ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------***-------------
NGUYỄN VĂN ĐẠT
“§¸nh gi¸ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA CÁC MÔ HÌNH CANH TÁC LÚA NƯỚC SRI VÀ
FDP t¹i HUYÖn v¨n chÊn - tØnh Yªn B¸i”
LUẬN VĂN
THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Thái Nguyên - Năm 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------***-------------
NGUYỄN VĂN ĐẠT
“§¸nh gi¸ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA CÁC MÔ HÌNH CANH TÁC LÚA NƯỚC
SRI VÀ FDP t¹i HUYÖn v¨n chÊn - tØnh Yªn B¸i”
Chuyên ngành
: Phát triển nông thôn
Mã số ngành
suốt quá trình học tập.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Phó Giáo Sư –
Tiến Sỹ Đào Thanh Vân, người Thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, động
viên, dành nhiều thời gian định hướng và chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện
Luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ủy ban nhân dân huyện Văn
Chấn, Phòng Nông nghiệp, Trạm Khuyến nông, Trạm Bảo vệ thực vật, Chi
cục thống kê huyện Văn Chấn, Ủy ban nhân dân xã Thanh Lương, Ủy ban
nhân dân xã Sơn A, Ủy ban nhân dân xã Nậm Lành, Ủy ban nhân dân xã
Đồng Khê đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi tiến hành nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới Gia đình của tôi, Gia đình đã
thực sự là nguồn động viên lớn lao và truyền nhiệt huyết để tôi hoàn thành
Luận văn.
Tác giả
Nguyễn Văn Đạt
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
2. Mục tiêu ..................................................................................................... 2
3. Yêu cầu ...................................................................................................... 3
4. Câu hỏi nghiên cứu .................................................................................... 3
Chương 1 ........................................................................................................... 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................................. 4
1.1. Hệ thống canh tác lúa nước SRI ............................................................. 4
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội. .........................................................................36
3.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên......................................................40
3.1.4. Tình hình phát triển ngành nông nghiệp của huyện Văn Chấn trong 3
năm qua. ....................................................................................................... 41
3.1.4.1. Tình hình kinh tế chung .........................................................................41
Bảng 3.1: Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp huyện Văn Chấn ...................41
3.1.4.2. Tình hình sản xuất một số cây trồng chính trên địa bàn .....................43
Bảng 3.2: Diện tích sản xuất của một số cây trồng chính trên địa bàn huyện
Văn Chấn, tỉnh Yên Bái .......................................................................................44
Bảng 3.3. Năng suất của một số cây trồng chính trên địa bàn huyện Văn
Chấn, tỉnh Yên Bái ...............................................................................................46
v
3.1.4.3. Tình hình phát triển ngành chăn nuôi ...................................................47
Bảng 3.4. Tình hình phát triển ngành chăn nuôi tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên
Bái ..........................................................................................................................48
3.1.4.4. Tình hình phát triển ngành lâm nghiệp .................................................48
Bảng 3.5. Tình hình phát triển rừng tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.........49
3.2. Hiện trạng các mô hình canh tác lúa nước SRI và FDP tại huyện Văn
Chấn - tỉnh Yên Bái. .................................................................................... 49
3.2.1. Hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI ..........................................................49
Bảng 3.6: Hiện trạng của mô hình canh tác lúa nước SRI tại Văn Chấn ........51
3.2.2. Hệ thống canh tác lúa FDP .......................................................................52
Bảng 3.7: Hiện trạng của mô hình canh tác lúa FDP tại Văn Chấn ................53
3.2.3. Hiệu quả kinh tế của mô hình canh tác lúa nước SRI và FDP tại huyện
Văn Chấn...............................................................................................................53
Bảng 3.8: So sánh kết quả sản xuất của các mô hình........................................54
Bảng 3.9 Mức độ đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn của các mô hình ...............55
ANLT
An ninh lương thực
BĐKH
Biến đổi khí hậu
BVTV
Bảo vệ thực vật
FAO
Food and Agriculture Organization of the United Nations - Tổ
chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc
FDP
Rice cultivation model used fertilizer tablets shoved deep - Mô
hình thâm canh cây lúa sử dụng phân viên nén dúi sâu
IDE
International Development Enterprises - Tổ chức Phát triển
Quốc tế
IFDC
International Fertilizer Development Center - Trung tâm Phát
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc, đất đai của Yên Bái đa dạng về
chủng loại, đất nông nghiệp chiếm gần 80% tổng diện tích đất tự nhiên, nhưng
phần lớn là diện tích đất dốc, tuy có diện tích tương đối lớn nhưng địa hình phức
tạp, chủ yếu là đồi núi.
SRI là phương pháp canh tác lúa sinh thái và hiệu quả, tăng năng suất nhưng
lại giảm chi phí đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu và nước tưới. Những
nguyên tắc, kỹ thuật cơ bản của phương pháp này bao gồm: cấy mạ non, cấy một
dảnh, cấy thưa, quản lý nước, làm cỏ sục bùn và bón phân hữu cơ. Hệ thống SRI
được Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật.
Chương trình SRI là một chương trình phù hợp để ứng phó với biến đổi khí hậu
trong sản xuất lúa, do Cục BVTV và tổ chức OXFAM Hoa Kỳ hỗ trợ về kỹ
thuật và kinh phí, đã được mở rộng ứng dụng trên nhiều tỉnh thành trong cả
nước, trong đó có tỉnh Yên Bái.
Mô hình canh tác lúa nước FDP là mô hình thâm canh cây lúa sử dụng phân
viên nén dúi sâu, đây là một cách làm phù hợp, vừa tiết kiệm đầu vào, tăng được
năng suất, dễ làm, dễ nhớ. Áp dụng phương pháp phân nén dúi sâu còn giảm
thiểu tác động tiêu cực đến môi trường đất và nước bởi dùng phân nén dúi sâu sẽ
tiết kiệm được 80% lượng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ cũng
như hạn chế được 35% lượng phân urê và chất hóa học khác thâm nhập vào
nguồn nước. Việc sản xuất sản phẩm phân viên nén dúi sâu đơn giản, các địa
phương có thể tự sản xuất ra sản phẩm chất lượng. Đây cũng là một giải pháp
khả thi cho việc thực hiện chiến lược tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo, bảo vệ
môi trường của chính quyền địa phương.
Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân
- Đề xuất các giải pháp phát triển các mô hình canh tác lúa nước SRI
và FDP nhằm đảm bảo an ninh lương thực và bảo vệ môi trường
3
3. Yêu cầu
Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế, môi trường
và xã hội đối với các mô hình canh tác lúa nước SRI và FDP. Khuyến cáo khả
năng nhân rộng trong sản xuất đối với các mô hình có hiệu quả góp phần nâng
cao đời sống người dân và bảo vệ môi trường sinh thái.
4. Câu hỏi nghiên cứu
- Có bao nhiều mô hình canh tác lúa nước SRI và FDP ở huyện Văn
Chấn? đối tượng áp dụng? Các cải tiến hoặc kiến thức bản địa đã được
lồng ghép/áp dụng tại các mô hình?
- Ý kiến đánh giá của người dân về Ưu nhược điểm của mô hình canh
tác lúa nước SRI và FDP? Tại sao người nông dân lại áp dụng hoặc từ
chối các kỹ thuật này?
- Hiệu quả kinh tế, tác động môi trường của 2 mô hình canh tác lúa nước
SRI và FDP theo ý kiến của người dân ở vùng nghiên cứu như thế nào? Canh
tác lúa nước SRI và FDP đã góp phần giúp người dân ứng phó với các bất
thuận của khí hậu như thế nào?
- Làm thế nào để dung hòa/cân đối về mặt giá trị khi phát triển các mô
hình canh tác lúa nước SRI và FDP trong việc đảm bảo an ninh lương thực
(có hiệu quả kinh tế, hiệu quả sản xuất… ) và bảo vệ môi trường (giữ cacbon,
giảm phát thải khí…) tại địa bàn và các vùng lân cận?
- Các chính sách và kỹ thuật khuyến cáo để thực hiện các mô hình có
hiệu quả, khả năng bảo vệ môi trường, ứng phó với BĐKH ?
5
còn góp phần giảm ô nhiễm môi trường do nông nghiệp gây ra như bón phân,
phun thuốc trừ sâu bừa bãi. SRI tiết kiệm được 80-90% giống, giảm được
50% lượng phân bón, thuốc trừ sâu, 40% nước, giảm phát thải khí mê tan từ
đất do phơi ruộng khô nẻ vài lần trong vụ trồng [15]. Tất cả những lợi ích trên
người nông dân trực tiếp hưởng lợi ngay như lợi ích kinh tế và lợi ích lâu dài
về cải thiện môi trường.
- Kỹ thuật cấy và chăm sóc lúa nước giai đoạn đầu theo SRI [9]
Làm đất gieo mạ và đất cấy cần cày sâu, bừa kỹ, bón lót với lượng
phân chuồng là 200 - 300 kg/sào, kết hợp với 15 - 20 kg/sào vôi bột, bón
trước khi bừa vỡ. Trước khi bừa cấy cần bón lót phân NPK 5:10:3 với lượng
15 - 20 kg/sào. Đất sau khi bừa kỹ được san phẳng, đánh rãnh thoát nước.
Gieo mạ nên gieo thưa, thông thường gieo 0,5 – 0,7kg thóc/m2, để cây
mạ đanh rảnh, sau cấy cây nhanh bén rễ hồi xanh nhanh. Khi mạ có từ 2 - 2,5
lá (sau gieo khoảng 7 - 10 ngày) tiến hành cấy; nên xúc mạ cấy, đảm bảo có
đất bám ở rễ, hạn chế bị đứt rễ, giúp lúa nhanh hồi xanh. Cần cấy thưa với
mật độ 30 - 35 khóm/m2 (đối với lúa lai), 35 - 40 khóm/m2 (đối với lúa
thuần); cấy 1 - 2 dảnh, cấy nông tay, đặt nhẹ mạ và cấy thẳng hàng để tiện
chăm sóc. Cần duy trì nước ở trong ruộng 2 - 3 cm sau khi cấy. Sau cấy
khoảng 5 - 7 ngày cần tiến hành chăm sóc đợt 1 cho lúa. Bón phân thúc đẻ
ngay, nhằm cung cấp dinh dưỡng kịp thời giúp cho lúa đẻ nhánh nhanh, tập
trung, cho số dảnh hữu hiệu tối đa. Không nên bón phân nhiều lần trong giai
đoạn này để hạn chế cây lúa đẻ lai rai, sinh nhiều dảnh vô hiệu. Lượng bón từ
10 - 12 kg/sào phân NPK 12.5.10; nếu dùng phân đơn, cần bón với lượng
Đạm Urê là từ 3 - 4 kg, Kali clorua từ 2 - 3 kg, trộn đều rồi bón. Tiến hành
sục bùn, làm cỏ để vùi phân vào đất, nhằm hạn chế việc rửa trôi phân bón,
giải phóng chất độc trong đất, tăng cường oxy cho rễ, giúp bộ rễ phát triển,
đồng thời hạn chế đáng kể cỏ dại phát triển.
khoa học ở nước ta đã nghiên cứu triển khai thí nghiệm kỹ thuật này ở
7
trong nước. Qua thời gian kể từ khi thực nghiệm đến nay, kỹ thuật dúi
phân viên đã chứng minh được tính ưu việt, hiệu quả kinh tế xã hội của
nó. Với những lợi ích về nhiều mặt nên kỹ thuật bón phân viên dúi sâu
cho lúa đã được hội đồng khoa học quốc gia công nhận là tiến bộ khoa
học kỹ thuật. Tùy thuộc vào ruộng lúa gieo cấy hay lúa gieo thẳng mà có
cách dúi phân viên khác nhau.
- Kỹ thuật cấy và chăm sóc lúa nước theo FDP [8]
Chuẩn bị ruộng: Chuẩn bị dây hoặc các thanh gỗ, trên đó chia băng
ruộng, băng ruộng rộng 105cm, chia làm 8 điểm, mỗi điểm cách nhau 15 cm,
giữa các băng ruộng là đường công tác rộng 20cm. Đặt dây 2 thanh gỗ trên
ruộng rồi cấy hàng mẫu theo các điểm trên dây.
Cấy lúa: Sau khi có hàng mẫu đầu tiên, tiến hành cấy lúa thẳng hàng
theo chiều ngang và chiều dọc, cây cách cây 15cm, hàng cách hàng 15cm,
mật độ 40 khóm/m2, lưu ý phải cấy lúa thẳng hàng, bởi cấy lúa thẳng hàng sẽ
giúp cho cây sử dụng phân bón và ánh sáng một cách đồng đều, ruộng thông
thoáng nên giảm sâu bệnh và tăng năng suất, giúp xác định điểm rõ ràng để
bón phân chính xác, vì thế, bón sẽ dễ dàng và nhanh hơn. Lưu ý để đạt năng
suất cao, không nên cấy quá 5 dảnh trên 1 khóm mà chỉ nên cấy từ 2 - 3
dảnh/khóm. Điều này giúp tiết kiệm giống, đồng thời sau này, ruộng lúa sẽ
phát triển tốt hơn.
Kỹ thuật bón phân viên cho lúa cấy: Để nâng cao hiệu lực cho phân
viên nén sâu thì ta nên chú ý: Điểm thứ nhất là thời điểm chúng ta bón phân
viên nén sâu cho lúa sau khi lúa cấy 2 - 3 ngày. Lúc đó, cây lúa bắt đầu bén rễ
và hồi xanh. Điểm lưu ý thứ hai mà chúng ta cần lưu ý đó là kiểm soát mực
nước trên ruộng lúa. Khi bón phân viên sâu thì tốt nhất ta nên giữ mực nước
trên ruộng từ 1 - 2cm là tốt nhất. Nếu như mực nước quá sâu thì khi chúng ta
lần bừa cho mặt ruộng bằng phẳng.
Lên luống: Sau khi làm phẳng mặt ruộng, để cho lắng bùn rồi chia
thành từng luống hay từng băng theo chiều dọc của ruộng, mỗi luống rộng
9
1,75m. Giữa các luống, chừa đường công tác rộng khoảng 15cm. Sau đó dùng
cào gỗ có bảy răng, khoảng cách giữa các răng là 25cm, kéo dọc theo băng
luống để tạo thành 7 đường rãnh, tạo dấu trên mặt luống. Khi kéo, bà con lưu
ý 2 rãnh ngoài cùng cách mép luống 12,5cm và khi dúi phân, chỉ dúi trên các
đường rãnh. Thời điểm bón phân, ngay sau khi làm luống xong, đất ráo và
vẫn còn mềm thì có thể tiến hành bón phân viên.
Chuẩn bị phân viên: Có thể bỏ sẵn phân viên vào ca nhựa, xô hoặc thao,
lưu ý lượng phân viên trong ca phải đủ bón ít nhất 1 luống. Vì nếu nửa chừng hết
phân, quay lại lấy, khi trở lại, bà con không nhớ mình đã bón đến đâu.
Cách dúi phân: Nên bước chân vào trong luống để dúi, dúi cho hết
hàng ngang đầu tiên, lưu ý, các điểm dúi phải đúng vào vị trí cách đường rãnh
làm dấu. Khi dúi xong hàng ngang, dùng mắt thường ước tính khoảng cách
25cm để dúi hàng tiếp theo cho đến khi hết ruộng. Đối với hàng lúa sạ, thì đi
lùi để dúi phân. Lưu ý, 1 tay chuyên dùng để dúi phân, tay kia phải giữ khô
ráo để lấy phân viên ở trong thao ra, dúi đến đâu, kéo thao đến đó, dúi phân
viên sâu xuống ruộng từ 7 - 8cm tức là khoảng từ đầu ngón tay đến mu ngón
tay, dúi xong, dùng tay xoa nhẹ bùn, lấp kín viên phân ngay tại điểm đó. Sau
đó, đi trên đường công tác, dùng thanh gỗ cào nhẹ bùn để lấp hết các vết chân
thẳng mặt luống để nó không đọng nước. Sau đó, tiến hành xạ giống.
Đối với đất cát hoặc đất cát pha thì bà con không nên áp dụng kỹ thuật
bón phân viên dúi sâu, bởi vì đất này khả năng giữ phân rất kém nên khi
chúng ta bón phân viên dúi sâu, phân sẽ bị rửa trôi xuống dưới và cây lúa
không hút được phân. Phải kiểm soát mực nước trong ruộng, nếu như trong
điều kiện ruộng bị khô, nứt nẻ, không chủ động được nước thì không nên áp
ngập úng, đất xấu, quá chua hay do thời tiết không thuận lợi. Tuỳ trường hợp
mà có biện pháp xử lý thích hợp.
1.3. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân viên nén dúi sâu (FDP) trên
thế giới và trong nước.
11
Theo nghiên cứu của Trung tâm Phát triển phân bón Quốc tế (IFDC),
với cách bón vãi thông thường chỉ có khoảng 30-40% lượng phân urê được
giữ lại trong đất và cung cấp cho cây lúa sử dụng, 60-70% lượng phân urê bị
tổn thất do bị rửa trôi và bay hơi [13].
Phương pháp bón phân đạm dúi sâu được thực hiện ở Nhật Bản từ
những năm 1930 và ở Ấn Độ từ những năm 1950. Sau đó, phương pháp này
đã được phát triển và áp dụng nhiều vùng trồng lúa khác nhau trên thế giới.
Kỹ thuật bón phân viên nén dúi sâu cho lúa đã được áp dụng rất thành
công ở nhiều nước châu Á như: Nhật Bản, Băngladesh, Nepal... trong nhiều
năm qua [11].
Về bản chất và kỹ thuật bón phân sâu có thể chia có thể chia làm hai
phương pháp:
Phương pháp 1: Bón phân sâu không theo điểm, trong và ngay sau khi
làm đất.
Phương pháp 2: Bón phân sâu theo điểm ở dạng viên, viên trộn bùn và
viên lớn, sau hoặc trong thời gian cấy.
Mặc dù bón phân sâu không theo điểm đã nâng cao hiệu quả sử dụng
phân bón và tương đối đơn giản nhưng phương pháp bón phân này không
phát triển được trên diện rộng ở Nhật là do khó xác định được thời gian tưới
(vùi sâu trước khi tưới) và khó vùi được toàn bộ đạm xuống sâu [11].
Bón phân viên theo điểm ở dạng viên lớn cho ruộng lúa cấy là một
phương pháp bón mang lại hiệu quả sử dụng phân bón cao và là phương pháp
nát khi bón [2].
Phân Urê viên nén, NK và NPK viên nén đã được Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật theo quyết định số 1046
QĐ/BNN-KHCN ngày 11 tháng 5 năm 2005.
Các loại phân viên nén bón cho lúa bằng hình thức bón sâu vào lớp đất
7 - 8cm, bón sau khi cấy lúa từ 1 - 5 ngày hoặc bón theo điểm trước khi gieo
sạ. Lúa cần được cấy thẳng hàng, khi bón không có lớp nước trên mặt ruộng.
13
Tuỳ từng giống lúa và từng chân đất để sử dụng lượng phân viên nén khác
nhau [2].
Kỹ thuật sử dụng phân viên nén này đã được in thành sách do NXB
Nông nghiệp phát hành năm 2005 và đã được phát nhiều lần trên kênh truyền
hình VTV2 và đài truyền hình các địa phương. Hiện nay nghiên cứu vẫn đang
được tiếp tục mở rộng theo hướng sản xuất ra phân viên tròn để dễ cơ giới
hoá, tăng thời gian bảo quản viên phân, bổ sung các nguyên tố dinh dưỡng
khác vào phân viên nén, mở rộng việc áp dụng phân viên nén cho các loại cây
trồng khác.
1.4. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải
tiến (SRI) trên thế giới
Hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI do nhà khoa học người Pháp
Fr.Laulaniere giới thiệu tại Madagasca vào những năm 1980, sau đó được
Tiến sỹ Norman Uphoff thuộc Viện Quốc tế lương thực, nông nghiệp và phát
triển của Trường Đại học Cornell (Hoa Kỳ) phổ biến rộng rãi.
Theo Norman Uphoff (2009), hệ thống thâm canh lúa cải tiến làm giảm
chế độ nước tưới cho cây lúa, ảnh hưởng tích cực đến đất và chất dinh dưỡng
trong đất, có thể làm tăng năng suất 50 - 100% và có thể nhiều hơn. SRI làm
giảm lượng giống, phân bón, hóa chất nông nghiệp và thậm chí là lao động [20].
Phương pháp canh tác theo SRI đã chứng minh được rằng chúng có lợi
liên quan đến các nguyên tắc của SRI trong một dự án hợp tác về trồng lúa sử
dụng ít nước. Năm 2003, một gói các biện pháp SRI đã được hình thành và
thử nghiệm tại cánh đồng của 200 nông dân tại lưu vực sông Cauvery và
Tamiraparani. Kết quả ở hai lưu vực sông cho thấy sản lượng bình quân
tăng 1,5 tấn/ha trong khi giảm chi phí sản xuất, thậm chí nhu cầu lao động
giảm 8%/ha. Đánh giá này tạo nền tảng cho việc chính thức khuyến cáo
áp dụng phương thức thâm canh lúa cải tiến cho nông dân vào năm 2004 [16].
Đồng thời, trường Đại học Nông nghiệp quốc gia tại Andhra PradeshĐại học Nông nghiệp Acharya N.G Ranga (ANGRAU), giới thiệu phương
15
pháp SRI trên các ruộng lúa của nông dân trong vụ mùa năm 2003. Thử
nghiệm so sánh đã được tiến hành trên các huyện của toàn bang. Việc so sánh
này đã tạo ra sự quan tâm chú ý trong toàn quốc khi kết quả chỉ ra rằng năng
suất trung bình của ruộng lúa SRI tăng 2,5 tấn/ha - tăng 50% so với ruộng
canh tác nước tập quán [16].
Năm 2005 và 2006, SRI tiếp tục được đánh giá tại Viện nghiên cứu về
nông nghiệp Ấn Độ. Trong tất cả các phương pháp canh tác thì phương pháp
canh tác theo SRI cho nhiều cây cao là 82,5cm, sự tích lũy vật chất khô là 558
gr/m2, số lượng rễ là 312,27 cái. Năng suất hạt đạt 47 tấn/ha, năng suất sinh
vật học là 7,66 tấn/ ha. Sản lượng của phương thức canh tác theo SRI tăng lên
so với các phương pháp khác là 5,2%. Tuy nhiên SRI đã tiết kiệm được
14,5% lượng nước so với phương pháp thông thường [17].
Hiện nay, SRI được biết đến ở tất cả các bang trồng lúa tại Ấn Độ. Ước
tính, có khoảng 600.000 nông dân đang trồng lúa sử dụng toàn bộ hoặc từng
phần các biện pháp SRI trên diện tích khoảng 1 triệu hecta thuộc 300 trong số
564 huyện trồng lúa của Ấn Độ. SRI cũng đang được điều chỉnh để áp dụng
tại những khu vực canh tác nhờ nước mưa tự nhiên [16], [17].
Đây có lẽ là tiến bộ nông nghiệp được triển khai áp dụng nhanh nhất ở
Năng suất bình quân của những ruộng lúa canh tác theo SRI đạt 10
tấn/ha, cao hơn so với phương pháp sản xuất truyền thống (năng suất 6 - 7,5
tấn/ha). Thậm chí với mô hình trình diễn ở tỉnh Zhejing, canh tác theo phương
thức của SRI đã làm tăng năng suất lên 11,5 tấn/ha, những người nông dân ở
đây đã cấy với khoảng cách hàng cách hàng là 50x50cm, và họ đã giảm được
30-40% lượng nước tưới sử dụng, 70% sâu bệnh hại [21].
Học viện Khoa học nông nghiệp Trung Quốc đã bắt đầu thử nghiệm về
SRI từ năm 2001, trong năm này đã có hơn 100 địa điểm được tiến hành thử
nghiệm, và sau khi thu hoạch thì có hơn 60 nơi có năng suất trung bình là
10,5 tấn/ha, so với phương pháp thông thường là 7,5 tấn/ha, tăng hơn 3 tấn/ha.
Đặc biệt phương thức canh tác theo SRI sử dụng ít nước hơn và giảm công
lao động của người nông dân.