NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MÍA ĐƯỜNG SÔNG LAM – NGHỆ AN - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHỆP
KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
--------------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
MÔI TRƯỜNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MÍA ĐƯỜNG
SÔNG LAM – NGHỆ AN

NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ :

306

Giáo viên hướng dẫn

: TS. Trần Quang Bảo

Sinh viên thực hiện
Khóa học

KS. Tăng Sỹ Hiệp
: Lê Thị Hà
: 2008 – 2012

Hà Nội - 2012
LỜI CẢM ƠN


Để kết thúc khóa học năm 2008 – 2012 tại trường Đại học Lâm nghiệp,
chuyên ngành Khoa học môi trường, đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn

Danh mục hình
Danh mục sơ đồ
1.1 Tổng quan về ngành sản xuất mía đường...............................................3
1.1.1. Ngành mía đường Thế giới............................................................3
1.1.2. Ngành mía đường Việt Nam.........................................................3
1.2. Các vấn đề môi trường trong ngành công nghiệp sản xuất mía đường 4
1.3. Thực trạng các giải pháp bảo vệ môi trường cho ngành công nghiệp
mía đường Việt Nam.....................................................................................7
Như đã trình bày ở trên, ngành công nghiệp mía đường đã có những bước
tăng trưởng nhanh chóng và góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, do trang thiết bị cũ kĩ, máy móc lạc hậu, hệ thống xử lý chất
thải chưa được đầu tư đúng mức đã và đang gây ra nhiều vấn đề môi
trường nghiêm trọng......................................................................................7
1.4. Giới thiệu chung về công ty Cổ phần mía đường Sông Lam - Nghệ
An................................................................................................................10
2.4.5. Phương pháp điều tra xã hôi học .................................................17
2.4.6. Phương pháp so sánh, đánh giá....................................................17
4.1.2.1. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí..................................25
4.1.2.2. Các nguồn ảnh hưởng tới chất lượng môi trường nước.....................26
4.1.2.3 Chất thải rắn .................................................................................26
- Bã mía ép, nguyên liệu rơi vãi, các sản phẩm phế thải khác, lượng bã
mía thải ra 20.970 tấn/ năm.........................................................................26
4.3.1.1. Các biện pháp công ty áp dụng giảm thiểu ô nhiễm không khí:........32
4.3.1.2. Hiệu quả của các biệp pháp áp dụng giảm thiểu khí thải ..................34


4.3.2.1.Các biện pháp khống chế ô nhiễm nguồn nước..................................37
4.3.2.2. Hiệu quả của các biện pháp khống chế ô nhiễm nước.......................41
4.3.3.1. Các biện pháp áp dụng quản lý chất thải rắn......................................45
4.3.2.2. Hiệu quả các biện pháp áp dụng........................................................47

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam.

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Kết quả phân tích nước trước khi thải ra môi trường.....................29
Bảng 4.2: Kết quả phân tích mẫu khí thải - Khu vực trong nhà máy..............35
Bảng 4.3 : Kết quả phân tích khí thải - Bên ngoài nhà máy............................35
Bảng 4.4: Kết quả phân tích nước thải............................................................41
Biểu đồ 4.1: Hàm lượng các chất ô nhiễm trước và sau xử lý...............43


Biểu đồ 4.2: Hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước sau khi xử lý..44


DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1: Tiếp nhận nguyên liệu.....................................................................22
Hình 4.2: Băng tải mía vào hệ thống ép..........................................................22
Hình 4.3: Mật chè............................................................................................24
Hình 4.4: Ống thải Bã bùn..............................................................................24
Hình 4.5: Nước làm mát theo đường dẫn........................................................40
ra ngoài............................................................................................................40
Hình 4.6 : Hệ thống xử lý nước thải...............................................................40
Hình 4.7: Hồ sinh học.....................................................................................41
Hình 4.8: Nước lưu sau xử lý, trước khi thải ra ngoài....................................41
Hình 4.9: Kho chứa bã mía thừa ....................................................................45
Hình 4.10: Bã mía thừa được vận

chuyển sang lò đốt sản xuất cồn...........45


4. Mục tiêu nghiê cứu:
- Đánh giá hiệu quả về các biện pháp quản lý và bảo vệ môi trường của
công ty Cổ Phần Mía đường Sông Lam.
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường
cho công ty.
5. Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu quy trình công nghệ và nguồn phát sinh chất thải của Công ty
Mía đường Sông Lam.
- Nghiên cứu ảnh hưởng hoạt động sản xuất tại Công ty Mía đường Sông
Lam tới môi trường.
- Đánh giá hiệu quả công tác quản lý môi trường của Công ty Mía đường
Sông Lam.
- Đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường cho
Công ty Mía đường Sông Lam.
6. Kết quả đạt được:
1. Công ty Cổ phần Mía đường Sông Lam với quy mô sản xuất nhỏ nhưng đã
góp phần lớn trong việc phát triển nền kinh tế- xã hội của khu vực. Tuy nhiên
với thiết bị thô sơ, quy trình sản xuất gồm nhiều giai đoạn đã thải ra một
lượng lớn chất ô nhiễm gồm: Nước thải, khí thải, chất thải rắn..


2. Với lượng lớn chất thải, nhưng trong giai đoạn đầu đi vào hoạt động Công
ty chưa chú trọng tới khía cạnh môi trường, công nghệ xử lý chất thải chưa
hoàn chỉnh đã gây ra ảnh hưởng lớn tới môi trường, nhiều chất gây ô nhiễm
vượt tiêu chuẩn như: BOD5 vượt tiêu chuẩn 4.9 lần, BOD vượt 4.1 lần…bên
cạnh đó còn có khói bụi, mùi phát sinh từ chất thải ảnh hưởng tới cuộc sống
của người dân xung quanh.
3. Trong nhưng năm gần đây Công ty đã có sự cải tiến, nâng cấp và đầu tư
công nghệ nên hạn chế sự tác động của chất thải tới môi trường xung quanh.
- Rác thải được thu gom, xử lý theo đúng quy định. Bã bùn và bùn thải

tích đất trồng mía. Chương trình mía đường được chọn là chương trình khởi
đầu để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn với
mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động
trong nông nghiệp, đặc biệt là giải quyết việc làm cho khu vực nông thôn,
miền núi. Trong hơn 20 năm qua, cùng với các hỗ trợ của Nhà nước, sản xuất
và đời sống của người nông dân đã được cải thiện đáng kể, bộ mặt nông thôn
đã được đổi mới, hệ thống, điện - đường- trường- trạm đã nâng cấp hơn nhiều.
Tuy nhiên, phần lớn các nhà máy có quy mô vừa và nhỏ với thiết bị và công
nghệ lạc hậu thường hay gặp sự cố kỹ thuật. Thực tế cho thấy nhiều nhà máy
chưa có đầy đủ hệ thống xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường xung quanh
bởi bụi khói lò hơi, bã bùn, nước thải, khí thoát ra từ các tháp phản ứng sunfit
hóa và cacbonat hóa. Chính vì vậy mà sự phát triển của ngành mía đường đã
và đang gây ra nhiều tác động tiêu cực cho môi trường.
Công ty Cổ phần Mía đường Sông Lam là tiền thân của Nhà máy
đường Sông Lam - Nghệ An được thành lập năm 1960. Với bề dày hoạt động
đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội khu vực. Tuy nhiên,
Nhà máy sản xuất với thiết bị lạc hậu và chưa chú trọng tới khía cạnh môi
trường nên cũng đã không tránh khỏi tình trạng nêu trên. Đến năm 2008,
Công ty đã mạnh dạn áp dụng các giải pháp đầu tư lớn nhằm giải quyết hiệu
quả các vấn đề tiêu thụ và thất thoát nguyên, vật liệu; các vấn đề môi trường
nổi cộm. Vậy giải pháp Công ty đã và đang áp dụng là gì? Hiệu quả của việc
áp dụng chúng ra sao? Những tồn tại trong công tác quản lý môi trường của

1


Công ty hiện nay là gì? Để tìm câu trả lời cho những thắc mắc ở trên tôi đã
thực hiện chuyên đề: “Nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý môi
trường của công ty Cổ phần Mía đường Sông Lam – Nghệ An”. Kết quả
nghiên cứu của đề tài là cơ sở đánh giá, nhận xét những mặt tích cực và hạn

nhà máy đường tinh luyện công suất nhỏ với thiết bị và công nghệ lạc hậu.
Hằng năm nước ta phải nhập khẩu 300.000 đến 500.000 tấn đường. Năm
1995, với chủ trương “Đầu tư chiều sâu, mở rộng các nhà máy đường hiện
có, xây dựng một số nhà máy có quy mô vừa và nhỏ ở những vùng nguyên
liệu nhỏ. Ở những vùng nguyên liệu lớn, xây dựng các nhà máy có thiết bị
công nghệ tiên tiến hiện đại, kể cả liên doanh với nước ngoài, sản lượng đường
3


năm 2000 đạt khoảng một triệu tấn” (Nghị Quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
80). Chương trình mía đường được chọn là chương trình khởi đầu để tiến hành
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, xóa đói, giảm nghèo giải
quyết việc làm cho lao động nông nghiệp. Ngành mía đường được giao “ không
phải là ngành kinh tế vì mục đích lợi nhuận tối đa mà là ngành kinh tế xã hội” [ 6 ]
Hơn một thập kỷ qua (1995 – 2011) tuy thời gian chưa nhiều nhưng
được sự hỗ trợ và quan tâm của Chính phủ, ngành mía đường còn non trẻ của
Việt Nam đã góp một phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế quốc dân và
ổn định xã hội thông qua giải quyết việc làm cho hàng triệu nông dân trồng
mía và hơn 2 vạn công nhân việc làm trong các nhà máy. Bên cạnh đó nó còn
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo nên các vùng sản xuất hàng hóa lớn,
bộ mặt nông thôn vùng mía đã có nhiều đổi mới…
Khi có chương trình 1 triệu tấn đường của Nhà nước thì ngành mía
đường được chú trọng phát triển. Nhiều nhà máy được xây dựng thêm, diện
tích đất trồng mía được mở rộng. Tuy nhiên, do sự phát triển ồ ạt trong giai
đoạn đầu trong khi các nhà máy được xây dựng với hệ thống máy móc, công
nghệ lạc hậu. Phần lớn các nhà máy đều sử dụng dây chuyền công nghệ thiết
bị cũ của Trung Quốc nên đã gây ra nhiều tác động tiêu cực cho môi trường.
1.2. Các vấn đề môi trường trong ngành công nghiệp sản xuất mía đường
Trong công nghiệp sản xuất mía đường để sản xuất ra 1 tấn đường kính
cần phải chế biến 1000 tấn mía nguyên liệu và quá trình đã thải ra: 275 tấn bã

tăng khả năng kháng sâu chịu hạn và kích thích phát triển cho cây tăng năng
suất từ 10÷ 15%. Lá cây mía có thể phản chiếu ánh nắng mặt trời được nhiều
hơn, đồng thời thân mía giải phóng được nhiều hơi nước hơn so với cây lương
lương thực, cỏ…. Do đó, phát triển cây mía tập trung, quy mô lớn cũng có thể
góp phần làm chậm lại sự ấm lên toàn cầu.[13]
Tuy nhiên, nước thải của ngành công nghiệp mía đường luôn chứa một
lượng lớn các chất hữu cơ bao gồm các hợp chất của cacbon, nitơ, phốtpho.
Các chất này dễ phân hủy bởi các vi sinh vật, gây mùi hôi thối làm ô nhiễm
nguồn nước tiếp nhận. Ngoài ra, nước thải còn chứa lượng lớn chất rắn lơ
lửng. Khi thải ra môi trường tự nhiên, các chất này có khả năng lắng và tạo
thành một lớp dày ở đáy nguồn nước, phá hủy hệ sinh vật làm thức ăn cho cá.
Lớp bùn này còn chứa các chất hữu cơ làm cạn kiệt oxy trong nước và tạo ra
các loại khí như H2S, CO2, CH4. Bên cạnh đó, nước thải còn chứa một lượng
5


đường lớn gây ô nhiễm nguồn nước. Không những là vấn đề nước thải, nếu
khí thải và chất thải rắn không được đầu tư xử lý thì cũng tác động lớn tới môi
trường khu vực.
Cũng chính vì lý do trên, nếu các nhà máy sản xuất đường không xử lý
một cách triệt để sẽ gây ra ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng. Một số nhà máy đã
vi phạm gây ô nhiễm môi trường bị người dân và báo chí truyền thông phản ánh:
Ngày 26/11/1998, Chương trình Công nghệ và Môi trường Đài truyền
hình tỉnh Bình Dương có báo động về tình hình ô nhiễm nước thải do nhà
máy đường Bình Dương gây ra trên sông Rạch Bà Lụa. Với lượng nước thải
lớn chưa xử lý được thải ra hằng ngày, Rạch Bà Lụa không đủ khả năng làm
sạch và hậu quả là khu vực lân cận điểm xả, thực vật không phát triển được
một số loài thủy sinh bị chết.
Theo phản ánh báo Pháp luật, nhiều năm qua nhân dân xã kỳ Sơn,
huyện Tân kỳ (Nghệ An) phải sống chung với ô nhiễm không khí, nguồn

mía đường nhưng đã có các văn bản quy định chung về bảo vệ môi trường
cho các cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh như:
- Luật bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nước cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và ban hành ngày 29/11/2005 trong các
điều 82, 83, 85 chương VIII quy định về quản lý nước thải, kiểm soát bụi, khí
thải và hạn chế tiếng ồn đối với các cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh.
Điều 86 chương XI quy định trách nhiệm phòng ngừa ô nhiễm của các cơ sở
sản xuất kinh doanh;
- Nghị định 117/2009/ NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Chính
phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Nghị định 29/2011/ NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ
quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường,
cam kết bảo vệ môi trường;
- QCVN 08 : 2008/BTNMT - quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất
lượng nước mặt;
- QCVN 05 : 2009/BTNMT - quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất
lượng không khí xung quanh;

7


- QCVN 06 : 2009/BTNMT - quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số
chất độc hại trong không khí xung quanh;
- QCVN 26:2010/BTNMT - quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn
quy định giới hạn tối đa các mức ồn tại khu vực con người hoạt động, sinh
sống và làm việc;
- QCVN 40 : 2011/BTNMT (Thay thế QCVN 24:2009/ BTNMT) - quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp;
- QĐ 3733/2002/QĐ-BYT quyết định về việc ban hành 21 tiêu chuẩn
vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh an toàn lao động;

Việc đầu tư nghiên cứu khoa học cũng đã được nhiều cá nhân và tổ
chức quan tâm. Trong các đề tài nghiên cứu có:
“Công nghệ sản xuất phân bón Huđavil từ bã bún mía và phế thải các
nhà máy đường” do kỹ sư Hoàng Đại Tuấn, Trung tâm công nghệ Hóa sinh
Huđavil cùng đồng nghiệp đã nghiên cứu, thử nghiệm trong vòng 10 năm.
Công trình khoa học Công nghệ sản xuất này được áp dụng thử nghiệm ở bảy
nhà máy đường và bón thử nghiệm ở nhiều địa phương đạt kết quả tốt. Trước
kết quả đó, năm 1999 bộ khoa học Công nghệ và Môi trường đã phê duyệt
công trình này thành dự án cấp nhà nước “Hoàn thiện công nghệ chế biến
phế thải các nhà máy đường làm phân bón hữu cơ vi sinh - đa vi lượng
Huđavil kết hợp với xử lý ô nhiễm môi trường và cải tạo chống thoái hóa đất
trồng mía”. Đến tháng 10 năm 2001, Hội đồng khoa học và công nghệ cấp
nhà nước đã đánh giá xuất sắc vì dự án đã góp phần giải quyết những vấn đề
bức xúc của ngành mía đường về phân bón, giải quyết tình trạng ô nhiễm môi
trường và tạo công ăn việc làm cho hằng trăm lao động ở các địa phương.
[14]
Nhằm giải quyết trình trạng ô nhiễm nguồn nước và chất thải rắn của
ngành mía đường. Cuối năm 1999, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã
tài trợ cho dự án sản xuất thử nghiệm mang tên “Xây dựng và hoàn thiện dây
chuyền công nghệ xử lý dịch hèm từ sản xuất cồn làm phân bón cho cây mía
và các cây trồng khác” công nghệ mới có tên là “Công nghệ sinh hóa tổng
hợp” viện hóa học là cơ quan chủ trì công nghệ và TS.Dương Anh Tuấn thực
hiện phụ trách dự án. Công nghệ sinh hóa tổng hợp gồm các công nghệ lên

9


men vi sinh, có hệ thống hầm ủ với các điều kiện tối ưu phối liệu được cấp
khí cả hai chiều làm cho vi sinh vật phân hủy và chuyển hóa nhanh chóng các
chất hữu cơ có trong dịch hèm, các chất xenlulô, các chất sáp trong bã mía và

Chính phủ và Bộ Lương thực và Thực phẩm quyết định khôi phục lại nhà
máy sản xuất bình thường. Giai đoạn này tuy có nhiều cơ chế thay đổi và hội
nhập nhưng nhà máy vẫn đứng vững và sản xuất kinh doanh có lãi vượt mức
chỉ tiêu được giao.
Những năm sau đó do thiên tai bão lụt lớn ở Miền Trung nên vấn đề
cung cấp đủ nguyên liệu cho nhà máy hoạt động gặp nhiều khó khăn. Tỉnh
Nghệ An sau khi xem xét ý kiến của Chính Phủ đã quyết định di chuyển nhà
máy lên địa điểm mới tại xã Đỉnh Sơn và đầu tư mở rộng công suất lên 500
tấn mía/ ngày, 1 triệu lít cồn/ năm.
Kết thúc vụ sản xuất đường 1998 -1999 nhà máy đã tháo dỡ thiết bị
máy móc vận chuyển và lắp đặt tại địa điểm mới tại xã Đỉnh Sơn, huyện Anh
Sơn, tỉnh Nghệ An. Đưa vào sản xuất chính thức tháng 1 năm 2000. Bằng
những biện pháp đổi mới và hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý phù hợp với
yêu cầu nhiệm vụ sản xuất theo cơ chế thị trường để tạo bước đi vững chắc
cho nhà máy những năm đầu thế kỉ 21.
Đến năm 2006 nhà máy chuyển từ lối kinh doanh dưới sự quản lý của
Nhà nước và bước đầu chuyển sang hình thức Cổ Phần cho phù hợp với cơ
chế mới. Công ty Cổ Phần Mía Đường Sông Lam được thành lập trên cơ sở
cổ phần hoá, hoạt động theo luật Doanh Nghiệp và điều lệ của công ty sản
xuất. Lao động sử dụng hiện nay bình quân trên 300 lao động, quy mô sản
xuất tương đối, đội ngũ cán bộ công nhân viên được đào tạo cơ bản, tuổi đời
bình quân trẻ, nhiệt tình.
Từ tháng 5/2008, Công ty đã nhận được sự hỗ trợ của Bộ Công Thương
và Hợp phần Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp (CPI) và Trung tâm Sản
xuất Sạch Việt Nam (VNCPC) trong việc đánh giá và áp dụng các giải pháp
sản xuất sạch hơn (SXSH). Áp dụng giải pháp này đòi hỏi chi phí cao nhưng
mang lại nhiều giá trị về mặt kinh tế, xã hội và môi trường.

11



2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp thu thập, kế thừa số liệu
Là phương pháp thu thập và chọn lọc các tài liệu, số liệu, các kết quả
nghiên cứu đã có, liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Những tài liệu cần thu
thập bao gồm:
-

Sơ đồ, bản đồ của công ty Cổ phần Mía đường Sông Lam
Báo cáo hiện trạng môi trường của Công ty
Báo cáo tình hình phát triển kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu
Các tài liệu liên quan khác liên quan: sách, giáo trình, báo chí, luận

văn tốt nghiệp, thông tin điện tử …
2.4.2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Thông qua việc đi thực tế tới khu vực nghiên cứu để khảo sát toàn bộ quy
trình sản xuất, khảo sát chi tiết các công đoạn phát sinh chất thải và xử lý chất
thải; hiện trạng môi trường và công tác quản lý bảo vệ môi trường của công ty.
Qua đó xác định điểm thải, dòng thải và các điều kiện tự nhiên xung quanh khu
vực để lựa chọn được điểm lấy mẫu phù hợp với nội dung nghiên cứu.
2.4.3. Phương pháp lấy mẫu hiện trường
Sau khi tiến hành khảo sát thực địa khu vực sản xuất của công ty Cổ
phần Mía đường Sông Lam, đặc biệt là nghiên cứu đặc điểm dòng thải và
công nghệ xử lý nước thải của công ty đã áp dụng. Đề tài tiến hành lấy mẫu
nước thải trước và sau xử lý để phân tích, đánh giá. Do thời gian và kinh phí
có hạn đề tài chỉ phân tích các chỉ tiêu cơ bản : pH, SS, COD, BOD 5, NO3-.
Đối với các mẫu khí thải, đề tài không tiến hành lấy mẫu phân tích mà kế thừa
số liệu.
-


bằng cách thổi không khí sạch ở 20oC vào nước cất và lắc nhiều lần cho đến
khi bão hòa oxi sau đó thêm 1ml dung dịch đệm phốt phát, 1ml dung dịch
MgSO4 22.5g/l, 1ml CaCl2 27.5g/l và 1ml FeCl3 0.25g/l vào 1 lít nước cất đã
sục oxi ở trên. Trung hòa mẫu nước phân tích đến pH = 7 bằng H 2SO4 hay
bằng NaOH. Pha loãng mẫu nước trước khi xác định bằng nước hiếu khí đã
được chuẩn bị trước theo hệ số thích hợp. Khi pha loãng cần hết sức tránh không
để bị oxi cuốn theo. Sau khi pha loãng xong cho mẫu vào trong chai để xác định
BOD (chai có thể tích 300ml), đóng kín nút chai, một chai dùng để ủ 5 ngày ở
nhiệt độ 200C, một chai dùng để xác định DO ban đầu trong mẫu pha loãng.
- Tính kết quả:
Lượng BOD được tính theo mg O2/l
14



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status