Chất lượng đội ngũ đảng viên là người dân tộc thiểu số của các đảng bộ xã ở tỉnh kon tum trong giai đoạn hiện nay - Pdf 35

LUẬN VĂN:
Chất lượng đội ngũ đảng viên là người dân tộc
thiểu số của các đảng bộ xã ở tỉnh Kon Tum
trong giai đoạn hiện nay

MỞ ĐẦU


1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên luôn là một nhiệm vụ quan
trọng trong công tác xây dựng Đảng, là nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên của mỗi tổ chức
cơ sở đảng (TCCSĐ), quyết định đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng nói
chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đảng là do các đảng viên tổ chức nên, đảng viên tốt thì
Đảng mới mạnh. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định điều đó; do đó, Đảng phải
chăm lo công tác xây dựng Đảng, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên.
Những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có nhiều
chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên.
Nhiều cấp ủy đảng đã nhận thức rõ hơn vị trí, vai trò quan trọng của công tác đảng viên
và việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các mặt công
tác đảng viên. Do vậy, đội ngũ đảng viên ở cơ sở được tăng về số lượng và chất lượng,
trình độ, kiến thức các mặt được nâng lên.
Cách mạng nước ta đang trong thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, thực hiện mục tiêu; “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội
(CNXH) với những cơ hội và thách thức mới. Tình hình và nhiệm vụ cách mạng to lớn
đó đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, khó khăn đòi hỏi Đảng nói chung, đội ngũ đảng viên
của Đảng nói riêng phải không ngừng đổi mới, chỉnh đốn, nâng cao bản lĩnh chính trị,
phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực mới đáp ứng được vai trò lãnh đạo.
Kon Tum là một tỉnh miền núi vùng cao, nằm ở phía bắc Tây Nguyên, là địa bàn
chiến lược của cả nước. Tỉnh Kon Tum được tái lập năm 1991, hiện có 8 huyện, 1 thành
phố, với 97 xã, phường, thị trấn, gồm 822 thôn, làng, tổ dân phố, trong đó có 51 xã (53%)

Tum là một vấn đề rất cần được đi sâu nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn. Vì vậy, tác
giả lựa chọn vấn đề “Chất lượng đội ngũ đảng viên là người dân tộc thiểu số của các
đảng bộ xã ở tỉnh Kon Tum trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có nhiều những nghị quyết, chỉ thị, báo cáo tổng kết, đánh giá của Đảng về
công tác xây dựng Đảng và vấn đề xây dựng đội ngũ đảng viên, nâng cao chất lượng đội
ngũ đảng viên. Đây là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu với những


cấp độ và cách tiếp cận khác nhau. Đặc biệt, gần đây có nhiều công trình khoa học của
các nhà khoa học, các học viên nghiên cứu một số vấn đề có liên quan đến đề tài như:
- GS, TS Lê Hữu Nghĩa (chủ biên): “Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ
dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001.
- PGS,TS Tô Huy Rứa và PGS,TS Trần Khắc Việt (đồng chủ biên): "Làm người
cộng sản trong giai đoạn hiện nay", Nxb CTQG, Hà Nội, 2003.
- PGS,TS Phạm Hảo và TS Trương Minh Dục (đồng chủ biên): “Một số vấn đề
về xây dựng hệ thống chính trị ở Tây Nguyên”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003.
- PGS,TS Tô Huy Rứa, PGS,TS Nguyễn Cúc và PGS,TS Trần Khắc Việt (đồng
chủ biên): “Giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi nước
ta hiện nay”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003.
- GS, TS Mạch Quang Thắng (chủ biên): “Vấn đề đảng viên và phát triển đảng
viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Nxb Lý luận
chính trị, Hà Nội, 2006.
- PGS,TS Phạm Hảo (chủ biên): “Một số giải pháp góp phần ổn định và phát
triển ở Tây Nguyên hiện nay”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2007.
- Đặng Đình Phú: “Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các xã, phường,
ven đô trong công cuộc đổi mới hiện nay”, Luận án Phó tiến sĩ, 1996, Học viện
CTQG Hồ Chí Minh.
- Cao Thị Thanh Vân: “Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở nông thôn

dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy trong trường chính trị tỉnh và các
trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện và thành phố Kon Tum.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.


Chương 1
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA
CÁC ĐẢNG BỘ XÃ Ở TỈNH KON TUM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY –
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. XÃ, CÁC ĐẢNG BỘ XÃ VÀ ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN LÀ NGƯỜI DÂN
TỘC THIỂU SỐ CỦA CÁC ĐẢNG BỘ XÃ Ở TỈNH KON TUM HIỆN NAY – VAI
TRÒ, ĐẶC ĐIỂM
1.1.1. Xã, các đảng bộ xã ở tỉnh Kon Tum hiện nay
1.1.1.1. Đặc điểm địa lý - tự nhiên
Kon Tum là tỉnh được tái lập sau khi tách từ tỉnh Gia Lai - Kon Tum (tháng 101991). Tỉnh Kon Tum nằm ở vùng cao biên giới cực Bắc Tây Nguyên, với diện tích
9.661 km2; phía Bắc tiếp giáp tỉnh Quảng Nam, có chiều dài ranh giới 142 km; phía Nam
giáp với tỉnh Gia Lai, có chiều dài ranh giới 203 km; phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, có
chiều dài ranh giới 746 km; phía Tây giáp với hai nước Lào và Cam pu chia có chung
275 km đường biên giới [11, tr. 18]. Vì thế, Kon Tum đã trở thành “mái nhà Đông
Dương”. Đây là một trong những địa bàn có một vị trí quan trọng về kinh tế và quốc
phòng.
Về địa hình, phần lớn lãnh thổ tỉnh Kon Tum nằm ở khối Kon Tum thượng, tức là
ở phía Tây Trường Sơn với hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây.
Nhìn chung, địa hình ở đây đa dạng: đồi núi, cao nguyên và vùng thung lũng xen kẽ
nhau; trong đó, đồi núi chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn tỉnh, có độ dốc 150 trở lên, với
đỉnh Ngọc Linh cao 2.598 m, ngọn Ngọc Krinh cao (2066 m), ngọn cao Bồng Sơn (1939
m). Địa hình núi cao liền dải phân bố chủ yếu ở phía Bắc và Đông Bắc tỉnh Kon Tum

1.1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Kon Tum là tỉnh có nhiều thành phần dân tộc nhất ở Tây Nguyên. Theo kết quả
điều tra dân số, dân số của Kon Tum là 421.243 người ngày 01-4-2009 bao gồm 28 dân
tộc cùng chung sống, trong đó có 6 dân tộc bản địa (Xê-Đăng, Ba Na, Brâu, Giẻ-Triêng,
Gia rai, Rơmâm) chiếm 53,94% dân số của tỉnh, đã từng sinh sống từ lâu đời ở vùng này.
Trước đây, ở Kon Tum cũng như Tây Nguyên nổi lên hiện tượng phân bố dân cư ở mỗi


làng, buôn, Plây... là một dân tộc (hay nhóm địa phương); còn việc trong một làng có hai
hay nhiều tộc người khác nhau thì rất ít hoặc hầu như không có. Từ khi người (Việt) đến
với Kon Tum và cả Tây Nguyên, cùng với quá trình di dân nhằm điều hòa, phân bố lại cư
dân và lao động trong phạm vi cả nước để phát triển kinh tế, văn hóa, bức tranh phân bố
dân cư giữa các thành phần dân tộc trong tỉnh có sự thay đổi lớn. Tính chất cư trú xen kẽ
ngày càng tăng lên, nhất là những nơi thuận lợi cho làm ăn sinh sống. Vì thế, ngày nay ở
Kon Tum mang nét đặc trưng của địa bàn hợp nhiều nguồn dân cư khác nhau có đặc
điểm đa sắc tộc, với sự đan xen về địa bàn cư trú giữa các tộc người. Tính chất xen cư
này rất phổ biến không chỉ ở địa bàn cấp xã, mà còn ở cấp độ làng. Đặc điểm này, một
mặt, đặt ra yêu cầu có tính đặc thù: trong quá trình cơ cấu cán bộ trong HTCT ở cơ sở
nông thôn phải tính đến cơ cấu dân tộc, đến việc cán bộ cơ sở phải nắm vững các ngôn
ngữ dân tộc bản địa; mặt khác, đội ngũ cán bộ cấp xã phải đặc biệt quan tâm đến việc rèn
luyện khả năng nhạy bén với các vấn đề dân tộc, biết giải quyết nhanh và có hiệu quả khi
có xích mích và mâu thuẩn dân tộc xảy ra ở địa phương, củng cố khối đoàn kết các dân
tộc.
Ngày nay, Kon Tum là một địa bàn có sự đan xen, nhiều tầng nấc về phương thức
và trình độ sản xuất, có cả lạc hậu lẫn tiên tiến cùng tồn tại khá rõ rệt. Các cư dân bản địa
còn chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi phương thức sản xuất lạc hậu, nương rẫy, săn bắt, hái
lượm, với trình độ tổ chức quản lý còn giản đơn, trong đó phương thức canh tác phát
rừng làm rẫy mang tính thuần nông độc canh cây lúa. Những nhân tố đó ảnh hưởng lớn
đến năng lực tư duy và khả năng tổ chức thực tiễn của người cán bộ dân tộc bản địa hiện
nay. Theo dòng lịch sử, các thế hệ của từng thành phần dân tộc - tùy theo điều kiện riêng

hiện lòng yêu quê hương, yêu thiên nhiên, hướng con người tới sự đoàn kết gắn bó, yêu
thương nhau và vươn tới ước vọng nhân bản... Những yếu tố ấy cũng đặt ra yêu cầu phải
đảm bảo xây dựng khối đoàn kết cộng đồng đa sắc tộc ổn định và phát triển là một trong
những mục tiêu quan trọng mà hoạt động của HTCT ở cơ sở nông thôn hướng đến.
Trước đây, với trình độ sản xuất thấp kém, vốn tri thức còn hạn chế, chưa hiểu hết
về quy luật của vũ trụ, trình độ tư duy chưa phát triển, các cư dân bản địa Kon Tum chưa
lý giải được một cách khoa học về các hiện tượng tự nhiên, còn bị động trước sức mạnh
của tự nhiên. Vì thế, trong tâm tưởng, trong các lễ hội, phong tục tập quán còn in đậm
niềm tin, khát vọng vào thế giới thần linh theo quan niệm "vạn vật hữu linh" (tín ngưỡng


đa thần giáo), thái độ và ứng xử của người dân tộc bản địa dễ rơi vào tâm lý thụ động,
bảo thủ làm hạn chế tính sáng tạo, năng động của mỗi con người và cộng đồng.
Trước khi bước vào xã hội hiện đại, tổ chức xã hội duy nhất của cư dân bản địa
Kon Tum chỉ tồn tại duy nhất là làng, với một phức hợp văn hóa gồm khu dân cư, kho
thóc, nhà rông, máng nước, đất canh tác, rừng, sông suối, nghĩa địa... Chế độ tự quản
trong làng vận hành trên cơ sở luật tục. Đó là những quy tắc xã hội, chỉ dẫn cách đối nhân
xử thế, xác định hành vi tội phạm theo truyền thống văn hóa của cư dân. Ở mỗi dân tộc
và từng làng đều có luật tục riêng của mình. Sự hình thành phép ứng xử của đồng bào
trước thiên nhiên, trước xã hội và với bản thân mình chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của
bản thân và những quy định của luật tục. Luật tục trong thời kỳ tiền công nghiệp là công
cụ điều hành và quản lý xã hội hữu hiệu. Tuy nhiên, trong thời kỳ củng cố và phát triển
của pháp luật, thì luật tục trở thành công cụ tự quản tồn tại song song với pháp luật và sự
tác động của luật tục đối với đời sống cộng đồng cũng có sự thay đổi tùy thuộc vào tác
động mạnh yếu của pháp luật. Ngày nay, luật định mang tính chất pháp quy của toàn xã
hội nước ta được phổ biến rộng rãi. Nhưng, bên cạnh những quy định chung, đồng bào
các dân tộc ở các huyện của tỉnh Kon Tum vẫn bảo lưu nhiều nét riêng về tập quán
truyền thống văn hóa tiến bộ, biểu hiện trong việc dàn xếp và hòa giải những bất đồng
trong quan hệ xã hội. Vì thế, "ở nước ta, cùng với nhiều yếu tố tác động khác cho đến
nay, luật tục đang chuyển sang vị trí, vai trò chủ yếu, bổ sung, hỗ trợ cho pháp luật ở

Trong xây dựng, củng cố HTCT cơ sở vững mạnh, Tỉnh ủy Kon Tum đặc biệt chú
trọng xây dựng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn bảo đảm có đủ bản lĩnh chính trị,
phẩm chất đạo đức và kiến thức lãnh đạo, triển khai thắng lợi nghị quyết của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước ở địa phương, trong đó quan tâm đặc biệt đến công tác
nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là người DTTS đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ
chính trị.
Cuối năm 2008, tỉnh Kon Tum có 56 đảng bộ xã được xếp loại đạt trong sạch,
vững mạnh trên tổng số 97 đảng bộ xã, phường, thị trấn được đánh giá xếp loại, chiếm
54,32 %; có 31 đảng bộ xã hoàn thành nhiệm vụ, chiếm 30,07 %; có 01 đảng bộ xã yếu
kém, chiếm 0,97 %. (xem phụ lục 6).
Tất cả các xã, phường, thị trấn đều thành lập đảng bộ cơ sở, mỗi thôn, làng, tổ
dân phố đều có chi bộ đảng lãnh đạo. Các cấp ủy cơ sở được kiện toàn, sinh hoạt đảng
từng bước đi vào nền nếp, việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở các đảng bộ các xã
ngày càng có chất lượng, hiệu quả cao hơn. Các đảng bộ, chi bộ ở nhiều xã đã chú trọng


và thực hiện khá tốt các quy chế dân chủ ở cơ sở. Công tác xây dựng Đảng và quản lý địa
bàn dân cư ngày càng được các chi bộ thôn, làng, tổ dân phố tiến hành trôi chảy, thuận
lợi. Nhìn chung, các đảng bộ xã đã có sự chuyển biến tích cực cả về kiện toàn tổ chức và
hoạt động, bước đầu mang lại một số kết quả đáng được ghi nhận:
Hầu hết các tổ chức đảng và đảng viên ở các xã đã nhận thức đúng và thực hiện tốt
chức năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở, quán triệt sâu sắc quan điểm “lãnh đạo
phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm và xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt”, gắn
xây dựng, củng cố tổ chức đảng với thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương; xây
dựng và thực hiện quy chế làm việc của đảng ủy, làm cho hoạt động phối hợp giữa tổ
chức đảng và các tổ chức khác trong HTCT ở xã ngày một nền nếp hơn.
Nhiều đảng bộ xã lãnh đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ lãnh đạo phát triển
kinh tế - xã hội như các chương trình: xóa đói giảm nghèo; chuyển dịch cơ cấu kinh tế;
đổi mới giống cây trồng, vật nuôi; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; thực hiện tốt
chương trình khuyến nông, khuyến công, chương trình “ba giảm, ba tăng”; chương

chuyên môn bước đầu được nâng lên. Cán bộ chuyên môn được bố trí, sắp xếp ổn định và
phát huy tác dụng tốt hơn. Công tác quản lý hành chính, điều hành các công việc của
UBND có tiến bộ khá rõ nét.
Các tổ chức Mặt trận, đoàn thể quần chúng đã cụ thể hóa chủ trương, chỉ đạo cấp
trên và xây dựng được các chương trình, kế hoạch công tác thích ứng, tích cực phát động
các phong trào hành động cách mạng đạt kết quả tốt, số lượng đoàn viên, hội viên ngày
càng tăng lên.
Nhiều cán bộ chủ chốt các xã trưởng thành từ thực tiễn phong trào cách mạng của
quần chúng, gắn bó với sản xuất và đời sống nhân dân, được quần chúng nhân dân tín
nhiệm. Nhiều Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch UBND xã bước đầu được đào tạo bằng nhiều
hình thức, nhất là các khóa tại chức về chương trình cao cấp lý luận và đại học chính trị.
Theo báo cáo của các ban chuyên môn của Tỉnh ủy hiện nay đa số các Bí thư Đảng ủy,
Chủ tịch UBND xã đảm đương tốt nhiệm vụ và thể hiện tốt vai trò nòng cốt, trung tâm
đoàn kết xây dựng đảng bộ, có trách nhiệm và tích cực trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều
hành các công việc, góp phần làm trong sạch và nâng cao chất lượng, hiệu quả các tổ
chức trong HTCT của các xã.
Nhìn chung, HTCT các xã ở Kon Tum hiện đang có những bước phát triển khá
vững chắc, đã thực hiện ngày càng tốt hơn vai trò lãnh, chỉ đạo, là nơi trực tiếp đưa chủ


trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, góp
phần tạo nên thành quả khá toàn diện, kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản giữ được ổn định; đời sống vật chất và văn hoá tinh thần
có chiều hướng được nâng lên, bộ mặt nông thôn mỗi lúc một thêm khởi sắc.
1.1.2. Vai trò, đặc điểm của đội ngũ đảng viên là người dân tộc thiểu số của
các đảng bộ xã ở tỉnh Kon Tum
1.1.2.1. Vai trò của đội ngũ đảng viên là người dân tộc thiểu số của các đảng bộ
xã ở tỉnh Kon Tum
Tất cả các TCCSĐ cấp xã nói chung và từng đảng bộ cơ sở ở các xã tỉnh Kon Tum
nói riêng đều có vị trí là những tổ chức nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị, đơn vị

nơi địa bàn mình phụ trách. Qua đó, họ phản ánh, báo cáo trực tiếp với chi bộ, đảng bộ cơ
sở những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Mặt khác, từng đảng viên truyền đạt các
quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến
với nhân dân. Như vậy, từ việc: tiếp thu và xử lý những thông tin về thực trạng tình hình
địa phương, về tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và phản ánh đến lãnh đạo Đảng và
Nhà nước các cấp; đến việc quán triệt, tiếp thu tất cả các thông tin về lãnh đạo, chỉ đạo và
hướng dẫn của Đảng và chính quyền các cấp trên, xử lý và truyền đạt những tiếp thu đó
về địa phương, đơn vị mình có hiệu quả… - tất cả những công việc đó đều được quyết
định bởi chính tinh thần trách nhiệm và năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ đảng
viên ở tại các đảng bộ, chi bộ của các xã đó.
Hai là, đội ngũ đảng viên là người trực tiếp đưa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng
và Nhà nước các cấp thành chương trình hành động, kế hoạch công tác của xã, của các
đoàn thể trong xã. Mỗi đảng viên đều có cương vị công tác nhất định. Các đảng viên làm
công tác đảng có vai trò đưa các nghị quyết của cấp ủy cấp trên thành nghị quyết của
Đảng bộ, chi bộ. Các đảng viên trong các cơ quan chính quyền có vai trò cụ thể hóa, thể
chế hóa các nghị quyết của Đảng thành kế hoạch công tác, chương trình hành động của
chính quyền xã. Các đảng viên tham gia Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân truyền
đạt, lãnh đạo các tổ chức này hoạt động theo đúng chủ trương của Đảng. Đối với tỉnh
Kon Tum, vai trò này đối với đội ngũ đảng viên có mặt khó khăn, phức tạp hơn so với
đảng viên ở các nơi khác. Nhiều đảng viên, nhất là đảng viên là người DTTS trình độ văn
hóa có hạn, hiểu biết xã hội còn nhiều hạn chế, lại chủ yếu suy nghĩ theo kiểu kinh
nghiệm chủ nghĩa. Trong khi đó, đồng bào các dân tộc luôn tin tưởng, kỳ vọng vào đảng


viên, có gì chưa biết, chưa hiểu, họ hỏi đảng viên; đảng viên nói là đồng bào cho đó là
tiếng nói của Đảng và của Chính phủ.
Ba là, đội ngũ đảng viên ở đây không chỉ có trách nhiệm tổ chức lãnh đạo, chỉ
đạo, hướng dẫn, tuyên truyền, vận động, cỗ vũ và lôi cuốn quần chúng tham gia các
hoạt động cách mạng, mà còn có vai trò hành động tiên phong, gương mẫu trước quần
chúng, bằng việc xung kích, đi đầu trong tất cả các phong trào cách mạng của quần

ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao trong tình hình mới.
1.1.2.2. Đặc điểm của đội ngũ đảng viên là người dân tộc thiểu số của các đảng
bộ xã ở tỉnh Kon Tum
Trong những năm gần đây, tỉnh Kon Tum tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ dân
tộc trong HTCT, nhất là HTCT ở cơ sở. Trên cơ sở các nghị quyết, chỉ thị của Trung
ương Đảng, Tỉnh ủy đã ban hành nhiều chủ trương để xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS ở
các cấp, các ngành, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ cách mạng mới. Do
đó, đội ngũ cán bộ DTTS ngày một tăng về số lượng và được nâng cao về chất lượng.
Tổng số đảng viên là người DTTS của các đảng bộ xã ở tỉnh Kon Tum tính đến
ngày 31-12-2008 là 4.641 đảng viên, chiếm tỷ lệ 29,8 % so với tổng số đảng viên trên
toàn tỉnh (15.566 đảng viên). Đây là một tỷ lệ khá đối với vùng dân tộc - miền núi Tây
Nguyên, điều kiện tự nhiên vừa có mặt thuận lợi lại xen lẫn không ít những khó khăn,
nhất là đối với tỉnh duy nhất hiện nay của Tây Nguyên có đồng bào các DTTS chiếm quá
nửa dân số (53,94 %). Trong khi số cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên là người các
DTTS chỉ chiếm 16,06 % tổng số cán bộ, công chức cùng cấp, nhưng ở cấp cơ sở thì tỷ lệ
này 61,61 %. Đa số cán bộ có trình độ văn hóa cấp phổ thông cơ sở và trung học cơ sở
(chiếm 87 %); trình độ chuyên môn đại học, cao đẳng chiếm một tỷ lệ hết sức nhỏ (1,3%),
chưa qua đào tạo chiếm 92,2% (xem phụ lục 11).
Năm 2005, Kon Tum có 1.301 đảng viên nữ, chiếm 0,34% tổng số đảng viên là
người DTTS của tỉnh, đến năm 2008 lượng nữ đảng viên lên đến 1.578 đảng viên, chiếm
0,34% tổng số đảng viên là người DTTS của tỉnh. (xem phụ lục 11).
Năm 2008 còn tới 2.692 đảng viên có trình độ phổ thông cơ sở trở xuống chiếm
0,58% so với tổng số đảng viên là người DTTS toàn tỉnh. Số đảng viên này chủ yếu sống
và làm việc ở các xã nông thôn. Hiện nay, số đảng viên đã được học qua chương trình
cao cấp và đại học chính trị là 46 người chiếm 0,009% tổng số đảng viên của tỉnh, trong


đó đa số thuộc diện cán bộ lãnh đạo chủ chốt đương chức của cấp xã; họ theo học chủ
yếu các lớp tại chức và đa phần học trong mười năm trở lại đây. Còn về trình độ chuyên
môn: cao đẳng và đại học là 60 người, chiếm 0,01% so tổng số đảng viên là người DTTS

Ba là, đội ngũ đảng viên ở đây phần đông vào Đảng từ sau năm 1975. Chỉ còn một
số đảng viên trưởng thành trước năm 1975, còn tham gia sinh hoạt đảng và sinh sống ở
đây. Nếu ở các đảng bộ thị trấn, phường trong tỉnh số đảng viên cao tuổi hoặc đã nghỉ
hưu khá đông, thì ở các đảng bộ xã ở Kon Tum còn quá ít đảng viên cao tuổi đời, nhiều
tuổi đảng. Thực tế đó tạo cho các đảng bộ các xã ở Kon Tum vừa có thuận lợi là tỷ lệ
đảng viên trẻ hoạt động ở các đảng bộ xã cao, nhưng cũng có khó khăn do thiếu sự dìu
dắt, giúp đỡ của thế hệ đảng viên lớn tuổi.
Bốn là, có khá đông đảng viên đang được giữ những trọng trách ở cơ sở, nhất là
cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở các xã, không thật yên tâm làm việc lâu dài ở cơ sở.
Nhiều người trong số họ tìm mọi cách để được làm việc ở cấp trên. Thực tế nhiều năm
qua cho thấy, những đảng viên có năng lực, có triển vọng đều tính chuyện lên cơ quan
cấp trên công tác. Trong khi đó, cán bộ ở cấp trên lại thường rất ngại xuống công tác, làm
việc ở cơ sở, do nhiều lý do khách quan, chủ quan khác nhau. Trừ một số trường hợp cá
biệt, còn phần đông đảng viên buộc phải xuống làm việc ở cơ sở do không còn cách để
chọn lựa, chứ ít thấy đảng viên tự giác, tự nguyện, xung phong xuống làm việc ở các xã.
Đây là thực trạng đang làm cho sự thiếu hụt cán bộ giỏi ngày càng thường xuyên hơn ở
các xã của Kon Tum, nhất là những vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
1.1.2.3. Nguồn phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số của các đảng bộ
xã ở tỉnh Kon Tum
Xuất phát từ những đặc điểm trên, từ ngày tái thành lập tỉnh đến nay, Đảng bộ tỉnh
Kon Tum luôn quan tâm củng cố, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh đáp ứng nhiệm
vụ chính trị trong từng giai đoạn. Việc tăng cường công tác phát triển đảng viên, làm cho
đội ngũ đảng viên tiếp tục được bổ sung cả về số lượng và chất lượng; phát triển đảng
viên mới đều ở các khu vực, đã chú trọng phát triển đảng viên là nữ, là người DTTS, là
đoàn viên thanh niên, trong lực lượng công nhân ở các lâm, nông trường, ở những nơi
còn ít hoặc “trắng” đảng viên.
Công tác tạo nguồn phát triển Đảng được chú trọng hơn, nhiều cấp ủy huyện và
cấp xã tiến hành đánh giá, phân tích chất lượng quần chúng cảm tình Đảng của từng chi





1.2.1. Quan niệm về chất lượng đảng viên là người dân tộc thiểu số của các
đảng bộ xã ở tỉnh Kon Tum
1.2.1.1. Chất lượng đảng viên
Khái niệm chất lượng
Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng nhất trong đánh giá các sự vật, quá trình và
con người, nhưng chất lượng vẫn là một khái niệm khó định nghĩa và đến nay vẫn có
những cách hiểu không hoàn toàn nhất quán, do xuất phát từ những góc độ tiếp cận khác
nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ biên soạn Nhà xuất bản Đà Nẵng
phát hành năm 1999, chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một
sự vật, sự việc. Như vậy, chất lượng có thể được hiểu: thứ nhất, là tổng hợp những phẩm
chất, tính chất (thuộc tính tạo nên cái giá trị của một con người, một sự vật, hiện tượng);
thứ hai, những phẩm chất đó đáp ứng đến đâu những yêu cầu đặt ra. Nói cách khác, chất
lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn (tiêu chí, thông số kỹ thuật) được quy định trước
đó.
Quan niệm về đảng viên
Khái niệm “đảng viên” bao hàm hai mặt: cá nhân một con người mang danh hiệu
đảng viên và một thành viên của Đảng (của một tổ chức đảng cụ thể và của toàn Đảng
nói chung). Người đảng viên chỉ xứng đáng với danh hiệu cao quý của mình khi làm tròn
bổn phận trên cả hai tư cách đó, nhờ vào cả sự phấn đấu của bản thân lẫn sự giúp đỡ, tạo
điều kiện của tổ chức đảng.
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là những chiến sĩ cách mạng tiên phong, ưu tú,
tự nguyện, tự giác gắn kết chặt chẽ với nhau trong tổ chức đảng, dựa trên sự giác ngộ lý
tưởng cộng sản, sự tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt và hoạt động
của Đảng - đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục
đích, lý tưởng của Đảng, phấn đấu vì một nước Việt Nam độc lập, dân chủ và giàu mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh, thực hiện thành công CNXH và cuối cùng là chủ nghĩa
cộng sản.

tiêu cực về chính trị.


Trong thực tiễn, khi đánh giá phẩm chất chính trị của đảng viên thường tập trung
vào ba yếu tố sau: sự giác ngộ chính trị; bản lĩnh chính trị, thể hiện ở lòng trung thành,
đức hy sinh và sự kiên định lập trường vô sản; vai trò tiên phong, gương mẫu trong thực
hiện nhiệm vụ.
Phẩm chất đạo đức của người đảng viên bao gồm ý thức đạo đức và hành vi đạo
đức. Ý thức đạo đức được hiểu là toàn bộ những quan niệm về thiện, ác, tốt, xấu, lương
tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng... và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành
vi ứng xử giữa cá nhân với tổ chức và xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội.
Theo đó, ý thức đạo đức của đảng viên là những quan niệm của đảng viên về chuẩn mực
sống, chuẩn mực quan hệ xã hội giữa người và người; về tốt và xấu, thiện và ác, chân thật
và giả dối... Những quan niệm đó được khái quát thành hệ thống quy tắc đối nhân xử thế
và hình thành hệ quan điểm về các phẩm chất đạo đức. Ý thức đạo đức của đảng viên là ý
thức đạo đức cộng sản, ý thức đạo đức XHCN.
Ý thức đạo đức bao gồm tri thức về giá trị và định hướng giá trị đạo đức, tình cảm
và lý tưởng đạo đức, ý chí đạo đức. Trong ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức có vị trí đặc
biệt quan trọng. Bởi vì, một khi không có tình cảm đạo đức thì mọi quan niệm, mọi chuẩn
mực, mọi định hướng giá trị về đạo đức đều không thể chuyển thành hành vi đạo đức.
Hành vi đạo đức là được biểu hiện của ý thức đạo đức thông qua các hành vi ứng
xử thực tế của con người theo niềm tin đạo đức trong mối quan hệ giữa người với người
dưới hình thức trực tiếp lẫn hình thức gián tiếp.
Hành vi đạo đức của đảng viên là hành động của người đảng viên trước cái tốt và
cái xấu; cái đúng, cái sai; cái thiện, cái ác, trong các hoàn cảnh cụ thể khác nhau, do ý
thức đạo đức và thái độ đạo đức quy định. Thái độ đạo đức là thái độ yêu hay ghét, ủng
hộ hay phê phán đối với cái thiện, cái ác; cái đẹp, cái xấu; cái tiến bộ, cái lạc hậu...; là
thái độ đối với đồng chí, đồng nghiệp, gia đình, bạn bè và quần chúng... Thái độ và hành
vi đạo đức khi được thiết lập ổn định thì trở thành một bộ phận trong lối sống của đảng
viên. Lối sống là cung cách sinh hoạt, hoạt động, ứng xử đã ổn định, trở thành đặc điểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status