 – 1849.
Nhiệm vụ chủ yếu của cuộc cách mạng dân chủ tư sản Ý năm 1848 – 1849 là thống nhất đất
1. Giai cấp tư sản tự do ở các vương quốc đều muốn tiến hành chiến tranh chống Áo nhưng không
phát động quần chúng nhân dân mà dựa vào Piemông là vương quốc có nền kinh tế tư bản chủ
nghóa phát triển nhất ở Ý do Cavua làm thủ tướng. Cavua chủ trương thống nhất nước Ý bằng con
đường “từ trên xuống”, tiến hành những cuộc chiến tranh vương triều, tiến tới thành lập nước Ý
dưới quyền lãnh đạo của triều đại Xavoa.
2. Những người có khuynh hướng tư sản dân chủ được quần chúng ủng hộ, xác đònh con đường tiến
hành cách mạng coi đấu tranh vũ trang là biện pháp cơn bản để giải phóng và thống nhất nước Ý.
Matdini là đại biểu cho khuynh hướng này.
Quá trình thống nhất nước Ý có thể chia làm ba giai đoạn
1- cuộc đấu tranh chống Áo và sự thống nhất miền Bắc Trung Ý (4/1859 – 3/1860).
Khủng hoảng kinh tế ở Châu Âu 1857, gây tác hại nghiêm trọng đối với nền kinh tế và đời sống
nhân dân Ý. Làn sóng công phẫn của nhân dân dâng cao, tình thế cách mạng chín muồi; tình hình có lợi
cho nước Ý khi các nước Anh, Nga, Phổ đều không muốn giúp Áo và nhất là hiệp ước giữa Cavua và
Napo’le’ons III – hiệp ước liên minh chống Áo được ký kết vào tháng 7 – 1838. Cao trào cách mạng của
quần chúng nhân dân phát triển rất cao và giành được nhiều thắng lợi lớn, đẩy quân Áo có nguy cơ bò thất
bại hoàn toàn.
Nhưng trước phong trào cách mạng của nhân dân Ý, Napoleon III đã bội ước, trắng trợn chuyển
sang phe phản động, công khai thừa nhận duy trì sự chia cắt nước Ý. Nhân dân Ý hết sức căm phẫn trước
thái độ phản bội của Napoleon III đã nổi dậy cùng với những người dân chủ tư sản đứng đầu là Matdini
gây sức ép với các quốc hội Toxcana, Pacma, Modena và Romani phê chuẩn việc truất ngôi các triều đại
thân Áo và ra sắc lệnh sáp nhập vào vương quốc Piemong vào tháng 3 – 1860.
2-Cao trào cách mạng Nam Ý và sự thành lập nước Ý thống nhất (1860 - 1861).
Nguyễn Công Chất
Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới cận đại
lực chủ yếu của sự phát triển của chủ nghó a tư bản. Nhưng tùy theo điều kiện lòch sử của từng nước,
nhiệm vụ của cuộc cách mạng ở từng nơi được thể hiện khác nhau. Nhưng tính chất chung của cuộc cách
mạng 1847 – 1849 là cách mạng tư sản, có nhiệm vụ lật đổ chế độ phong kiến và giải phóng nhân dân
khỏi ách áp bức dân tộc. Quần chúng nhân dân đóng vai trò quyết đònh trong quá trình diễn biến của các
sự kiện. Sự tham gia của quần chúng làm cho cuộc cách mạng đó mang tính chất dân chủ tư sản nhiều
hay ít là tuỳ từng nơi.
Điều đặc biệt trong cuộc cách mạng này, giai cấp công nhân tham gia tích cực và trong nhiều
nước họ là đội quân chủ lực. Năm 1848, lần đầu tiên giai cấp công nhân chiến đấu với những yêu cầu
chính trò và kinh tế riêng của giai cấp mình. Cũng là lần đầu tiên, giai cấp công nhân đấu tranh trên một
quy mô rộng lớn, không chỉ chống chế độ phong kiến mà còn chống ngay với trật tự tư sản.
Nguyễn Công Chất
Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới cận đại
- 39 -
2. Nguyên nhân thất bại.
- Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thất bại của cuộc cách mạng 1848 – 1849 là sự phản bội của giai
cấp tư sản tự do. Ban đầu những kẻ đại biểu cho tầng lớp này thường đóng vai trò lãnh đạo cách mạng với
ý đồ lợi dụng lực lượng quần chúng làm áp lực cho cuộc đấu tranh đòi quyền lợi giai cấp hẹp hòi của
chúng. Trong quá trình đấu tranh, bọn chúng sợ hãi những hoạt động tích cực của giai cấp công nhân nên
sẵn sàng thỏa hiệp với chính quyền quân chủ với bọn quân phiệt phản động và tất cả các thế lực của chế
độ cũ để chống lại nhân dân.
- Những người dân chủ tư sản và tiểu tư sản đã đóng vai trò đáng chú ý trong cuộc cách mạng. Nhưng
trong quá trình đấu tranh họ đã bộc lộ rõ tính dao động, do dự và thiếu quyết tâm. Tính chất không triệt
để và nửa chừng đã vạch rõ bản chất hai mặt của tầng lớp tiểu tư sản và trong thực tế, nó là nguyên nhân
Lòch sử thế giới cận đại
- 40 -
- Thực tế cách mạng 1848-1849 đã vạch trần tính chất phản bội của giai cấp tư sản, tính chất bấp bênh
của những người tiểu tư sản. Giai cấp công nhân thấy rõ sự cấp bách phải thành lập chính đảng vô sản đã
khả năng lãnh đạo quần chúng đấu tranh cho lợi ích độc lập của giai cấp mình.
-Từ trong các cuộc đấu tranh quyết liệt, giai cấp vô sản đã sáng tạo ra phương pháp cách mạng của
mình: dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng thông qua con đường khởi nghóa vũ
trang, xem đó như là một nghệ thuật, phải tiến công kẻ thù để giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Những bài học của cuộc cách mạng: 1848-1849 đã được Marx và Engels tổng kết trong các tác
phẩm “đấu tranh giai cấp ở Pháp”, “Ngày 18 tháng sương mù của Louis Bouaparte”, “Cách mạng và phản
cách mạng ở Đức” và hàng loạt bài báo khác. Có thể coi đó là những tác phẩm mẫu mực về sự vận dụng
quan điểm duy vật lòch sử vào việc nghiên cứu những diễn biến của thời cuộc. Trải qua thực tiễn cách
mạng, nhất là từ sau công xã Paris, những luận điểm của chủ nghóa Marx ngày càng được bổ sung phong
phú.
4. Ý nghóa lòch sử
Cuộc cách mạng năm 1848 – 1849 bò thất bại trên hầu hết các nước châu u. Nhưng nó đã để lại
ý nghóa lòch sử lớn: chế độ phong kiến và những tàn dư của nó bò lung lay tận gốc rễ. Những cuộc cách
mạng đã tạo điều kiện để thiết lập và phát triển chủ nghóa tư bản. Trình độ giác ngộ và tổ chức của công
nhân có những bước trưởng thành mạnh mẽ tạo những tiền đề cần thiết đẩy mạnh phong trào cách mạng
của giai cấp công nhân trong phạm vi một nước và trên toàn thế giới.
V. CUỘC CẢI CÁCH NÔNG NÔ Ở NGA GIỮA THẾ KỶ XIX
Trong khi hầu hết các nước châu u tiến hành cuộc cách mạng tư sản thì ở nước Nga diễn ra
cuộc cách mạng nông nô-1861, với mục đích nhằm điều chỉnh quan hệ kinh tế giữa đòa chủ và nông dân
nhằm tạo ra điều kiện mới cho chủ nghóa tư bản ở Nga phát triển.
Cách mạng tư sản Mỹ giành được thắng lợi. Nhưng cho đến trước cuộc nội chiến, trong gần 100
năm, kinh tế Mỹ chủ yếu phát triển theo hai con đường: con đường công thương nghiệp ở miền Bắc và
con đường chế độ nô lệ đồn điền ở các bang miền Nam. Sự phát triển kinh tế ở hai miền tạo ra mâu thuẫn
không tránh khỏi.
Điều đáng chú ý khi nước Mỹ bước vào thời kỳ phát triển với đặc trưng nông nghiệp ở phía Bắc
theo mô thức kinh tế trại chủ nhỏ chiếm ưu thế sản xuất phục vụ thò trường công nghiệp. Nhưng ở miền
Nam, nền kinh tế nông nghiệp vẫn nằm trong tay các chủ đồn điền lớn dựa trên sự bóc lột nô lệ da đen.
Nhưng từ năm 1820, kinh tế “Trại chủ” đã tạo nên con đường khác với nhiều nước châu u,
được gọi là con đường “Kiểu Mỹ”. Nhưng con đường phát triển nông nghiệp tư bản Mỹ không thể dung
nạp chế độ nô lệ đồn điền miền Nam và bản thân những người nô lệ ngày càng đông sẽ đấu tranh đòi giải
phóng. Mâu thuẫn trên đã dẫn nước Mỹ một cuộc nội chiến không tránh khỏi. Cuộc nội chiến nhằm quét
sạch những tàn dư của chế độ nô lệ, của phương thức sản xuất lạc hậu mở đường cho chủ nghóa tư bản Mỹ
phát triển.
Bên cạnh đó, sau cuộc chiến tranh giành độc lập, Hiến pháp Mỹ đã mặc nhiên công nhận sự tồn
tại của chế độ nô lệ. Quyền lợi giữa hai tập đoàn tư bản công thương nghiệp và chủ nô và miền Nam
không thể điều hoà được nữa. Nội chiến ắt phải xảy ra.
Nội chiến ở Mỹ kéo dài từ 1861-1865, giữa hai phe Hiệp bang (gồm 11 bang ở miền Nam) và
liên bang do Abraham Lincoln làm tổng thống đứng đầu.
Cuộc nội chiến kết thúc vào tháng 4 năm 1865. Trong cuộc chiến tranh này, cả hai phe mất
chừng 60 vạn quân. Quân đội phe liên bang giành được thắng lợi cuối cùng. Chính trong lễ mừng chiến
thắng 14/4/1865, tổng thống Lincoln bò ám sát.
Sau thắng lợi của phe liên bang, chế độ nô lệ được tuyên bố huỷ bỏ. Trong tình hình nước Mỹ trở
nên khá phức tạp. Cuộc đấu tranh giữa các phe phái tư sản và chủ nô vẫn còn diễn ra vô cùng quyết liệt.
Sự kỳ thò chủng tộc vẫn chế ngự đời sống xã hội nhiều nơi trên đất Mỹ. Tuy nhiên kết quả to lớn của cuộc
nội chiến là chế độ nô lệ bò xoá bỏ, con đường phát triển tư bản kiểu Mỹ trong nông nghiệp được mở
rộng, cơ sở cho sự phát triển công nghiệp được tạo nên một cách đầy hứa hẹn. Nhờ vậy cuối thế kỷ XIX
nước Mỹ bắt đầu tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp, nhanh chóng đưa nước Mỹ lên vò trí hàng đầu
của các nước tư bản trên thế giới.
Nguyễn Công Chất
giai cấp vô sản, thống nhất giai cấp vô sản trong từng nước và trên thế giới để chống lại “Những độc hại
của các khuynh hướng cơ hội chủ nghóa” trong phong trào công nhân và chủ nghóa tư bản trên toàn thế
giới.
II. SỰ THÀNH LẬP QUỐC TẾ THỨ NHẤT : TUYÊN NGÔN VÀ ĐIỀU LỆ.
Ngày 22-7-1863. Theo sáng kiến của hội đồng các hội công liên Anh và Pháp đã đi tới một quyết
đònh thành lập một tổ chức quốc tế của giai cấp vô sản. Và sau đó một y ban trù bò đã được thành lập,
có nhiệm vụ tổ chức một tổ chức quốc tế của giai cấp vô sản, thiết lập mối liên hệ quốc tế của giai cấp vô
sản để xúc tiến việc thành lập Hội.
Ngày 28-9-1864, tại hội trường Saint Martin ở Luân Đôn Hội liên hiệp lao động quốc tế (Quốc tế
I) được thành lập. Hội đã bầu ra một ban chấp hành Trung ương gồm 32 người. Việc khởi thảo tuyên
ngôn và điều lệ được trao cho một tiểu ban trong đó có Marx, nhà cách mạng lỗi lạc và có uy tín lớn lao
trong giai cấp vô sản.
Vận dụng một cách mềm dẻo và trung thành với những nguyên lý cơ bản đã được đề ra trong Tuyên
ngôn của Đảng cộng sản Marx đã hoàn thành Tuyên ngôn và Điều lệ của Hội liên hiệp lao động Quốc tế,
và được Ban chấp hành Trung ương nhất trí thông qua vào ngày 1-11-1864.
Nguyễn Công Chất
Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới cận đại
- 43 -
Nội dung tuyên ngôn bao gồm những vấn đề chính:
1. Tổng kết tình hình kinh tế – xã hội của các nước u – Mỹ từ 1948 đến năm 1864. Bóc trần bản chất
xấu xa của chủ nghóa tư bản.
2. Tổng kết phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Nhưng thành công và nguyên nhân thất bại.
nghóa Mác dần dần chiếm đòa vò thống trò và đẩy mạnh việc xây dựng tổ chức của giai cấp vô sản, thực
hiện nhiệm vụ vẻ vang và đoàn kết các lực lượng công nhân ở các nước, chuẩn bò tư tưởng và đội ngũ cho
cuộc đấu tranh lâu dài giải phóng hoàn toàn lao động. Le’nine đã đánh giá: Chính Quốc tế I đã đặt nền
tảng cho phong trào Cộng sản Quốc tế, và tấm gương cương quyết, kiên trì, sách lược mềm dẻo của Marx
và Engels trong cuộc đấu tranh chống các trào lưu xã hội chủ nghóa “dưới mọi màu sắc” phi vô sản là
những bài học vó đại trong lòch sử của phong trào công nhân chống lại những ảnh hưởng của các khuynh
Nguyễn Công Chất
Khoa Lòch Sử
Lòch sử thế giới cận đại
- 44 -
hướng cơ hội chủ nghóa, không ngừng giương cao ngọn cờ đoàn kết quốc tế, thực hiện lời kêu gọi vó đại
của Marx.
VÔ SẢN TẤT CẢ CÁC NƯỚC, ĐOÀN KẾT LẠI.
Nguyễn Công Chất
Khoa Lòch Sử