Thể loại tùy bút trong văn học việt nam từ 1930 đến 1975 - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG TIỂU THUYẾT TỪ 1986 –TRẦN
2000VĂN MINH
Chuyên ngành: LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ VĂN HỌC THỂ
Mã số: 5.04.01

LOẠI TÙY BÚT

TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
TỪ 1930 ĐẾN 1975

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành:
Mã số:

VĂN HỌC VIỆT NAM
62.22.34.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2007

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011

Viết thuê
luận
Page
1 ofvăn


Phản biện 2: PGS.TS Phạm Quang Long
Phản biện 3:

TS

Nguyễn Khắc Hóa

hiện đại, Tạp chí Khoa học Xã hội, Viện KHXH Việt Nam, số 122.
5. Trần Văn Minh (2009), Phân loại tùy bút, Tạp chí Khoa học Xã hội,
Viện KHXH Việt Nam, số 128.
6. Trần Văn Minh (2009), Dạy tác phẩm tùy bút trong trường THPT, nhìn

Phản biện độc lập:
1- GS. TS Nguyễn Khắc Phi

từ đặc trưng thể loại, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số tháng 6.
7. Trần Văn Minh (2010), So sánh sự hình thành và phát triển của thể loại

2- PGS.TS Phạm Quang Long

tùy bút trong hai nền văn học: văn học Việt Nam và văn học Trung
Quốc, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế tại Trường Đại học

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Nhà nước họp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tp. HCM vào hồi …. giờø .... ngày .… tháng …. năm 2011.

KHXH&NV Tp. HCM .
8. Trần Văn Minh (2010), Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam hiện đại,

và phân loại, hệ thống hóa. Nhưng đó là một điều hết sức khó khăn và
phức tạp vì tính chất trung gian, lưỡng hợp của tùy bút (giữa tự sự với trữ
tình, giữa suy tưởng với xúc cảm, giữa văn xuôi với thơ, giữa yếu tố
khách quan với yếu tố chủ quan) có thể khiến cho mọi cố gắng phân định
rạch ròi đều trở nên bất cập hoặc không thỏa đáng. Hậu quả là, mặc dù
được nhìn nhận như một thể loại văn học, nhưng quan điểm phân loại và
cách hiểu về tùy bút, trên thực tế, hầu như chưa có sự nhất trí cần thiết.
Do chưa có được sự đồng thuận từ cơ sở lý luận nên việc tiếp cận và bình
giá những tác phẩm tùy bút cũng gặp không ít khó khăn, phức tạp.
Rõ ràng cần phải khảo sát tường tận hơn về tùy bút, trước hết ở
phương diện khái niệm, thể loại; rồi trên cơ sở đó mà vạch ra một đường
biên - tất nhiên cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối - giữa tùy bút với các
thể loại văn xuôi nghệ thuật khác. Để tùy bút có cơ sở tồn tại bình đẳng
với những thể loại khác trong đời sống văn học, để không chỉ phân định
thỏa đáng những giá trị vốn có, mà quan trọng hơn là định hướng phù
hợp cho sự vận động phát triển ở tương lai, thiết nghĩ đã đến lúc cần có
sự nghiên cứu đầy đủ về nguồn gốc thể loại, quá trình phát triển với
những quy luật và thành tựu nổi bật, về đặc điểm nội dung và nghệ thuật
cơ bản của nó.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là thể loại tùy bút trong văn học
Việt Nam hiện đại. Phạm vi nghiên cứu bao gồm những vấn đề lý thuyết

Viết thuê
luận
Page
3 ofvăn
26 thạc sĩ
[email protected] - 0972.162.399

3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
3.1.
Xác lập một cách hiểu hợp lý, đầy đủ về khái niệm tùy bút; trên
cơ sở đó, xác định rõ loại hình và đặc trưng thể loại của tùy bút.
3.2.
Khái quát những chặng đường phát triển và quy luật vận động
của thể loại tùy bút trong văn học Việt Nam từ 1930 đến 1975.
3.3.
Khẳng định đóng góp to lớn của thể loại tùy bút, cả về nội dung
và bút pháp nghệ thuật, làm phong phú thêm diện mạo văn xuôi Việt
Nam hiện đại.

4. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Viết thuê
luận
Page
4 ofvăn
26 thạc sĩ
[email protected] - 0972.162.399


3
Tương ứng với hai bình diện chính của đối tượng nghiên cứu là
những vấn đề lý thuyết về loại thể và lịch sử văn học xung quanh thể loại
tùy bút, phần Lịch sử vấn đề của Luận án được trình bày theo hai mảng
cụ thể như sau:
4.1. Về thể loại tùy bút
Trong một khoảng thời gian khá dài, tùy bút chưa có được sự
nghiên cứu thật triệt để. Hầu hết các công trình lý luận - phê bình, các

Viết thuê
luận
Page
5 ofvăn
26 thạc sĩ
[email protected] - 0972.162.399


4
4.1.2. Do chưa được xác định rõ ràng đặc trưng thể loại từ cơ sở lý
thuyết, nên công việc khảo sát, bình giá những tác phẩm tùy bút cụ thể đã
gặp không ít trở ngại. Có khi sự chệch choạc bộc lộ ngay từ khâu phân
định thể loại. Ví dụ: thường, người ta quen gọi Hà Nội băm sáu phố
phường của Thạch Lam là tùy bút, nhưng cũng có lúc nó được xem là bút
ký (Đinh Quang Tốn) hoặc “một thứ biên khảo song có nhiều tính chất
nghệ thuật” (Phạm Thế Ngũ). Các nhà nghiên cứu cũng khá vất vả trong
việc xác định ranh giới giữa tùy bút với các tiểu loại khác của ký (nhất là
bút ký). Trong sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 12 nâng cao, (đều
do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ấn hành năm 2007), phần khái niệm về thể
loại và định hướng tiếp cận các tác phẩm tùy bút chưa được trình bày thật
sáng rõ, nhất quán (“bài ký thực chất thuộc thể tùy bút”, “tùy bút thuộc
thể ký”). Trong quyển Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12, tập một (Nguyễn
Văn Đường chủ biên), các tác giả cũng tỏ ra lúng túng, nhầm lẫn khi định
nghĩa về tùy bút: “Tùy bút: một loại bút ký ghi chép người thật việc thật,
không có cốt truyện, đặc biệt in đậm cảm xúc chủ quan của người viết,
đậm chất trữ tình”.
4.1.3. Về đặc điểm nghệ thuật nổi bật, hầu hết các ý kiến đều thừa nhận
rằng tùy bút là một thể loại văn xuôi nghệ thuật hết sức tự do, phóng túng
và giàu chất trữ tình; ở đó, cái tôi cá nhân của người nghệ sĩ luôn được
bộc lộ rõ nét, sinh động. Đó là các ý kiến của: Vương Trí Nhàn (trong

những ý kiến, nhận định riêng về nó là điều không dễ dàng. Vì thế, những
phát biểu, đánh giá về ký nói chung đôi khi cũng góp phần tăng cường
tính hệ thống cho việc nghiên cứu quá trình phát triển của tùy bút.
4.2.1. Tùy bút là một thể loại văn xuôi phái sinh từ ký. Thể loại ký phát
triển rất mạnh trong văn học trung đại Việt Nam. Cho nên, những tác
phẩm ký mang hơi hướng, dáng dấp tùy bút đã thấy xuất hiện từ trước thế
kỷ XX. Nhưng tùy bút, với cách hiểu là một thể loại văn xuôi hẳn hoi như
hiện nay, thì chưa có. Ở chặng đầu của công cuộc hiện đại hóa nền văn
học Việt Nam (1900 - 1930), mặc dù tùy bút chưa tách ra khỏi thể loại ký
nhưng chất trữ tình đã dần đậm đà hơn và bản ngã của người viết cũng
bộc lộ rõ nét hơn. Đây được xem là thời kỳ chuyển dạ, là giai đoạn cuối
của quá trình sinh thành một thể loại văn học. Các ý kiến của Vương Trí
Nhàn (trong Nguyễn Tuân và thể tùy bút - 1997), Nguyễn Văn Hạnh
(trong Chuyện văn, chuyện đời – 2004), Lê Dục Tú (trong Văn học Việt
Nam thế kỷ XX - Phan Cự Đệ chủ biên - 2004),… đã khẳng định điều đó.
4.2.2. Từ 1930 đến 1945, diện mạo và thành tựu độc đáo của thể loại tùy
bút mới thực sự được khẳng định. Ở bài viết Nguyễn Tuân, tên tuổi còn
mãi với thể tùy bút (1997), qua việc phân tích cặn kẽ những tiền đề từ
thực tiễn văn học và tâm lý xã hội, Vương Trí Nhàn đã cho thấy sự ra đời
của thể loại tùy bút nói chung và sáng tác của Nguyễn Tuân nói riêng vào
thập niên 30 của thế kỷ XX là một hiện tượng tất yếu, mang tính lịch sử.
Trong Luận án Tiến sĩ về Đặc trưng tùy bút Nguyễn Tuân (2004), ở
phần điểm qua tiến trình tùy bút Việt Nam, Nguyễn Thị Hồng Hà có nhận
định: “Cho đến cuối thập niên thứ ba của thế kỷ XX, những tác phẩm tùy
bút thực sự mang hơi thở lẫn dáng dấp hiện đại bắt đầu xuất hiện”. Trong
Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Lê Dục Tú đặc biệt ghi nhận đóng góp của
thể loại ký vào giai đoạn văn học 1930 - 1945, với tùy bút là một trong hai
“dạng” chủ yếu. Trong Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Văn học với
đề tài Thể loại tùy bút trong văn học Việt Nam 1930 – 1945 (Trường đại
học KHXH & NV Tp. HCM - 2006), Nguyễn Thị Bích Thủy đã tập trung

Cách mạng. Trong Văn học Việt Nam hiện đại, vấn đề - tác giả (2005),
Mã Giang Lân cũng khẳng định: trong văn học 1945 -1975, ba thể loại
chính có nhiều thành tựu hơn cả là ký, truyện ngắn và tiểu thuyết. Trong
các công trình nghiên cứu văn học sử và các tập tiểu luận phê bình, các
tác giả, tác phẩm tùy bút tiêu biểu ở giai đoạn này cũng thường được đề
cập như những đóng góp đầy ý nghĩa cho nền văn học dân tộc.
* Nhìn chung, đóng góp của thể loại tùy bút để làm nên sự phong phú và
đa dạng cho diện mạo văn xuôi Việt Nam hiện đại, nhất là trong khoảng
thời gian từ 1930 đến 1975, đã được thừa nhận. Tuy nhiên, từ thực tế
nghiên cứu có thể nhận ra không ít điểm chưa thỏa đáng, cần khảo sát
tường tận hơn. Thứ nhất, mặc dù không thể phủ nhận mối liên hệ phái
sinh với thể loại ký, nhưng rất cần phải tách ra, xem xét tùy bút như một
thể loại độc lập. Chỉ khi nào những thành tựu của tùy bút được xếp theo
một hệ thống riêng thì lúc đó mới có đủ cơ sở để rút ra những nhận định
xác đáng về quy luật vận động, phát triển và đặc điểm của thể loại. Thứ
hai, bao giờ cũng vậy, nói đến tùy bút Việt Nam, người ta nghĩ ngay tới
Nguyễn Tuân. Sáng tác của Nguyễn Tuân được xem là đỉnh cao, là mẫu
mực cho thể loại tùy bút. Điều này đúng, nhưng chưa đủ. Một mình cụ
Nguyễn, dù tài ba và uyên bác đến đâu, cũng khó lòng dựng lên một lâu
đài tùy bút nguy nga trong văn học hiện đại như thế. Do đó, cần phải ghi

Viết thuê
luận
Page
8 ofvăn
26 thạc sĩ
[email protected] - 0972.162.399


7


(23 trang)

* CHƯƠNG 1: Những vấn đề lý thuyết về thể loại tùy bút (29 trang)
* CHƯƠNG 2: Quá trình phát triển của tùy bút Việt Nam
từ 1930 đến 1975

(77 trang)

* CHƯƠNG 3: Đặc điểm của tùy bút Việt Nam
từ 1930 đến 1975
* KẾT LUẬN (4 trang);

(65 trang)
PHỤ LỤC

Viết thuê
luận
Page
9 ofvăn
26 thạc sĩ
[email protected] - 0972.162.399

(14 trang)


8
* TÀI LIỆU THAM KHẢO (234 tài liệu);

PHỤ CHÚ

1.1.4. Cần phải hiểu tùy bút như một khái niệm mang nội hàm bao gồm
hai bình diện ý nghĩa: một thuật ngữ để chỉ cách viết có tính thẩm mỹ,
một kiểu bút pháp phóng túng, linh hoạt xuất hiện trong văn xuôi ở nhiều
lĩnh vực khác nhau; một thể loại văn học đã ra đời và có những bước phát
triển mạnh mẽ trong thời hiện đại.
1.2. Xác định loại của tùy bút

Viết thuê
luận
văn
Page
10 of
26thạc sĩ
[email protected] - 0972.162.399


9
1.2.1. Hiện nay, việc xác định loại của tùy bút vẫn chưa có được sự nhất
trí cần thiết. Hầu hết các ý kiến đều lệch về hai phía: hoặc coi tùy bút là
một tiểu loại giàu chất trữ tình nhất của ký (biến thể của loại tự sự), hoặc
khẳng định dứt khốt rằng thể loại tùy bút thuộc loại trữ tình. Rõ ràng, việc
xếp dứt khốt tùy bút vào một trong hai loại: tự sự hoặc trữ tình, xét một
cách tồn diện, đều là chưa thỏa đáng.
1.2.2. Vậy thì thể loại tùy bút nằm ở đâu trong hệ thống phân loại văn
học truyền thống? Có lẽ đặt nó ở vị trí trung gian giữa loại tự sự và loại
trữ tình là phù hợp hơn cả. Sáng tác văn chương, từ trong bản chất, là một
hình thức giao tiếp thẩm mỹ vừa mang ý nghĩa xã hội vừa có thuộc tính
tự nhiên. Mà trong thế giới tự nhiên đa dạng thì những hiện tượng lai
ghép, lưỡng tính luôn tồn tại như một thực tế không thể phủ nhận.
1.3. Đặc điểm của thể loại tùy bút

luận
văn
Page
11 of
26thạc sĩ
[email protected] - 0972.162.399


10
hồn cảnh chiến tranh thường lấy cảm hứng anh hùng làm cảm hứng chủ
đạo. Ngồi ra, các dạng cảm hứng như châm biếm, trữ tình, hài hước,... ở
mức độ khác nhau, cũng đều xuất hiện trong tác phẩm tùy bút, góp phần
tạo nên sự phong phú, đa dạng của cảm hứng và tình điệu thẩm mỹ.
1.3.3.

Lời văn, giọng điệu

Lời văn, giọng điệu của tùy bút bao giờ cũng uyển chuyển, linh
hoạt, có sự hài hòa giữa chất thơ với chất trần thuật. Lời văn tùy bút
thường rất đẹp, vì được trau chuốt bằng cả một “tử công phu” (chữ dùng
của Nguyễn Tuân). Người viết tùy bút phải là “nghệ sĩ ngôn từ bậc thầy”
thì mới đủ sức làm thăng hoa những vẻ đẹp tiềm ẩn của ngôn từ nghệ
thuật. Trong tùy bút, dạng lời văn gián tiếp của người trần thuật luôn xuất
hiện với tần số cao nên độc thoại là hình thức giao tiếp chiếm ưu thế. Tùy
bút thường có giọng chậm rãi, như thủ thỉ tâm tình. Nhân vật xưng tôi người trần thuật trữ tình - quán xuyến tồn bộ tác phẩm, dù không phải lúc
nào cũng xuất hiện trực tiếp.
1.3.4.

Kết cấu



11
tình. Ngồi ra, dung lượng cũng là một căn cứ về hình thức có ý nghĩa góp
phần phân định các dạng của thể loại tùy bút.
1.4.1. Nếu khảo sát từ phương diện tự sự, có thể phân loại tùy bút dựa
trên sự khác biệt về đề tài. Căn cứ vào tiêu chí này, nhóm tùy bút tự sự
gồm các dạng cụ thể như: tùy bút văn hóa, tùy bút phong cảnh thiên
nhiên, tùy bút chiến tranh, tùy bút lịch sử, tùy bút chính trị,... Các dạng
tùy bút này, cùng với đặc điểm về đề tài, còn mang những nét riêng về
không gian, thời gian nghệ thuật, về giọng điệu trần thuật, về mối quan hệ
giữa tả và kể. Chúng tôi chọn sự khác nhau về đề tài làm căn cứ phân loại
cho nhóm tùy bút tự sự vì đây là tiêu chí nổi trội, có khả năng bao quát
đối tượng trong tính đa dạng và phong phú của nó.
1.4.2. Nếu tiếp cận tùy bút từ phương diện trữ tình thì có thể lấy cảm
hứng làm tiêu chí cơ bản để phân loại. Dựa trên tiêu chí cảm hứng sáng
tác, có thể phân nhóm tùy bút trữ tình thành các dạng như sau: tùy bút
lãng mạn, tùy bút anh hùng, tùy bút thế sự, tùy bút bi kịch, tùy bút châm
biếm,… Tất nhiên, cảm hứng sáng tác không phải là căn cứ duy nhất để
phân loại nhóm tùy bút trữ tình; còn phải tính đến các yếu tố khác như
nhân vật trữ tình, ngôi trữ tình, phương thức trữ tình. Tuy nhiên, sự khác
biệt trong cảm hứng sáng tác giữa các dạng thuộc nhóm tùy bút trữ tình là
rõ nét hơn cả, vì vậy lấy cảm hứng làm tiêu chí phân định là thỏa đáng.
1.4.3. Sự khác biệt về dung lượng là một tiêu chí hình thức dựa vào đó
có thể phân loại tùy bút thành các kiểu: đoản thiên tùy bút, trung thiên tùy
bút, trường thiên tùy bút. Tạp bút, tạp văn là một dạng biến thể, mang
đầy đủ đặc điểm của đoản thiên tùy bút, vừa đủ để diễn tả gọn ghẽ một
tình huống và bộc lộ một cách đơn tuyến mạch suy tư, xúc cảm của chủ
thể trữ tình.
1.5. Phân biệt tùy bút với bút ký và thơ văn xuôi
1.5.1. Bút ký là một thể loại khá gần gũi với tùy bút. Chung gốc gác từ

cách điệu, lý tưởng vì đã khúc xạ, thăng hoa hồn tồn qua lăng kính chủ
quan của thi nhân. Còn trong tùy bút, chất liệu để làm nền cho mạch xúc
cảm cần có độ tươi nguyên của hiện thực. Tùy bút đa phần sử dụng lớp
nghĩa tường minh của ngôn từ, trong khi thơ văn xuôi lại phát huy tối đa
những nét nghĩa hàm ẩn. Suy đến cùng, phân biệt tùy bút với thơ văn xuôi
chính là phân biệt giữa một thể văn xuôi giàu chất thơ với một thể thơ có
hình thức biểu hiện gần như văn xuôi.
CHƯƠNG 2

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TÙY BÚT VIỆT NAM
TỪ 1930 ĐẾN 1975
2.1. Sự hình thành thể loại tùy bút trong văn học Việt Nam
trước 1930
2.1.1. Sự hình thành thể loại tùy bút trong văn học trung đại
Có thể khẳng định ngay rằng trên phương diện lý thuyết, chưa có
sự tồn tại của thể loại tùy bút với đầy đủ những nét đặc trưng nghệ thuật
như ngày nay, trong văn xuôi Việt Nam thời trung đại. Bởi hồn cảnh lịch
sử và cơ sở tâm lý xã hội lúc bấy giờ ưu tiên hơn cho loại văn chương phi
ngã. Cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ phát huy nhiều hơn ở bình diện
nghệ thuật thể hiện, còn nội dung tư tưởng, cảm xúc thì phần lớn phải
phục tùng những quy phạm của lễ giáo phong kiến. Văn chương đáng thờ
trước hết là phương tiện để tải đạo, nghĩa là nhằm phụng sự cho việc duy
trì những chuẩn mực đạo đức bất di bất dịch. Mặc dù đã thấy xuất hiện
những tác phẩm mang đặc điểm của tùy bút càng lúc càng rõ nét, nhất là ở
giai đoạn cuối, khi nhu cầu khẳng định ý thức cá nhân được làn gió Tây

Viết thuê
luận
văn
Page

góp phần khẳng định vị trí quan trọng của cái tôi cá nhân trong đời sống
tinh thần con người Việt Nam thời hiện đại. Hai ngòi bút chủ lực ở giai
đoạn này là Nguyễn Tuân và Thạch Lam. Ngồi ra, còn phải kể đến Xuân
Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Lư Khê, Đinh Gia Trinh…Tuy viết
không nhiều nhưng đóng góp của họ đối với sự phát triển của thể loại tùy
bút ở thời kỳ đầu là thực sự có ý nghĩa. Qua các tác phẩm tiêu biểu (Tùy
bút I, Chiếc lư đồng mắt cua, Hà Nội băm sáu phố phường, Phấn thông
vàng, Trường ca, Vàng sao, Chơi giữa mùa trăng, Phút thốt trần, Hồi
vọng của lý trí), những nét cơ bản của diện mạo thể loại tùy bút hiện đại
đã định hình.
2.2.2. Từ 1945 đến 1975

Viết thuê
luận
văn
Page
15 of
26thạc sĩ
[email protected] - 0972.162.399


14
Giai đoạn 1945 - 1975 đã ghi nhận bước phát triển đáng kể của
thể loại tùy bút. Đề tài sáng tác phong phú, bút pháp đa dạng và đội ngũ
sáng tác đông đảo hơn. Hiện thực khốc liệt của 30 năm chiến tranh vệ
quốc lại chính là hồn cảnh để nảy sinh, thử thách và khẳng định biết bao
giá trị có ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong các mối quan hệ xã hội (giữa cá
nhân với cộng đồng, giữa dân tộc với thời đại, giữa chính nghĩa với phi
nghĩa). Chính cái thế giới tâm hồn mênh mông thẳm sâu của con người
Việt Nam trong thử thách hiểm nghèo của lịch sử là mảnh đất màu mỡ, là

Viết thuê
luận
văn
Page
16 of
26thạc sĩ
[email protected] - 0972.162.399


15
Ở phần này, chúng tôi lần lượt trình bày những tác gia, tác phẩm
tiêu biểu, góp phần làm nên thành tựu của thể loại tùy bút Việt Nam từ
1930 đến 1975. Với vai trò và vị trí đặc biệt, tác gia Nguyễn Tuân được
ưu tiên hơn cả, Năm tác gia còn lại được điểm sơ lược về quá trình sáng
tác và những nét chính phong cách nghệ thuật. Trong khi khảo sát những
tác phẩm cụ thể, Luận án tập trung phân tích, chứng minh để làm nổi bật
cái hay, cái đẹp về nội dung tư tưởng và nghệ thuật thể hiện.
Các vấn đề được xếp theo trình tự thời gian để đảm bảo tính khách
quan khoa học và tránh phải làm công việc phân định thứ bậc một cách
không cần thiết. Số lượng tác gia, tác phẩm được chọn để giới thiệu có
thể nhiều hơn, nhưng quan điểm của chúng tôi là cần dành ưu tiên cho
những đóng góp nổi bật. Phần còn lại sẽ được điểm qua trong Danh mục
các tác phẩm tùy bút từ 1930 đến 1975, ở phụ lục của Luận án.
2.3.1.

Nguyễn Tuân – người viết tùy bút số một

2.3.2.

Thạch Lam với Hà Nội băm sáu phố phường

phát huy vốn văn hóa dân tộc, tránh những biểu hiện lai căng, xu thời,

Viết thuê
luận
văn
Page
17 of
26thạc sĩ
[email protected] - 0972.162.399


16
mất gốc - đó chính là nỗi băn khoăn, trăn trở thường trực trong các tác
phẩm tùy bút giai đoạn 1930 - 1975.
3.1.2. Hiện thực 30 năm chiến tranh vệ quốc bi hùng cũng là một mảng
đề tài lớn của tùy bút Việt Nam từ 1930 đến 1975. Không chú tâm vẽ
những bức hồnh tráng về các chiến dịch, về những trận đánh hoặc khắc
họa chân dung những người anh hùng hiên ngang trên chiến trận, tùy bút
về mảng đề tài này ghi lại một cách chân thực và sinh động hiện thực tâm
hồn của con người Việt Nam trong giai đoạn lịch sử đau thương mà vô
cùng anh dũng. Trong bản hợp xướng bi hùng của văn chương thời chiến
tranh, tùy bút là dấu lặng, nốt trầm, không sôi nổi vút lên mà điềm tĩnh
lắng sâu để gợi nhiều hơn tả, nghĩ nhiều hơn kể và cảm nhiều hơn nhận
biết. Do vậy, nó góp phần quan trọng để làm cân bằng và đa dạng hơn
phương thức phản ánh cuộc sống của cả nền văn học.
3.2. Sự đa dạng của cảm hứng
Cảm hứng đóng vai trò quyết định trong tùy bút - một thể loại văn
xuôi đậm đà chất trữ tình và giàu chất thơ. Những thiên tùy bút đặc sắc
bao giờ cũng được viết ra bằng cảm hứng mãnh liệt và chân thành.
Không có cảm hứng hoặc cảm hứng giả, gượng, thì không thể có tùy bút

đường và những biến cố của lịch sử.
3.2.2. Cảm hứng lãng mạn
Cảm hứng lãng mạn hiện diện thường trực trong hầu hết các tác
phẩm tùy bút từ 1930 đến 1975, góp phần làm nên một nét tư tưởng nghệ
thuật đặc thù. Nó nâng đỡ và thanh lọc tâm hồn, tiếp thêm nghị lực và
củng cố niềm tin, giúp con người Việt Nam vượt qua những thử thách
khắc nghiệt của lịch sử. Trước hết, cảm hứng lãng mạn được biểu hiện
qua cách nghĩ có hậu về cuộc đời (tùy bút không có cốt truyện nên không
có kiểu kết thúc có hậu). Kiểu bút pháp thích hợp để cụ thể hóa cảm hứng
lãng mạn qua những hình tượng nghệ thuật sinh động là bút pháp thi vị
hóa, biểu hiện ở khuynh hướng cường điệu, phóng đại nhằm tạo nên ấn
tượng sâu đậm về những điều lớn lao, cao cả hoặc những trạng thái cảm
xúc mãnh liệt, những khát vọng cháy bỏng. Cảm hứng lãng mạn còn
được tô đậm bằng việc sử dụng thủ pháp nghệ thuật tương phản, đối lập
để làm nổi bật lên những vẻ đẹp phi thường.
3.2.3. Cảm hứng anh hùng
Đây cũng là một trong những dạng thức cảm hứng lớn của tùy bút
Việt Nam từ 1930 đến 1975. Biểu hiện của cảm hứng anh hùng là khẳng
định và ngợi ca, còn đối tượng của nó là những chiến công lớn lao và
những con người đã góp phần làm nên chiến công ấy. Cảm hứng anh
hùng chủ yếu hiện diện trong các tác phẩm tùy bút thời kỳ 1945 - 1975,
được biểu hiện cụ thể qua việc tập trung khẳng định ý nghĩa nhân văn cao
cả của hai cuộc chiến tranh vệ quốc và ngợi ca vẻ đẹp diệu kỳ của chủ
nghĩa anh hùng cách mạng. Trong giai đoạn đất nước bị ngoại xâm, cảm
hứng anh hùng thường mang màu sắc sử thi (Khái niệm sử thi ở đây được
hiểu theo nghĩa khuynh hướng sử thi, tầm khái quát sử thi chứ không phải
quy mô sử thi). Cảm hứng anh hùng góp phần quan trọng làm nên âm
hưởng sử thi ở các tác phẩm tùy bút, truyền đến cho người đọc niềm tự
hào mãnh liệt về truyền thống vẻ vang của dân tộc, về tư thế hào hùng
của con người Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

với nhau.
3.3. Dung hợp cả hai loại nhân vật: nhân vật trữ tình
và nhân vật tự sự - trữ tình
Tính chất trung gian, lưỡng hợp giữa tự sự với trữ tình đã tạo nên
nét đặc thù về phương diện nhân vật ở thể loại tùy bút. Trong tùy bút Việt
Nam 1930 – 1975, ngồi nhân vật trữ tình, còn xuất hiện thêm một loại
nhân vật đặc biệt nữa: nhân vật tự sự - trữ tình. Đó là loại nhân vật trung
gian, tuy được khắc họa bằng bút pháp tự sự nhưng lại nhằm phục vụ cho
mục đích trữ tình.
3.3.1. Có thể bắt gặp phổ biến nhất là loại nhân vật trữ tình, bởi cái mạch
cảm xúc chính trong tùy bút luôn là trữ tình, là tự thuật tâm trạng. Tồn bộ
thế giới tinh thần và đời sống tình cảm của người nghệ sĩ đều được giãi
bày thông qua nhân vật trữ tình. Nhân vật trữ tình là một thực thể vừa
mang dấu ấn sáng tạo của cá nhân vừa chịu sự tác động của hồn cảnh lịch
sử - xã hội cụ thể. Mặc dù đôi khi có đề cập đến chuyện thế sự nhưng thay
vì mở rộng tầm nhìn ra cõi nhân sinh rộng lớn, người viết tùy bút có
khuynh hướng lắng sâu vào cõi lòng để tự phát hiện, phân tích, đánh giá.
3.3.2. Loại nhân vật tự sự - trữ tình tuy xuất hiện không phổ biến nhưng
cũng góp phần làm nên diện mạo riêng của tùy bút. Trong khi ưu tiên bộc
lộ mạch cảm xúc và quan điểm của cái tôi chủ quan, người viết tùy bút
thường có khuynh hướng lướt qua những cảnh đời, những số phận khác.
Đôi khi đối tượng trữ tình lại chính là những con người hoặc những sự

Viết thuê
luận
văn
Page
20 of
26thạc sĩ
[email protected] - 0972.162.399

giọng tâm tình nhỏ nhẹ, hiền lành mà rất đỗi cương quyết, dứt khốt của
Nguyễn Thi; giọng sử thi mạnh mẽ, quyết liệt của Khánh Vân; giọng bình
dị, ngọt ngào, sâu nghĩa nặng tình của Đặng Văn Nhưng, v.v…
3.4.2. Tính phức hợp trong giọng điệu
Tính phức hợp trong giọng điệu đã góp phần làm nên những trang
tùy bút đặc sắc, có sức sống lâu bền. Trong tùy bút giai đoạn 1930 –
1975, luôn có sự đan xen, hòa hợp của nhiều sắc thái giọng điệu khác

Viết thuê
luận
văn
Page
21 of
26thạc sĩ
[email protected] - 0972.162.399


20
nhau như giọng anh hùng ca, giọng trầm tư - suy tưởng, giọng kể chuyện,
giọng tâm tình, giọng châm biếm, v.v… Tính chất phức điệu ấy không
chỉ có ở phong cách riêng của mỗi nhà văn mà còn được thể hiện qua
từng tác phẩm, từng mảng sáng tác cụ thể.
3.5. Kết cấu tự do theo mạch cảm xúc
Kết cấu là một trong những phương diện thể hiện rõ tính chất tự do,
linh hoạt của thể loại tùy bút. Không có khuôn mẫu hay chuẩn mực nào
cả, mỗi tác phẩm tùy bút mang một kiểu kết cấu riêng, phù hợp với mạch
cảm xúc chủ đạo và yêu cầu bộc lộ tư tưởng của người nghệ sĩ.

3.5.1. Kết cấu tự do
Tùy bút thường bắt đầu bằng việc nhắc lại một kỷ niệm, kể lại một

Page
22 of
26thạc sĩ
[email protected] - 0972.162.399


21
những phong cách tùy bút độc đáo. Sức hấp dẫn của các tác phẩm tùy bút
không chỉ tốt ra từ cái mạch tự sự - trữ tình dào dạt, đắm say mà còn
được thể hiện qua một cách viết đẹp, mang đậm màu sắc văn hóa.
3.6.1. Vẻ đẹp của từ ngữ
Vẻ đẹp của từ ngữ được sử dụng trong tùy bút biểu hiện trước hết ở
sự phong phú, linh hoạt và giàu sức gợi hình, gợi cảm. Do sự chi phối của
đặc điểm loại hình (loại tự sự - trữ tình) nên trong các tác phẩm tùy bút
thường có hai lớp từ chủ yếu: lớp từ để miêu tả, thuật sự và lớp từ để trực
tiếp bộc lộ tư tưởng, cảm xúc. Mức độ hòa hợp và tỉ lệ giữa hai lớp từ này
cũng là yếu tố góp phần làm nên nét độc đáo ở mỗi tác giả, tác phẩm. Sự
kết hợp giữa hai lớp từ mang sắc thái biểu đạt khác nhau trong tùy bút
thường không ổn định mà chỉ có ý nghĩa tương đối, định tính, tùy thuộc
vào nhiều yếu tố, cả khách quan lẫn chủ quan, như phong cách, bút pháp,
đề tài, chủ đề, hồn cảnh sáng tác (Trong tùy bút Nguyễn Tuân, lớp từ thứ
nhất được sử dụng ở tần số cao hơn nên mang nhiều yếu tố truyện và đậm
tính chất ký. Ở tùy bút Thạch Lam, lớp từ có liên quan đến những trạng
thái suy tư, những cung bậc tình cảm chiếm ưu thế; theo đó, chất trữ tình
đậm đà hơn).
3.6.2. Cách sử dụng từ ngữ đầy sáng tạo
Một đặc điểm nổi bật của tùy bút Việt Nam giai đoạn 1930 - 1975
là ngôn ngữ mang đậm dấu ấn sáng tạo của mỗi nhà văn. Đây vừa là
phẩm chất nghệ thuật vừa là yêu cầu cốt tử đối với thể loại tùy bút, bởi
tùy bút là vương quốc của cái tôi, ở đó đòi hỏi nhà văn phải bộc lộ năng

tùy bút. Nhịp điệu được tạo ra chủ yếu từ cách ngắt nhịp, gieo vần và
phối âm, phối thanh. Nhưng nhịp điệu không đơn thuần chỉ mang ý nghĩa
như kỹ thuật, kỹ xảo, nó còn bắt nguồn sâu xa từ vẻ đẹp tâm hồn và đời
sống tình cảm chân thành, thiết tha của người nghệ sĩ đối với cuộc sống.

KẾT LUẬN
1.
Tùy bút là một thể loại văn xuôi góp phần quan trọng làm nên sự
phong phú, đa dạng của văn học Việt Nam hiện đại. Với những nét độc
đáo về loại hình và đặc trưng nghệ thuật, tùy bút tồn tại như một đối
tượng thẩm mỹ vừa lung linh kỳ ảo vừa gần gũi, gợi cảm, luôn có sức hấp
dẫn và mời gọi sự khám phá, đồng sáng tạo. Là một thể loại văn xuôi
phái sinh từ ký, tùy bút đã dần dần tách hẳn ra thành một thể loại độc lập,
mang những đặc điểm riêng biệt. Trong tùy bút, cái tôi cá nhân độc đáo
của người nghệ sĩ vừa là yêu cầu tiên quyết vừa là phẩm chất nghệ thuật
mang tính đặc thù. Yếu tố trữ tình chiếm ưu thế, tạo thành mạch chủ đạo,
ưu trội. Sự kết hợp giữa tự sự với trữ tình hồn tồn không đơn thuần là vấn
đề kỹ thuật và không tuân theo một nguyên tắc có tính định lượng nào.
Nó là một thuộc tính có nguồn gốc từ trong cảm hứng và tư tưởng nghệ
thuật, như quy luật tự nhiên của sự sáng tạo. Do vậy, về phương diện loại
hình, xếp tùy bút vào loại tự sự - trữ tình là thỏa đáng hơn cả. Tính chất
trung gian, lai ghép có ảnh hưởng quyết định đến hầu hết những bình
diện nội dung và nghệ thuật của tùy bút, tạo nên nét riêng mang tính khu
biệt, giúp phân định ranh giới giữa nó với các thể loại văn xuôi nghệ
thuật khác.
Căn cứ vào đặc trưng loại hình của thể loại, có thể khảo sát tùy bút
theo ba nhóm lớn: nhóm tùy bút tự sự, nhóm tùy bút trữ tình và nhóm tùy
bút tự sự - trữ tình. Ở cấp độ tiếp theo, dựa vào những tiêu chí cụ thể
(tiêu chí đề tài, tiêu chí cảm hứng, tiêu chí dung lượng…), có thể chia
mỗi nhóm thành các dạng tùy bút khác nhau.

sâu sắc và diễn tả tài tình những rung động chân thành trong tâm hồn con
người. Nhân vật trữ tình hiện diện thường trực, giữ vai trò chính trong
việc bày tỏ tư tưởng nghệ thuật và cảm xúc chủ đạo. Đôi khi, chân dung
nhân vật trữ tình lại được khắc họa bằng bút pháp tự sự (có ngoại hình,
tính cách, ngôn ngữ). Kiểu nhân vật tự sự - trữ tình đã góp phần làm nên
nét độc đáo cho tùy bút - một thể loại không thuần chủng. Các dạng thức
cảm hứng nổi bật hơn cả trong tùy bút giai đoạn 1930 - 1975 là cảm hứng
dân tộc - lịch sử, cảm hứng lãng mạn, cảm hứng anh hùng và cảm hứng
trữ tình. Tùy bút không dung hợp được sự bốc đồng, cực đoan hoặc cao
hứng thái quá, nên nó thường có giọng trầm lắng, trĩu nặng ưu tư, bồi hồi
cảm xúc. Âm hưởng của tùy bút, vì thế, ít vang xa mà vọng sâu, có khả
năng khơi gợi những tình cảm đẹp đẽ và đánh thức những rung động tinh
tế trong tâm hồn con người. Lời văn tùy bút giàu vẻ đẹp, giàu chất thơ và
in rõ dấu ấn cá tính sáng tạo của mỗi nghệ sĩ.
4.
Tùy bút là thể loại rất kén tác giả. Sáng tác tùy bút là chấp nhận
đương đầu với thử thách, với sự chọn lọc nghiệt ngã của nghề nghiệp, nên
rất hiếm người gắn bó dài lâu với nó. Sẽ không có tùy bút hay nếu nhà
văn chưa đạt đến độ căng tràn về vốn sống, thăng hoa về trí tuệ và chân
thành, tha thiết đến hồn nhiên trong cảm xúc. Tùy bút như một thứ đặc sản
quý hiếm trong nền văn học, là lõi trầm kết tụ tự nhiên, không sản xuất
đại trà được. Đội ngũ sáng tác tùy bút tuy không đông về số lượng nhưng
gồm những nhà văn có tay nghề vững vàng, có năng lực sáng tạo ngôn
ngữ, có cá tính, tư tưởng và phong cách nghệ thuật độc đáo. Trong số đó,
với sự nghiệp sáng tác đồ sộ, Nguyễn Tuân hồn tồn xứng đáng ở ngôi vị
hàng đầu. Ông là người khai sinh và góp công sức lớn nhất vào quá trình

Viết thuê
luận
văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status