Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Uyên - Lớp KTNN51C
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào thị trường thế giới
như hiện nay, thì tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế hầu như đều bị cuốn vào
vòng xoáy của nó và có mối liên hệ qua lại ảnh hưởng lẫn nhau. Xu hướng
phát triển mạnh và nhanh nhất hiện nay ở hầu hết các nước là trong lĩnh vực
công nghiệp. Khi công nghiệp phát triển kéo theo quá trình công nghiệp hóa đô thị hóa (CNH - ĐTH) làm diện tích đất nông nghiệp ngày một thu hẹp và
gây sức ép đến sản xuất nông nghiệp nói chung và rau an toàn (RAT) nói
riêng. Mà rau là sản phẩm giầu Vitamin và không thể thiếu trong mỗi bữa ăn
hàng ngày của người dân. Khi cuộc sống của người dân ngày càng được nâng
cao thì nhu cầu về những sản phẩm sạch lại càng được coi trọng. Chính xuất
phát từ nhu cầu đó mà rau sạch đã được trồng ở các khu vực ngoại thành Hà
Nội từ năm 1996. Đặc biệt diện tích trồng RAT phát triển mạnh từ sau năm
1999 khi thành phố có chủ trương phát triển vùng sản xuất RAT để cung cấp
cho các quận nội thành. Một số xã như Văn Đức, Đặng Xá thuộc huyện Gia
Lâm, xã Vân Nội - Đông Anh, xã Lĩnh Nam -Thanh Trì và xã Thanh Xuân,
Đông Xuân thuộc huyện Sóc Sơn được chọn làm điểm sản xuất thí điểm,
cũng nhờ các chủ trương này mà diện tích trồng rau đã tăng lên đáng kể.
Hà Nội là một trong những địa bàn có nhu cầu cũng như cung cấp sản
lượng RAT lớn nhất khu vực phía Bắc. Để đảm bảo nhu cầu rau sạch cho
người dân thành phố vừa qua UBND TP Hà Nội đã ban hành quyết định về
việc phê duyệt đề án sản xuất và tiêu thụ RAT giai đoạn 2009-2015 với tổng
kinh phí hơn bảy nghìn tỷ đồng. Mục tiêu của đề án là phát huy tối đa lợi thế
và nguồn lực, tập trung chỉ đạo nhằm hình thành và phát triển các vùng
chuyên canh sản xuất RAT đáp ứng nhu cầu của nhân dân thành phố, bảo vệ
sức khỏe người tiêu dùng. Ðến năm 2015, Hà Nội sẽ mở rộng phát triển diện
ngày 24 tháng 6 năm 2002 về tăng cường liên kết và khuyến khích tiêu thụ
sản phẩm nông nghiệp qua hợp đồng với sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua
các chính sách ưu đãi và sự tham gia của nhà khoa học trong nghiên cứu
chuyển giao công nghệ (còn được gọi là chủ trương liên kết bốn nhà). Quyết
định 106/QĐ-BNN quy định về quản lý sản xuất và kinh doanh RAT. Đây là
2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Uyên - Lớp KTNN51C
những chủ trương rất đúng và hay nhưng việc thực hiện nó còn gặp nhiều bất
cập và khó khăn. Mà hiện nay muốn phát triển nông nghiệp sạch theo hướng
hàng hóa thì cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các bên từ khâu sản xuất,
tiêu thụ đến quản lý chất lượng sản phẩm. Có như vậy thì nền nông nghiệp
mới phát triển bền vững và có chỗ đứng trên thị trường trong nước và thế
giới. Nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng liên kết bốn nhà
trong sản xuất và tiêu thụ rau cải bắp tại xã Văn Đức - Gia Lâm - Hà
Nội”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng việc liên kết giữa bốn nhà trong sản xuất và tiêu
thụ rau cải bắp tại xã Văn Đức - Gia Lâm - Hà Nội. Từ đó đề xuất giải pháp
nhằm tăng cường mối liên kết bốn nhà làm cho việc sản xuất và tiêu thụ rau
cải bắp nói riêng và RAT nói chung ngày một phát triển.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tà nghiên cứu.
Nghiên cứu thực trạng sản xuất và tiêu thụ RAT nói chung tại xã.
Về thời gian:
+ Thu thập số liếu từ năm 2007 - 2009 chủ yếu là năm 2009
+ Thời gian thực tập từ 1/2010 - 5/2010
4
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Uyên - Lớp KTNN51C
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
2.1.1 Lý thuyết về liên kết
2.1.1.1 Khái niệm liên kết
Liên kết kinh tế là tình huống khi mà các khu vực khác nhau của nền
kinnh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp
với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá
trình phát triển. Điều này thường đi kèm với sự tăng trưởng bền vững.
Theo Trần Văn Hiếu “liên kết kinh tế là quá trình xâm nhập phối hợp
với nhau trong sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế dưới hình thức tự
nguyện nhắm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi nhất trong
khuôn khổ luật pháp, thông qua hợp đồng kinh tế để khai thác tốt các tiềm
năng của các chủ thể tham gia liên kết. Liên kết kinh tế có thể tiến hành theo
chiều dọc hoặc chiều ngang, trong nội bộ ngành hoặc giữa các ngành, một
quốc gia hay nhiều quốc gia, trên phạm vi khu vực và quốc tế” ( Trần Văn
Hiếu, 2005, liên kết giữa các hộ nông dân với các doanh nghiệp nhà nước,
LSTSKT, Bộ GD&ĐT, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội).
Còn theo từ điển ngôn ngữ học (1992) thì: “Liên kêt” là kết lại với
nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ.
mô hay lọai hình sở hữu. Mục tiêu của liên kết kinh tế là các bên tìm cách bù
đắp sự thiếu hụt của mình, từ sự phối hợp hoạt động với các đối tác nhằm
đem lại lợi ích cho các bên.
2.1.1.2 Nội dung của liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ rau
* Hoạt động liên kết
Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có rất nhiều các hoạt
động, từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm cuối cùng. Trong mỗi một
hoạt động nó thể hiện sự quan tâm của các đối tác tham gia liên kết trong
hoạt động nào.
Có các hoạt động liên kết: Liên kết trong việc mua bán nguyên liệu
đầu vào cho quá trình sản xuất như (giống, phân bón, thuốc trừ sâu…), liên
kết trong việc chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật như (các giống mới, kỹ
thuật chăm sóc mới, hay công thức luân canh cây trồng mới…), liên kết trong
việc chế biến sản phẩm hay liên kết trong việc tiêu thụ sản phẩm.
6
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Uyên - Lớp KTNN51C
Khi có sự liên kết trong việc mua bán nguyên liệu đầu vào cho quá
trình sản xuất thì thường là sự liên kết giữa hộ nông dân với các công ty, đại
lý, cửa hàng cung cấp các đầu vào này ngay tại địa phương hay ở ngoài. Khi
hoạt động liên kết này diễn ra thì thường người nông dân có nhu cầu đảm bảo
chất lượng các đầu vào này của mình tốt, chuẩn để sản xuất, hay họ không đủ
đáp ứng về vốn để đầu tư nên họ chọn hoạt động liên kết này để như là một
hình thức vay tạm vốn bằng hiện vật để đầu tư sản xuất. Thông qua hoạt động
liên kết này thì các công ty, cửa hàng, đại lý có lợi là bán được hàng nhiều
ra giứa cơ sở chế biến với hộ nông dân thông qua một tổ chức đại diện cho
nông dân tại địa phương như HTX, tổ, đội sản xuất hay câu lạc bộ sản xuất.
Thường khi liên kết trong hoạt động nay thì yêu cầu về số lượng và chất
lượng sản phẩm cao hơn cũng như thời hạn giao hàng khắt khe hơn. Bù lại đó
thì nông dân nhận được một mức giá cao hợp lý và tiêu thụ ổn định hơn với
số lượng cũng nhiều hơn.
Hiện nay đại đa phần người nông dân muốn liên kết trong khâu tiêu
thụ sản phẩm vì mục đích cuối cùng của hộ sản xuất là làm sao bán được sản
phẩm của mình làm ra và thu được lợi nhuận càng nhiều càng tốt. Mà muốn
thu được lợi nhuận nhiều nó phụ được vào giá bán và lượng hàng mình bán ra
với độ dễ dàng hay khó khăn như thế nào. Thường khi liên kết trong tiêu thụ
thì các hộ nông dân hay liên kết với các thương lái thu gom tại địa phương,
các thương lái thu gom ở các thị trường khác, hay các cơ sở chế biến, các
doanh nghiệp ngay gần địa phương mình. Khi liên kết trong tiêu thụ thì
người nông dân sẽ an tâm để sản xuất hơn vì bán được lượng hàng thường
xuyên và ổn định còn bên mua hàng thì có được đủ số hàng mình cần ổn
định không tốn nhiều công đi thu mua.
Tùy từng nhu cầu liên kết ở mỗi địa phương mà ưu tiên các hoạt động
liên kết nào. Nhưng tốt nhất vẫn là liên kết toàn diện tất cả các hoạt động thì
sẽ có một kết quả toàn diện nhất có lợi cho tất cả các bên nhất.
* Nguyên tắc của liên kết
- Sự thỏa thuận hay cam kết của các bên trong quá trình sản xuất tiêu thụ sản phẩm, các cam kết này phải được công nhận là sự hợp tác giứa
các bên tham gia chứ không phải là quan hệ cạnh tranh hay bóc lột giữa bên
này với bên kia.
8
Khoá luận tốt nghiệp
chế biến hoặc tiêu thụ sản phẩm nông sản về việc tiêu thụ sản phẩm trong
9
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Uyên - Lớp KTNN51C
tương lai và thường với giá đặt trước”. Đây là hình thức kinh tế hợp tác trực
tiếp, quan hệ giữa hai bên bị ràng buộc bởi hợp đồng, do đó nó có tính ổn
định hơn. Quan hệ hợp tác trên cơ sở hợp đồng được thực hiện dưới hai hình
thức:
+ + Hợp đồng trên cơ sở cá nhân : Là quan hệ trực tiếp giữa người
sản xuất nông nghiệp (nông hộ, trang trại) với cơ sở chế biến được thực hiện
thông qua hợp đồng ký kết với hai bên. Các chủ thể có trách nhiệm giao nộp
sản phẩm đúng thời gian, địa điểm, số và chất lượng cho cơ sở chế biến.
Ngược lại cơ sở chế biến có trách nhiệm nhận nông sản và thanh toán hợp
đồng cho bên kia. Bên nào vi phạm sẽ có trách nhiệm bồi thường theo thỏa
thuận.
+ + Hợp đồng trên cơ sở nhóm: Có hai dạng
Dạng thứ nhất: Hợp tác thông qua hiệp hội, hiệp hội là tập hợp các
nhà sản xuất có cùng nhu cầu trong tiêu thụ sản phẩm của quá trình sản xuất
nông nghiệp trên thị trường. Hiệp hội thay mặt các nhà sản xuất ký hợp đồng
chung với cơ sở chế biến về thời gian giao nộp sản phẩm, địa điểm, số và
chất lượng, giá cả cũng như phương thức thanh toán.
Dạng thứ hai:Hợp tác thông qua HTX dịch vụ. Người sản xuất có
quan hệ gián tiếp với cơ sở chế biến và quan hệ trực tiếp với HTX dịch vụ.
HTX thay mặt người sản xuất ký hợp đồng với cơ sở chế biến, trực tiếp thanh
toán, nhận, trả với cơ sở chế biến sau đó thanh toán cho từng cơ sở sản xuất
hoặc từng hộ nông dân.
phân tán rủi ro bằng cách mời gọi các doanh nghiệp khác cùng tham gia thực
hiện dự án, mỗi doanh nghiệp đảm nhận một phần công việc tùy theo năng
lực của từng doanh nghiệp. Như vậy mối doanh nghiệp tham gia dự án chỉ
phải chịu một phần rủi ro nếu có. Ở một khía cạnh khác nếu hai doanh nghiệp
trước đây là đối thủ của nhau, cạnh tranh nhau trên cùng một loại sản phẩm,
trong cùng một thị trường. Đến nay để giảm thiểu rủi ro cạnh tranh họ liên
kết lại để cùng thỏa hiệp phân chia thị trường, kể cả việc sáp nhập để tạo nên
độc quyền.
Như vậy nhà nước cần khuyến khích các cơ sở đầu tư mở rộng sản
xuất kinh doanh, hợp tác sản xuất kinh doanh nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao
và phục vụ nhu cầu đa dạng của xã hội. Nhưng mặt khác, nhà nước cúng phải
có giải pháp chính sách quản lý vĩ mô nhằm hạn chế độc quyền dẫn đến lũng
11
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Uyên - Lớp KTNN51C
đoạn thị trường và lũng đoạn nền kinh tế, ảnh hường nghiêm trọng đến đời
sống của dân cư.
2.1.1.4 Các yếu ảnh hưởng tới mối liên kết bốn nhà
* Các yếu tố từ hộ sản xuất
Đối với người sản xuất do trình độ hiểu biết còn hạn chế về liên kết,
về hợp đồng, trách nhiệm trong liên kết, họ chỉ nhìn những cái lợi trước mắt
mà không nhìn lâu dài. Họ sợ sự rằng buộc về mặt pháp luật khi ký kết hợp
đồng.
Một yếu tố ảnh hưởng nữa là mặc dù công ty tạo điều kiện cho người
dân sản xuất bằng cách ứng vốn, mua phân bón, chuyển giao khoa học kỹ
Chế tài mà công ty đưa ra để sử phạt các hộ phá vỡ hợp đồng có hiệu
lực chưa cao, mới chỉ dừng lại phạt tiền nên tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫn
xảy ra nhất là khi thời vụ nguyên liệu khan hiếm mà giá hơn giá thị trường.
Sự chủ động phối hợp liên kết phục vụ cho sản xuất, quy hoạch vùng
nguyên liệu của các cơ sở chế biến với cấp chính quyền địa phương, với hộ
nông dân chưa cao.
* Các yếu tố từ nhà khoa học
Sự tham gia của các nhà khoa học, nhà kỹ thuật còn hạn chế, ảnh
hưởng đến sự gắn liền đất sản xuất của hộ. Tổ chức khoa học giữ vai trò rất
quan trọng trong quá trình liên kết. Họ chính là người giúp nông dân ứng
dụng các công nghệ, kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng
giảm chi phí sản xuất, tăng giá bán và tăng sức cạnh tranh của hàng hoá. Tuy
nhiên cho đến nay, số đông các cơ quan khoa học vẫn lúng túng khi thực hiện
liên kết bốn nhà.
Vẫn còn thiếu vắng các cơ quan hay tổ chức nghiên cứu mạnh dạn
chủ động đưa định hướng liên kết thành một ưu tiên trong việc triển khai các
chương trình, dự án nghiên cứu. Ngay cả những hợp đồng được kí kết thông
qua hoạt động liên kết thì quyền lợi vật chất của các cơ quan khoa học hay
các nhà khoa học cũng chưa được xác định rõ ràng.
* Các yếu tố từ nhà nước
Tác động của chính quyền địa phương ít ảnh hưởng, sau đó vấn đề
sản xuất, thu mua các tình trạng tranh chấp xảy ra chính quyền ít có vai trò
trọng tài để giải quyết.
13
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Uyên - Lớp KTNN51C
14
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Uyên - Lớp KTNN51C
danh mục cho phép. Trong RAT còn dư lượng nhất định các chất độc hại
nhưng không đến mức ảnh hưởng tới sức khỏe của con người.
Theo tổ chức y tế thế giới, RAT phải đảm bảo được các tiêu chuẩn
nghiêm ngặt về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, kim loại nặng và
vi sinh vật trong rau phải đạt dưới mức tiêu chuẩn cho phép. Nếu vi phạm
một trong bốn tiêu chuẩn trên thì không được gọi là RAT.
RAT của Việt Nam được nói đến chủ yếu để phân biệt với rau được
canh tác bằng kỹ thuật thông thường, khó kiểm soát trên góc độ vệ sinh an
toàn thực phẩm. Ở các nước phát triển, với quy mô sản xuất rau chuẩn hóa,
với việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật kiểm soát được, vấn đề
RAT về cơ bản đã được giải quyết.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của Việt Nam đưa ra những
quy định về sản xuất RAT như sau:
Những sản phẩm rau tươi bao gồm tất cả các loại rau ăn thân, lá, củ,
hoa và quả có chất lượng đúng như đặc tính của nó, hàm lượng các hóa chất
độc và mức độ ô nhiễm các vi sinh vật gây hại ở mức tiêu chuẩn thấp cho
phép, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được coi là rau
bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là RAT.
Các chỉ tiêu đánh giá mức độ bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm của
sản phẩm rau đặt ra như sau:
- Về hình thái: Sản phẩm được thu hoạch đúng thời điểm, đúng yêu
cầu của từng loại rau, đúng độ chin kỹ thuật, không dập nát, hư thối, không
lẫn tạp, không sâu bệnh và có bao gói thích hợp.
Caroten có thể hạn chế những biến thế về ung thư phổi.
Khi lương thực và nguồn đạm động vật đã được đảm bảo thì nhu cầu
về số lượng và chất lượng rau xanh càng tăng. Người ta xem rau như một
nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Phát triển rau
có ý nghĩa lớn về kinh tế xã hội: Tạo việc làm, tận dụng lao động, đất và
nguồn tài nguyên cho hộ gia đình. Rau là cây ngắn ngày, có những loại rau
như cải canh, cải củ từ 30- 40 ngày đã cho thu hoạch, rau cải bắp từ 75-85
ngày, rau gia vị chỉ 15- 20 ngày một vụ,…Cho nên một năm có thể trồng
được từ 2-3 vụ, thậm chí 4-5 vụ. Cây rau còn là cây dễ trồng xen, trồng gối vì
vậy trồng rau tạo điều kiện tận dụng đất đai, nâng cao hệ số sử dụng đất.
Trồng rau không những tận dụng được đất đai mà còn tận dụng được
cả lao động và những tư liệu sản xuất khác. Cây rau là cây có giá trị kinh tế
16
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Uyên - Lớp KTNN51C
cao, 1ha trồng rau mang lại thu nhập gấp 2-3 lần, thậm chí có thể lên tới 4- 5
lần so với trồng lúa. Vì vậy trồng rau là nguồn tạo ra thu nhập lớn cho hộ.
Rau còn là nguồn xuất khẩu quan trọng và là nguồn nguyên liệu cho
chế biến. Sản xuất rau có ý nghĩa trong việc mở rộng quan hệ quốc tế , góp
phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế quốc dân trên con đường CNH HĐH. Sản xuất rau tạo ra những mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao
như cải bắp, cà chua, dưa chuột…, đóng góp một phần đáng kể vào sản xuất
chung của cả nước và mở rộng quan hệ quốc tế.
Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh ở
miền Bắc thích nghi cho nhiều loại rau ôn đới, nếu khai thác tốt vụ đông sẽ
có khối lượng rau lớn để xuất khẩu, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa
phương, vùng. Trong tương lai gần, ngành sản xuất rau sẽ là ngành sản xuất
vận chuyển và bảo quản.
- Sản xuất và tiêu thụ rau mang tính thời vụ do đó khả năng cung cấp
của chúng co thể dồi dào ở chính vụ nhưng lại khan hiếm ở thời điểm giáp
vụ. Nhu cầu của người tiêu dùng là bất cứ thơi điểm nào trong năm.
+ Đặc điểm riêng cho sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
- Quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt
- Yêu cầu chặt chẽ về điều kiện sản xuất (chọn đất, nước tưới, giống,
phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và tổ chức sử dụng lao động trong sản xuất) và
đặc điểm sản phẩm. Nên gây ra cho người sản xuất, người cung ứng khó chủ
động được hoàn toàn về chất lượng và số lượng rau ra thị trường. Điều này dẫn
đến sự giao động lớn về giá cả, số lượng, chất lượng rau trên thị trường.
- Tiêu dùng RAT còn phụ thuộc vào yếu tố thu nhập, tâm lý, tập quán,
thói quen người tiêu dùng.
- Hiện nay, ở nước ta nhu cầu tiêu dùng RAT đang tăng đã tạo ra thị
trường tiêu thụ RAT phát triển cả về số lượng, trủng loại và chất lượng sản phẩm.
2.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
2.2.1 Kinh nghiệm liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau ở một số nước
* Thái Lan
Là một đất nước trồng cả rau nhiệt đới và ôn đới nên có thể nói, trủng
loại rau của Thái Lan rất phong phú. Hiện nay có trên một trăm loại rau được
trồng ở Thái Lan, trong đó có 45 loại được trồng phổ biến.
Mức tiêu dùng rau bình quân tại Thái Lan là 53kg/người/năm với các
kênh tiêu thụ rau chủ yếu trên thị trường là:
18
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Uyên - Lớp KTNN51C
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Uyên - Lớp KTNN51C
nống sản giữa nông dân với các doanh nghiệp, Cục nội thương tổ chức hội
nghị với sự tham gia của người mua, người bán và các đối trọng có liên quan
đến việc ký hợp đồng. Đồng thời, hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc chấp
hành hợp đồng, hỗ trợ tài chính cho người mua đã ký hợp đồng thỏa thuận
trong trường hợp đặc biệt. Nhứng loại nông sản có khả năng ký kết hợp đồng
được xác định là cà chua, gừng, ngũ cốc non, măng tây, chôm chôm, vải, nhã,
dứa, đu đủ,…
* Ấn Độ
Mặc dù diện tích trồng rau chỉ chiếm 3,32% tổng diện tích gieo trồng
của cả nước và giao động trong khoảng từ 0,17%-13,03% ở các bang khác
nhau, nhưng Ấn Độ vẫn là nước có nhiều tiến bộ và đạt kết quả tốt trong hoạt
động sản xuất và tiêu thụ RAT.
Ở Ấn Độ hiện nay có 7 kênh tiêu thụ rau xanh nhưng trong đó, kênh
tiêu thụ có sự tham gia của HTX đóng vai trò là tác nhân trung gian được
đánh giá là kênh tiêu thụ có hiệu quả nhất: Người sản xuất – HTX tiêu thụ
RAT – người bán buôn – người bán lẻ - người tiêu dùng.
* Trung Quốc
Hợp đồng sản xuất nông nghiệp ở Trung Quốc phát triển nhanh trong
khoảng 10 năm lại đây. Theo kết quả khảo sát của Trung Quốc thì hầu hết
nông dân được phỏng vấn đồng tình với phương pháp sản xuất theo hợp đồng
và hưởng ứng cách làm này. Tuy nhiên, sản xuất theo hợp đồng có xu hướng
bỏ qua những người sản xuât nhỏ. Nông dân xác định được giá cả ổn định và
được tiếp cận thị trường như nhưng ưu điểm chính của phương pháp này để
ký hợp đồng với doanh nghiệp, trong khi đó doanh nghiệp coi việc cải tiến
Theo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), năm
2008, tổng diện tích rau của cả nước là 722 nghìn ha, năng suất trung bình đạt
159 tạ/ha với sản lượng hơn 11,4 triệu tấn. Sáu tháng đầu năm 2009, cả nước
sản xuất gần 500 nghìn ha rau, đậu các loại, trong đó Miền bắc là 240 nghìn
ha. Ðồng thời tổ chức, triển khai xây dựng một số mô hình điểm trong sản
xuất RAT theo hướng VietGAP ở Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng... Hình
thức liên kết sản xuất, tiêu thụ RAT đã có tiến bộ như liên kết thông qua hợp
đồng giữa doanh nghiệp và nhà sản xuất. Trong đó, có cam kết tiêu thụ sản
phẩm và hỗ trợ sản xuất (ứng giống, vật tư nông nghiệp hoặc xây dựng, cải
tạo một số hạng mục hạ tầng vùng trồng rau...) hoặc đơn vị sản xuất rau chủ
động hình thành thị trường thông qua việc bán hàng trực tiếp cho khách hàng
21
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Uyên - Lớp KTNN51C
qua hệ thống cửa hàng, đại lý bán lẻ.
Hiện nay, một số địa phương đang triển khai đề án quy hoạch các
vùng sản xuất RAT theo hướng dài hạn nhằm cung cấp rau tại chỗ cho nhân
dân trên địa bàn. Ðể thúc đẩy chương trình, vừa qua UBND TP Hà Nội đã
ban hành quyết định về việc phê duyệt đề án sản xuất và tiêu thụ RAT giai
đoạn 2009-2015 với tổng kinh phí hơn bảy nghìn tỷ đồng. Mục tiêu của đề án
là phát huy tối đa lợi thế và nguồn lực, tập trung chỉ đạo nhằm hình thành và
phát triển các vùng chuyên canh sản xuất RAT đáp ứng nhu cầu của nhân dân
thành phố, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Ðến năm 2015, Hà Nội sẽ mở
rộng phát triển diện tích RAT ở các vùng sản xuất tập trung, phấn đấu đưa
tổng diện tích đạt 5.000 đến 5.500 ha với năng suất trung bình 20 tấn/ha/vụ,
sản lượng đạt hơn 320 nghìn tấn/năm và có khả năng đáp ứng 35% nhu cầu
Nguyên nhân của tình trạng trên là do sản xuất rau chủ yếu là nhỏ lẻ, phân
tán; đa số các vùng trồng RAT chưa được đầu tư về hệ thống giao thông, thủy
lợi. Việc sản xuất rau chưa được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo sát sao;
vấn đề tiêu thụ sản phẩm chưa được gắn với sản xuất; chưa hình thành các
liên kết bền chặt giữa người sản xuất và người tiêu dùng; thị trường đầu ra
cho sản phẩm RAT chưa ổn định; việc xây dựng và phát triển thương hiệu
gặp nhiều khó khăn....
Nguyên nhân chính hạn chế phát triển thị trường RAT hiện nay là
hiệu quả kinh tế thấp và không ổn định của ngành trồng RAT do thiếu các
biện pháp quản lý phù hợp đối với hệ thống phân phối và tiêu thụ RAT.
Khi ngành sản xuất RAT được hình thành, khối RAT được hòa nhập
vào khối rau thông thường qua kênh phân phối đến tay người tiêu dùng. Sản
xuất RAT luôn đòi hỏi chi phí sản xuất cao hơn, nên phải đảm bảo giá cao
hơn thì mới đủ bù đắp chi phí và có lãi. Một bộ phận đáng kể người tiêu dùng
(người có thu nhập trung bình trở lên) sẵn sang trả giá cao hợp lý nếu họ có
đủ cơ sở tin tưởng rằng sản phẩm họ mua là an toàn. Trong thực tế, một khối
lượng nhất định RAT tiêu thụ qua quan hệ mua bán giữa người trồng rau với
các nhà máy chế biến, siêu thị, cửa hàng rau quả, các khách sạn, các nhà
trẻ… và các gia đình. Do có sự đảm bảo và tin cậy lẫn nhau giữa người sản
xuất và người tiêu dùng, bộ phận tiêu thụ RAT theo hình thức này thu được
giá cả cao cần thiết. Tuy nhiên một bộ phận đáng kể RAT còn lại phải tiêu
thụ như các kênh của rau thông thường.
23
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Uyên - Lớp KTNN51C
gia đình)
Người tiêu
dùng tập thể
(nhà máy chế
biến, khách
sạn, nhà trẻ,
nhà ăn tập
thể
Sơ đồ 2.1 Sản xuất và tiêu thụ rau an toàn hiện tại ở Việt Nam
Vấn đề mấu chốt dẫn đến tình trạng hiệu quả thấp của ngành RAT là
cho đến nay vẫn chưa có phương thức phân đỉnh RAT và rau thường trên thị
trường. Việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật để phân định và quản lý chất
lượng rau gặp nhiều khó khăn và gần như không khả thi trong thực tế vì xác
định các chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm bằng các phương pháp phòng thí
nghiệm đòi hỏi thời gian dài (2-3 ngày) và chi phí quá lớn (1,5-3 triệu đồng/1
mẫu), nên không phù hợp với tính chất mặt hàng rau cần tiêu thụ ngay vì dễ
bị hư hỏng.
2.2.3 Thực tiễn sản xuất và tiêu thụ cải bắp ở Việt Nam
Cải bắp là loại rau được trồng từ lâu đời và suốt từ Bắc xuống Nam.
Các tỉnh thành trồng nhiều cải bắp nhất là: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương,
Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Đà Lạt…Diện tích cải bắp khoảng
80,11nghìn ha chiếm 12,6% tổng diện tích rau. Cải bắp là loại cây dể trồng,
khả năng thích nghi rộng, chịu bảo quản và chịu vận chuyển. Cải bắp còn là
mặt hàng xuất khẩu đem lại giá trị kinh tế cao.
Giống cải bắp được trồng nhiều trên thế giới là giống cải bắp trắng. Ở
nước ta trướng đây người nông dân thường trồng những giống địa phương
như: Giống cải bắp Sapa, Lạng Sơn, Hà Nội. Các giống cải bắp KK Cross,
nhà nước là hoàn toàn đúng đắn và rất hay. Nó làm cho nền nông nghiệp
nước ta phát triển theo hướng hàng hóa, bền vững và mang lại giá trị kinh tế
cao cho cả người sản xuất và doanh nghiệp cũng như có lợi cho cả người tiêu
dùng. Đặc biệt sản xuất và tiêu thụ RAT lại càng cần sự liên kết chặt chẽ của
bốn nhà nhất. Vì sản xuất RAT phải đầu tư nhiều, quy trình sản xuất phải
đảm bảo độ sạch cho rau, các kỹ thuật chăm sóc cũng khắt khe hơn. Trong
25