Nghiên cứu tình hình tiêu thụ nông sản của các trang trại trên địa bàn huyện nam đàn – tỉnh nghệ an - Pdf 35

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ở các nước có nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, hình thức tổ chức sản
xuất theo kiểu trang trại đã tồn tại từ lâu và rất phổ biến. Nhưng ở nước ta,
kinh tế trang trại là một loại hình tương đối mới và chỉ phát triển mạnh mẽ
trong những năm gần đây. Tuy nhiên nó đã và đang khẳng định vai trò và vị
trí của mình trong nền kinh tế thị trường, góp phần vào quá trình chuyển đổi
cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng nhanh tỷ trọng sản xuất hàng hóa,
tạo ra được nhiều vùng sản xuất tập trung, chuyên canh lớn, làm tiền đề cho
công nghiệp chế biến nông sản phát triển, thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm có
giá trị cao, đồng thời huy động khuyến khích các hộ nông dân mạnh dạn đầu
tư vào sản xuất, làm thay đổi bộ mặt nông thôn ở nhiều địa phương.
Kinh tế trang trại là quy luật phát triển tất yếu của sản xuất nông nghiệp
hàng hóa. Bởi, nó có tính ưu việt hơn hẳn so với các hình thức tổ chức sản
xuất khác trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, đó là sử dụng có hiệu quả
nguồn lực đất đai, lao động và nguồn vốn. Nó không bị bó hẹp bởi quy mô
sản xuất nhỏ, cơ cấu cây trồng và vật nuôi phù hợp với nhu cầu thị trường, và
tạo ra các sản phẩm có tính cạnh tranh cao.
Nam Đàn là một huyện bán sơn địa, nên có nhiều điều kiện thuận lợi
cho trang trại phát triển với nhiều loại hình khác nhau. Thực tế, trong mấy
năm gần đây với sự quan tâm, khuyến khích của chính quyền địa phương về
vấn đề phát triển kinh tế trang trại, số lượng và qui mô các trang trại tăng lên
một cách rõ rệt.
Sự phát triển mạnh mẽ về số lượng và chất lượng của các trang trại đã
tác động tích cực đến nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp huyện nói
riêng. Các trang trại đã góp phần tích cực xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc

1




- Đề xuất những biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả tiêu thụ
nông sản cho các trang trại.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình tiêu thụ nông sản và các vấn đề
liên quan đến tiêu thụ của các trang trại trên địa bàn huyện Nam Đàn – tỉnh
Nghệ An.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu trên phạm vi không gian: huyện Nam Đàn –
tỉnh Nghệ An.
-Quá trình nghiên cứu trong phạm vi thời gian: từ ngày 20/1/2010 đến
ngày 22/5/2010.
Số liệu điều tra chủ yếu trong ba năm (2007 – 2009).
- Phạm vi nội dung: Tình hình tiêu thụ nông sản của các trang trại và
các vấn đề liên quan đến tiêu thụ nông sản của các trang trại.

3


PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan
* Khái niệm về trang trại
Một số tác giả khi nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển kinh tế
trang trại gia đình trên thế giới cho rằng, các trang trại được hình thành từ cơ
sở các hộ tiểu nông sau khi phá vỡ vỏ bọc sản xuất tự cung tự cấp khép kín,
vươn lên sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường trong điều kiện cạnh
tranh. Trong thời gian qua những vấn đề lý luận trang trại được các nhà khoa

nông trại, lâm trại, ngư trại…) là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền
sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hiệp tác và phân công lao động xã hội, bao
gồm một số người lao động nhất định, được chủ trại tổ chức trang bị những
tư liệu sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động kinh doanh phù hợp với yêu
cầu của nền kinh tế thị trường và được nhà nước bảo hộ.
Từ những khái niệm trên ta thấy có sự phân biệt rõ giữa khái niệm
trang trại và kinh tế trang trại: trang trại là cơ sở sản xuất kinh doanh có vị trí
tồn tại trên một địa bàn nhất định, có cơ sở vật chất, tư liệu sản xuất nhất định
và được nhà nước công nhận có sự tồn tại của nó. Còn kinh tế trang trại là
một hình thức tổ chức kinh tế. Khi nói đến “Kinh tế trang trại” là đề cập đến
tổng thể những mối quan hệ kinh tế - xã hội, môi trường nảy sinh trong quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các trang trại: quan hệ giữa các trang
trại với nhau, giữa các trang trại với các tổ chức kinh tế khác, với nhà nước,
với thị trường, với môi trường sinh thái tự nhiên…
* Những đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại
Một là, chuyên môn hóa, tập trung hóa sản xuất hàng hóa dịch vụ theo
nhu cầu của thị trường, có lợi nhuận cao.
Đây là một đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại so với kinh tế nông
hộ. Trong đó, giá trị tổng sản phẩm và sản phẩm hàng hóa là chỉ tiêu trực tiếp

5


đánh giá về quy mô trang trại nhỏ, vừa và lớn. Quy mô trang trại thường lớn
hơn nhiều lần so với quy mô của kinh tế nông hộ và có tỷ suất nông sản hàng
hóa trên 85%. Ngoài ra còn có những chỉ tiêu gián tiếp như ruộng đất, vốn,
lao động…
Hai là, về thị trường đã sản xuất hàng hóa thì hàng hóa thì hàng hóa
luôn luôn gắn với thị trường, do đó thị trường bán sản phẩm và mua vật tư là
nhân tố có tính chất quyết định chiến lược phát triển sản xuất sản phẩm hàng

Về định lượng căn cứ vào các tiêu chí sau:
- Có quy mô sản xuất tương đối lớn so với mức trung bình của kinh tế
hộ tại địa phương, tương ứng với từng ngành sản xuất cụ thể như trồng trọt,
chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản. Cụ thể:
+ Đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung thì giá trị sản
lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm là từ 40 triệu đồng trở lên.
+ Đối với trang trại trồng các loại cây hàng năm là chủ yếu thì ở miền
Bắc và miền Trung phải có diện tích từ 2 ha canh tác trở lên, còn ở các tỉnh
Nam Bộ phải có diện tích từ 3 ha trở lên.
+ Đối với trang trại trồng các loại cây lâu năm và cây ăn quả thì ở các
tỉnh miền Bắc và miền Trung phải có diện tích từ 3 ha trở lên, ở các tỉnh Nam
Bộ phải có diện tích từ 5 ha trở lên.
+ Đối với trang trại lâm nghiệp diện đất sản xuất phải từ 10 ha trở lên
+ Đối với trang trại chăn nuôi đại gia súc (như trâu, bò…) sinh sản, lấy
sữa thường xuyên phải có từ 10 con trở lên, lấy thịt phải có từ 50 con trở lên.
Chăn nuôi gia súc (như lợn, dê…) sinh sản phải có thường xuyên hơn 20 con trở
lên, lấy thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên, gia cầm từ 2000 con trở lên.
+ Đối với trang trại nuôi trồng thủy sản diện tích mặt nước để nuôi
trồng thủy sản phải từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công
nghiệp có diện tích 1 ha trở lên).

7


+ Đối với trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp phải là những trang
trại có từ hai hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
khác nhau trở lên và mỗi hoạt động đều đạt về qui mô hoặc mức giá trị hàng
hoá và dịch vụ như quy định cho trang trại.
Qua các tiêu chí xác định kinh tế trang trại nêu trên ta có thế phân biệt
những điểm khác nhau giữa kinh tế trang trại và kinh tế hộ bằng bảng sau:

Kết luận

triển cao

nhỏ

Nguồn: Tư liệu về kinh tế trang trại(2000)
* Khái niệm về thị trường
Hiện nay, có nhiều khái niệm về thị trường được diễn đạt theo cách
hiểu rộng, hẹp khác nhau, nhưng về cơ bản là không có mâu thuẫn với nhau.
Ở đây xin nêu một số khái niệm chủ yếu:
- Thị trường là một hình thức biểu hiện sự phân công lao động xã hội;
và do đó, nó có thể phát triển vô cùng tận. Ở đâu và khi nào có sự phân công
lao động xã hội thì ở đó có và khi ấy có thị trường.
- Thị trường là nơi, là điểm diễn ra các hoạt động chuyển nhượng, trao
đổi, mua bán hàng hóa dịch vụ.
- Thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu.
- Thị trường là tổng hợp các quan hệ kinh tế hình thành trong hoạt động
mua bán.

8


Theo góc độ Marketing thì: thị trường bao gồm tất cả những khách
hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả
năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó.
Nhưng, điều quan trọng để hiểu được thực chất của thị trường là ở chỗ,
thị trường không phải chỉ đơn thuần là lĩnh vực trao đổi, di chuyển hàng hóa,
dịch vụ từ người sản xuất sang người tiêu dùng, bởi vì không phải trao đổi có
thể được tổ chức theo các cách khác nhau, mà là trao đổi được tổ chức theo

cơ sở sản xuất. Thông thường hoạt động tiêu thụ sản phẩm được cấu thành
bởi các yếu tố:
- Các chủ thể kinh tế tham gia là người mua và người bán.
- Đối tượng tiêu thụ là sản phẩm hàng hóa và tiền tệ.
- Thị trường tiêu thụ là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán.
* Vị trí của thị trường tiêu thụ nông sản
Có th nói r ng th tr n g tiêu th nông s n chi m m t v trí vô cùng quan
tr ng trong s n xu t nông nghi p. Ngay c các n c phát tri n c ng coi v n
tiêu th là m t trong nh ng m t xích quan tr ng, s n xu t mà không tiêu th
c thì th t vô ngha i v i n n kinh t hàng hóa. Hi n nay, v n
s n xu t
không còn là m t v n
l n trong nông nghi p, v i khoa h c k thu t tiên ti n,
công ngh sinh h c phát tri n m nh m thì ch trong m t th i gian ng n ta có th
s n xu t ra c m t kh i l n g l n s n ph m v i ch t l n g t t. V n
là tiêu
th c nông s n ó nh th nào, tiêu th
âu, trong th i gian nào là phù h p.
Trong n n kinh t th tr n g nó l i càng quan tr ng vì có r t nhi u ng i s n
xu t ra cùng m t lo i s n ph m, song th tr n g tiêu th l i có h n, ai chi m
c lòng tin c a ng i tiêu dùng tr c và duy trì c lòng tin ó thì ng i ó
th ng. Chính vì th , v trí c a th tr n g tiêu th nông s n óng vai trò quy t
nh n s phát tri n c a m t n n s n xu t nông nghi p hàng hóa nói riêng và
n n kinh t hàng hóa nói chung. c bi t, n c ta ang th c hi n CNH – H H
nông nghi p nông thôn thì v trí c a th tr n g tiêu th nông s n l i càng có ý
ngha quan tr ng h n lúc nào h t, vì nó quy t nh n s thành công c a quá
trình CNH – H H nông nghi p nông thôn n c ta trong th i gian t i ây.
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ nông sản
2.1.2.1 Đặc điểm của nông sản hàng hóa



11


+ Nông sản đòi hỏi những tiêu chuẩn chất lượng cao.
+ Quyết định đến kết quả của quá trình tái sản xuất. Thích nghi với
điều kiện của từng vùng sinh thái.
+ Nhu cầu của nó thường là nhu cầu dãn suất.
+ Luôn luôn chịu áp lực thay thế của sản phẩm mới.
+ Cơ hội thành công và rủi ro lớn trong kinh doanh.
2.1.2.2 Đặc trưng của thị trường nông sản hàng hóa
Do nông sản hàng hóa có những đặc điểm riêng khác biệt so với các
sản phẩm của các ngành sản xuất khác nên nó cũng tạo nên những đặc trưng
riêng cho thị trường nông sản hàng hóa. Đó là :
+ Thị trường có nhiều người bán và nhiều người mua. Sản phẩm nông
sản trên thị trường thường do nhiều nông dân sản xuất và cùng bán trên thị
trường với số lượng nhỏ. Do đó thị trường nông sản có một đặc trưng cơ bản
nhất là là mang tính cạnh tranh hoàn hảo cao, vì vậy bất kỳ một chủ thể tham
gia vào thị trường nông sản cũng không thể điều khiển được thị trường.
+ Thị trường nông sản có quy mô lớn và thường xuyên gia tăng về số
lượng, thay đổi về cơ cấu liên tục do vậy mức tiêu dùng sản phẩm nông
nghiệp thường xuyên thay đổi theo.
+ Sự thay đổi về tuổi tác, giới tính, thu nhập, trình độ văn hóa và sở
thích đã tạo nên tính đa dạng về nhu cầu và mong muốn của họ trong việc sử
dụng nông sản hàng hóa.
+ Thị trường nông sản thường mang tính muộn, chậm biến đổi. Cung
nông sản của vụ này là do kết quả của các quyết định từ những vụ trước, năm
trước, trong khi đó cầu về nông sản hàng hóa thường không co giãn hay co
giãn thấp, ít thay đổi hoặc thay đổi rất chậm.



13


Nhóm yếu tố này được thể hiện ở trình độ của chủ trại trong việc phối
hợp với các cá nhân, tổ chức khác trong việc đưa nông sản từ trang trại đến
người tiêu dùng cuối cùng. Ngoài ra trình độ của chủ trại trong việc nắm bắt
thông tin thị trường, kiến thức Marketing và tổ chức hệ thống tiêu thụ sản
phẩm sẽ ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ và giảm bớt rủi ro trong sản xuất
nông nghiệp.
* Nhóm yếu tố về sản xuất:
Việc lựa chọn sản xuất cây trồng, vật nuôi sẽ ảnh hưởng lớn đến mức
độ tiêu thụ nhanh hay chậm, nếu sản phẩm phù hợp với yêu cầu thị trường thì
vấn đề tiêu thụ sẽ dễ dàng hơn, và quá trình tiêu thụ sẽ diễn ra nhanh chóng, ít
bị rụi ro do thị trường tác động.
Bên cạnh đó số lượng, chất lượng nông sản và giá thành sản xuất sẽ ảnh
hưởng đến giá trị sản phẩm và giá nông phẩm bán ra.
* Nhóm yếu tố về chính sách:
Các chính sách của nhà nước và chủ trương của chính quyến địa
phương sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề tiêu thụ sản phẩm của trang trại.
Một số chính sách và chủ trương tạo điều kiện thuận lợi trong việc khai thông
thị trường, ảnh hưởng tốt đến tiêu thụ nhưng ngược lại một số chính sách lại
gây cản trở cho quá trình tiêu thụ nông sản.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
Kinh tế trang trại ở nước ta hiện nay đã góp phần dịch chuyển cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, thúc đẩy phát triển công nghiệp đặc biệt là công nghiệp
chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn.
Ở nước ta loại hình kinh tế như trang trại đã hình thành và phát triển từ
rất sớm nhưng loại hình kinh tế trang trại thì mới chỉ phát triển mạnh mẽ

289 trang trại chăn nuôi, 119 trang trại lâm nghiệp, 105 trang trại nuôi trồng thủy
sản, 631 trang trại tổng hợp. Các loại hình trang trại trên đang chuyển dịch theo
hướng tăng tỉ trọng trang trại chăn nuôi và trang trại tổng hợp

15


Tổng số diện tích đất đai của các trang trại là 10.22 ha, bình quân
7ha/trang trại, với tổng vốn đầu tư 158.775.910.000 đồng, bình quân
103.842.976 đồng. nguồn vốn chủ yếu là nguồn vốn tự có chiếm 80%.
Thực tế, phát triển kinh tế trang trại những năm qua đã chứng minh
rẳng kinh tế trang trại là một mô hình cần được khuyến khích phát triển, bởi
lẽ kinh tế trang trại là một loại hình kinh tế sử dụng hiệu quả các nguồn lực
hiện có, nhất là nguồn lực lao động và đất đai. Hiện lao động thường xuyên
của các trang trại từ 5400 – 5600 người. Năm 2006 giá trị hàng hóa dịch vụ
của các trang trại đạt: 147.174.498.000 đồng, bình quân 96.255.394
đồng/1trang trại. Bình quân giá trị sản lượng/ha canh tác của trang trại đạt từ
35 – 50 triệu đồng
( />m=171&act=view&id=90&p=25).
Ở huyện Nam Đàn từ khi ban hành NQ 06 – NQ/HU của ban chấp hành
huyện ủy Nam Đàn, kinh tế trang trại trên địa bàn huyện phát triển khá nhanh
cả về số lượng, quy mô lẫn chất lượng. Nhiều mô hình trang trại sản xuất,
kinh doanh trồng trọt, chăn nuôi, và dịch vụ tổng hợp đem lại hiệu quả kinh tế
cao, góp phần giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động nông nghiệp.
Đến nay trên địa bàn huyện đã xây dựng được 567 trang trại và loại
hình như trang trại với tổng diện tích 768 ha (trong đó có 217 trang trại
đạt tiêu chuẩn theo quy định). Vốn đầu tư 55,5 tỷ đồng, thu hút 1350 lao
động thường xuyên và 1250 lao động thời vụ, lợi nhuận năm 2009 đạt
12,2 tỷ đồng.


góp phần cho sự phát triển của loại hình kinh tế trang trại trên địa bàn huyện
và ngành nông nghiệp huyện nói chung.

PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU

17


3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Nam Đàn là huyện nửa đồng bằng nửa đồi núi, có diện tích tự nhiên
gần 30000 ha, có chiều rộng 10Km từ Tây sang Đông, chiều dài 30Km từ Bắc
xuống Nam. Trung tâm huyện cách thành phố Vinh 20Km. Tọa độ địa lý: từ
18030’ đến 18047’ vĩ độ Bắc. Và từ 105025’ đến 105025’ kinh độ Đông.
Ranh giới hành chính của huyện như sau:
Phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc
Phía Nam giáp huyện Đức Thọ và huyện Hương Sơn của tỉnh Hà Tĩnh
Phía Tây giáp huyện Thanh Chương
Phía Đông giáp huyện Hưng Nguyên
3.1.1.2 Địa hình
Nam Đàn có địa hình đa dạng, nằm kẹp giữa 2 dãy núi Thiên Nhẫn ở
phía Tây và dãy núi Đại Huệ ở phía Bắc tạo ra thung lũng, đồng bằng tam
giác; có con sông Lam chảy dọc theo hướng từ Tây sang Đông chia huyện
thành 2 vùng tả ngạn và hữu ngạn sông Lam.
Địa hình đồng bằng: bị chia cắt bởi sông Lam, sông Đào và có những
quả đồi bát úp thấp và độc lập tạo nên những long chảo cục bộ nhỏ hẹp. Mặt
đất cao thấp không đồng đều gây khó khăn trong quá trình sản xuất nông

tối cao tuyệt đối và tối thấp tuyệt đối.
b, Bức xạ
Trong 1 năm, Nam Đàn có khoảng 1680-1700 giờ nắng, hầu như quanh
năm tháng nào cũng có trên 50 giờ nắng. Tháng 5 đến tháng 7 có giờ nắng
cao nhất và thường đạt 190-200 giờ. Tháng 2 trời âm u, nhiều mây, số giờ
nắng chỉ khoảng 50-60 giờ.
Tiềm năng bức xạ dồi dào. Sự phân phối bức xạ khá rõ rệt. Từ tháng 5
trở đi có số lượng bức xạ trên 10Kclo/cm 2/tháng. Thông thường đạt trị số cao
nhất là 35,1Kclo/cm2. Tháng 2 âm u, nhiều mây nên bức xạ tổng cộng thấp

19


nhất trong năm và chỉ đạt 3,7Kclo/cm2. Bức xạ tổng cộng trong năm trung
bình hàng năm khoảng 106-110Kclo/cm2. Với cường độ chiếu sang khá
mạnh, Nam Đàn có điều kiện phát triển đa dạng cây trồng vật nuôi và nâng hệ
số sử dụng đất đai. Tuy nhiên cần né tránh thời gian có số giờ nắng và bức xạ
nhiệt cao hoặc số giờ nắng và bức xạ nhiệt thấp.
c, Độ ẩm
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm phổ biến từ 84-86%. Ngay trong
những tháng mùa hè khô nóng, độ ẩm không khí trung bình cũng lớn hơn
74%. Trong thời kỳ mưa phùn, gió Bấc tháng 2, tháng 3 độ ẩm không khí
trung bình 86-92%. Độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối 15%, thường xảy ra
vào thàng 10.
Nhìn chung tại Nam Đàn, độ ẩm không khí tương đối cao, thuận lợi cho
cây trồng phát triển, nhưng khó khăn cho việc cất giữ nông sản, thực phẩm.
d, Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1944,3 mm, lớn
nhất khoảng 2600 mm và nhỏ nhất 1100 mm. Lượng mưa phân bổ không đều
mà tập trung chủ yếu vào nửa cuối tháng 8 đến tháng 10, lượng mưa thấp nhất
từ tháng 1 đến tháng 4.

chiếm 9,02% được phân bố dọc 2 bờ sông Lam.
+ Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm: diện tích 10238,4 ha
chiếm 37,69% tổng diện tích các loại đất, tập trung chủ yếu vào các xã
chuyên canh cây lúa như: Hùng Tiến, Kim Liên, Nam Cát, Xuân Lâm, Hồng
Long, Xuân Hòa…
+ Đất phù sax en đồi núi: diện tích 421,8 ha chiếm 1,55% diện tích các
loại đất. Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc cát pha, đất chua, độ phì kém
(nghèo NPK).
+ Đất bạc màu trên phù sa cũ có sản phẩm feralit: diện tích 1847,7 ha
chiếm 6,8% diện tích các loại đất. Phân bố tập trung ở các xã nằm ven dãy núi
Đại Huệ như Nam Lĩnh, Nam Anh, Nam Nghĩa, Nam Thái và một phần ở
Nam Giang. Đất thường có địa hình cao, chua, thành phần cơ giới lớp đất mặt
là cát pha, khả năng giữ nước kém, nghèo dinh dưỡng.

21


+ Đất dốc tụ: diện tích 241,2 ha chiếm 0,89% tổng diện tích các loại đất,
phân bố chủ yếu ở xã Nam Thanh và một phần nhỏ thuộc xã Khánh Sơn. Đất có
thành phần cơ giới nhẹ (chủ yếu là cát pha) có sản phẩm feralit ở lớp đất sa.
+ Đất feralit biến đổi do trồng lúa nước: diện tích 1235,9 ha chiếm
4,88% diện tích các loại đất, phân bố tập trung tại các chân núi đồi thoải.
+ Đất feralit xói mòn trơ sỏi đá: diện tích 10179,9 ha chiếm 37,47%
tổng diện tích các loại đất phân bố dọc theo 2 dãy núi Đại Huệ và Thiên
Nhẫn, đất có tầng dày < 30 cm, lẫn nhiều đá sỏi (20-50g) tỷ lệ mùn thấp, độ
dốc lớn (chủ yếu > 25%).
b, Tài nguyên rừng: Nam Đàn hiện có khoảng 7531,77 ha rừng trồng chiếm
25,02% tổng diện tích tự nhiên. Rừng trồng chủ yếu bởi 3 loại cây: Thông,
Bạch Đàn, Tràm lá keo.
Rừng trồng được chia thành 3 loại sau:

cát ven sông, đất phù sa xen đồi núi…địa hình mấp mô không thuận tiện cho
sản xuất nông nghiệp.
- Lượng mưa phân bố không đều trong năm, thường tập trung vào
những tháng mùa mưa, gây ngập úng. Mùa khô thì gây ra hạn hán lại kèm
theo gió lào Tây nam khô nóng ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp.
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.2.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai
Nam Đàn là một huyện có diện tích khá rộng trong tỉnh với tổng diện
tích đất tự nhiên năm 2007 là 29377,74 ha, năm 2008 và 2009 là 29399,38 ha.
Trong đó diện tích đất nông lâm nghiệp năm 2007 là 19978,53 chiếm 68,01%,
năm 2008 là 20029,84 ha chiếm 68,13%, năm 2009 là 19784,54 ha chiếm
67,29%. Diện tích đất nông lâm nghiệp năm 2008 tăng 0,12% so với năm
2007 là do tổng diện tích đất tự nhiên tăng lên, còn năm 2009 có xu hướng
giảm cả về số lượng và cơ cấu. cụ thể về diện tích giảm 245,3 ha, cơ cấu giảm
đi 0,84%, tốc độ giảm

23


Bảng 2.2: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Nam Đàn qua 3 năm (2007 – 2009)
2007
chỉ tiêu

Tổng DT đất tự nhiên

DT (ha)

2008
CC
(%)


68.13 19,784.54

67.30

100.26

98.78

99.51

59.67 11,489.31

58.07

99.22

96.13

97.66

I. Đất nông lâm nghiệp

19,978.53

68.01

1. Đất SX nông nghiệp

12,046.34

1,911.12

16.63

99.09

100.35

99.72

100.09

100.0
4

đất trồng cây hàng năm
đất trồng cây lâu năm
2. đất lâm nghiệp
3. đất NTTS
4. đất khác
II. đất phi nông nghiệp
1. đất ở

7,351.77

36.80

7,350.91

500.72

0.44

157.58

0.80

111.57

177.22

5,972.22

20.33

6,021.45

20.48

6,325.48

21.52

100.82

105.05 102.92

109.66

101.38



109.12

104.8
3

3. đất khác

2,077.16

34.78

2,030.78

33.73

2,035.21

32.17

97.77

100.22

98.99

24


III. đất chưa sử dụng

IV. Một số chỉ tiêu BQ
BQ đất NN/hộ

0.54

BQ đất NN/khẩu

0.54

0.12

0.53

0.13

0.13

101.32

(Nguồn: Phòng Thống Kê huyện Nam Đàn)
Biểu 3.2: Tình hình dân số và lao động của huyện qua 3 năm (2007 – 2009)
2007
Chỉ tiêu
I. Tổng số hộ
1. Hộ NN
2. Hộ kiêm
3. Hộ phi NN
II. Tổng số nhân khẩu
1. Nhân khẩu NN
2. Nhân khẩu phi NN


25

CC
(%)
100
85.999
4.2365
9.7641
100
83.28
16.72
100
59.67
22.05
18.28

2009
SL
37925
32216
1823
3886
160676
133034
27642
100116
58697
22798
18621

99.27
100.67
104.20

102.01
100.76
115.75
107.05
100.38
99.79
103.32
100.79
98.94
104.00
102.44

101.43
100.07
119.81
106.47
100.22
99.74
102.63
107.42
99.10
102.54
103.31




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status