A Phần mở đầu
1.Lý do chọn đề tài
Quá trình vận hành của chủ nghĩa t bản trong quá trình hình thành
của nó, trải qua những chặng đờng lịch sử đầy xơng máu, bóc lột và bất
công, mà cũng là những chặng đờng đầy sáng tạo và phát triển, thay
hình đổi dạng về quan hệ sản xuất và quan hệ xã hội, cơ cấu giai cấp, và
tất cả những cấu trúc thợng tầng, kể cả ý thức hệ và thể chế chính trị
tất cả tạo nên xã hội t bản chủ nghĩa. Đó là một hình thái kinh tế xã
hội trong tiến trình lịch sử của nhân loại. Nó tồn tại khá lâu dài với
những mâu thuẫn và thậm chí những bệnh hoạn của nó. Vởy với một
hình thái kinh tế xã hội đầy những mâu thuẫn nội tại, luôn luôn nằm
trong vòng xoáy trôn ốc của những biến đổi không ngừng nh vậy sẽ đa
loài ngời đến đâu?
Mác đã dự đoán rằng Giờ tận số của chế độ t hữu t bản chủ
nghĩa đã điểm(1). Tuy nhiên, đến thời đại ngày nay thì chủ nghĩa t bản
vẫn đang ung dung tồn tại, nếu không muốn nói là phát triển đến đỉnh
cao rực rỡ. Tuy nhiên, song song với sự phát triển đó là những mâu
thuẫn không thể giải quyết và ngày càng sâu sắc. Vì thế có thể khẳng
định lời Mác tiên đoán chắc chắn sẽ xảy ra, vấn đề bây giờ là thời gian.
Từ đó đặt ra yêu cầu là phải nghiên cứu và vận dụng chủ nghĩa Mác
Lênin vào hoàn cảnh mới.
So với thời kì Mác - ăng ghen sống tình hình đã thay đổi nhiều, vì
vậy có những t liệu lịch sử cụ thể lúc bấy giờ là đúng thì bây giờ lại
không thích hợp nữa nhng nhiều nguyên lý, nhiều quy luật kinh tế
C.Mác đã phát hiện vẫn mang tính khoa học và ý nghĩa thực tiễn nóng
hổi. Chính vì vậy em xin chọn đề tài Lí luận về giá trị của C.Mác
trong quyển 3 bộ t bản và vận dụng lí luận giá trị vào thực tiễn của
Việt Nam trong xây dựng phát triển kinh tế .
Hệ thống lý luận của Mác đợc đánh giá là cách mạng nhất, khoa
học nhất, nên đến nay nó vẫn còn giữ nguyên giá trị. Trong hệ thống lý
luận về kinh tế của Mác thì lý luận giá trị lao động có một vai trò đặc
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu làm sáng tỏ các nguyên lí và quy luật của lí luận giá trị. Từ
đó rút ra đợc sự vận dụng quy luật giá trị vào vấn đề xây dựng một xã
hội công băng hiện nay,.
5. phơng pháp nghiên cứu
Vấn đề đợc nghiên cứu trên một phơng pháp luận duy vật biện chứng.
Phơng pháp nghiên cứu chung, phơng pháp phân tích, phơng pháp so
sánh, phơng pháp lô gic, phơng pháp lịch sử .
6. kết cấu
Tác phẩm gồm hai chơng
Chơng I giới thiệu về tác giả hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
Chơng II lí luận của Mác về giá trị và sự vận dụng của đảng ta
2
3
B. Néi dung
Chương I Tiểu sử Các Mác và hoàn cảnh ra đời tác phẩm
kinh điển Bộ Tư Bản
1. Tiểu sử C mác
C. Mác sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 ở thành phố Tơriơ trong gia đình
luật sư Heinrich Marx. Năm mười hai tuổi (1830) C. Mác vào học
trường trung học ở Tơriơ. Sức học của C. Mác thuộc loại giỏi, đặc biệt
C. Mác nổi bật ở những lĩnh vực đòi hỏi tính độc lập sáng tạo. C. Mác
cũng tỏ ra có năng lực về toán học. Mùa thu 1835, C. Mác tốt nghiệp
trường trung học, sau đó không lâu, tháng mười 1835, C. Mác vào
trường đại học tổng hợp Bonn để học luật. Hai tháng sau theo lời
Tháng Ba 1883 ở Luân-đôn.
Hoạt động cách mạng sôi nổi và con đường tìm ra quy luật lịch
sử.Công tác thực tiễn ở báo Rheinische Zeitung đã làm thay đổi cơ bản
thế giới quan của C. Mác chuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa
duy vật và từ chủ nghĩa dân chủ - cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản.
Tháng Hai 1844, trên tờ tạp chí Niên giám Pháp - Đức C. Mác đăng bài
Góp phần phê phán triết học pháp luật của Hê- ghen. Từ tháng Tư tháng Tám 1844, C. Mác viết Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844,
thực chất là những phôi thai của những tư tưởng hết sức quan trọng mà
sau này C. Mác phát triển một cách khoa học trong bộ Tư bản. Tháng
hai 1845, cuốn sách Gia đình thần thánh của C. Mác và Ph. Ăng- ghen
viết chung ra đời phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm chủ quan của
phái Hê-ghen trẻ, thực chất là phê phán toàn bộ chủ nghĩa duy tâm ,
đồng thời nêu ra vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch
sử. Thời kỳ hoạt động của C. Mác ở Pa-ri kết thúc (tháng Hai 1845),
một thời kỳ mới sau đó mở ra với mục đích rõ ràng mà C. Mác tự đặt ra
cho mình: đề xuất một học thuyết cách mạng mới. C. Mác cùng với Ph.
Ăng- ghen hợp sức viết Hệ tư tưởng Đức (1845-1846) tiếp tục phê phán
chủ nghĩa duy tâm của Hê-ghen và phái Hê-ghen trẻ đồng thời phê phán
chủ nghĩa duy tâm không nhất quán của Ludvich Phoiơbach. Trong
5
cuốn Sự bần cùng của triết học (1847) C. Mác đã chống lại triết học tiểu
tư sản của P.J. Pruđông và trình bày những cơ sở của chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chính trị kinh tế học vô sản. Năm 1848 được sự uỷ nhiệm của
Đại hội II Liên đoàn những người cộng sản C. Mác và Ph. Ăng- ghen
viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản- một văn kiện mang tính chất
cương lĩnh của chủ nghĩa C. Mác và đảng vô sản. Tháng Sáu năm 1859,
công trình thiên tài của C. Mác Góp phần phê phán môn chính trị kinh
tế học ra đời viết về tiền tệ và lưu thông tiền tệ; nhưng điều đặc biệt
Cun b t bn c C.Mỏc nghiờn cu trong hai nm 1865 n nm
1867 mi hon thnh. nghiờn cu c ti ny C.Mỏc ó phi
tỡm c v nghiờn cu trờn 2000 ti liu th vin nc Anh. Sau hai
nm nghiờn cu Mỏc ó hon thnh xong cun B T Bn gm ba
phn. trong tiu lun v ti m em nghiờn cu nm phn u trong
cun B T Bn.
Chơng II. Lí luận giá trị
1. 1 Các quan điểm trớc Mác về lí luận giá trị
1.1.1 Quan điểm của William Petty về lí luận giá trị
Ông đợc xem là ngời sáng lập ra trờng phái kinh tế học cổ
điển, ông có nhiều đóng góp cho lý luận kinh tế. Với lý luận giá trị
lao động, ông là ngời đầu tiên đa ra nguyên lý lao động quyết định
giá trị trong kinh tế chính trị học t sản, đồng thời dùng nó làm cơ sở
để dự đoán một cách tơng đối chính sách cơ sở của giá trị thặng d.
Vì vậy, ông xứng đáng là ngời đặt nền móng cho môn kinh tế chính
trị học t sản.
Lý luận giá trị lao động của W.Petty chủ yếu phản ánh trong cuốn
Bàn về thuế khóa của ông. Trớc hết, ông phân biệt giá cả dới 3 hình
thức: giá cả tự nhiên, giá cả nhân tạo và giá cả chính trị. Giỏ c t nhiờn
chớnh l giỏ tr ca hng hoỏ do lao ng sn xut to ra v c o
lng qua lao ng ca lnh vc khai thỏc bỏc. Giỏ c nhõn to hay
chớnh l giỏ c th trng ca hng hoỏ, ph thuc vo giỏ c t nhiờn
hay quan h cung cu hng hoỏ. Giỏ c chớnh tr th hin s tỏc ng
ca chớnh tr n lng chi phia lao ng sn xut ra hng hoỏ. ễng
a ra lun im ni ting lao ng l cha, cũn t l m ca mi ca
ci - mt quan im c coi l ch ỳng mt na song li rt cú ý
ngha khi khng nh c lao ng l ngun gc to ra mi giỏ tr.
ây chính là đóng góp to lớn của ông.
7
v giỏ c ca hng hoỏ, khng nh giỏ tr l c s ca giỏ c.
Tuy nhiên, ông không hiểu tính chất xã hội của loại lao động này.
Vì thế khi đi sâu vào tìm hiểu xem là lao động gì quyết định giá trị của
hàng hoá thì ông rơi vào sự hỗn loạn. Khi giải đáp vấn đề giá cả thật
tức giá trị do cái gì tạo nên, ông ý thức đợc rằng trong xã hội t bản
chủ nghĩa, lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá có khối lợng ngang
8
nhau. Nhng do chỗ cha phân biệt đợc lao động và sức lao động nên
không thể giải thích lao động làm thế nào đẻ ra lợi nhuận.
ễng cũng bộc lộ nhiều điểm hạn chế và mâu thuẫn trong lý luận
giá trị của mình. Ông không phân biệt đợc lao động tạo ra giá trị mới và
lao động chuyển giá trị cũ trong hàng hoá, tức không đi sâu vào bản
chất cuối cùng của giá trị lao động. Sự nghiên cứu của ông vẫn tập
trung chủ yếu vào giá trị trao đổi vào lợng giá trị biểu hiện trong trao
đổi là giá cả. Đó là vật cản lớn trên con đờng giải quyết triệt để vấn đề
bản chất của giá trị mà chỉ có Mác sau này mới vợt qua đợc khi ông
phát minh ra thuộc tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá.
1.1.3. Quan điểm của David Ricardo về lí luận giá trị
Lý luận giá trị của D.Ricardo đợc xây dựng trong cuốn sách nổi
tiếng Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa - đây là
lý luận giá trị lao động hoàn chỉnh của kinh tế chính trị học cổ điển của
giai cấp t sản.
Ông phân biệt rõ ràng và dứt khoát hơn hai thuộc tính của hàng
hoá. Giá trị sử dụng đợc ông gọi là tính có ích của hàng hoá, là điều
kiện cần đối với giá trị trao đổi, song không thể là thớc đo của giá trị
trao đổi. Giá trị trao đổi của đại đa số hàng hoá đợc D.Ricardo xác định
bằng chi phí lao động sản xuất ra chúng. Song, ông còn đi xa hơn trong
hiểu chất của giá trị phải bắt đầu từ hàng hoá.
Hàng hoá đợc Mác chọn làm phạm trù xuất phát để nghiên cứu là
vì Trong những xã hội do phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa chi phối
thì của cải biểu hiện ra là một đống hàng hoá khổng lồ , còn từng
hàng hoá một thì biểu hiện ra là hình thái nguyên tố củ của cải ấy. Vì
vậy công cuộc nghiên cứu của chúng ta bắt đầu bằng việc phân tích
hàng hoá(1).
Hàng hoá là sản phẩm của lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu của
con ngời thông qua trao đổi mua bán. Hàng hoá có hai thuộc tính là giá
trị sử dụng và giá trị. Các nhà kinh tế trớc Mác đều cho rằng: hàng hoá
có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Theo Mác nói nh
thế là không chính xác, vì họ đã không phân biệt đợc giữa giá trị trao
đổi và giá trị. Vì vậy, theo ông hai thuộc tính của hàng hoá là: giá trị sử
dụng và giá trị, hai thuộc tính này là do tính chất hai mặt của lao động
sản xuất hàng hoá quyết định. Vì vậy, để tìm hiểu giá trị phải tìm hiểu
giá trị sử dụng.
Giá trị sử dụng là công dụng hay tính có ích của vật nhằm thỏa
mãn nhu cầu nào đó của con ngời, vớ d: cm n, xe p i, mỏy
múc, nguyờn, nhiờn vt liu sn xut... Mác viết Hàng hoá trớc hết là
một vật dụng bên ngoài, là một vật nhờ có những thuộc tính của nó mà
thỏa mãn đợc một loại nhu cầu nào đó của con ngời(2).
Vt phm no cng cú mt s cụng dng nht nh. Tính có ích là
do thuộc tính tự nhiên của vật quy định: Tính có ích của một vật
làm cho vật đó trở thành một giá trị sử dụng Tính có ích đó do
(1)
(2)
C.Mác: T Bản, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1973, quyển thứ nhất, t.1, tr.73
Sách đã dẫn, tr.73
lợng, là một tỷ lệ theo đó những giá trị sử dụng loại này đợc trao đổi với
những giá trị sử dụng loại khác, quan hệ này luôn luôn thay đổi theo
thời gian và địa điểm(6).
(3)
(4)
(5)
(6)
Sách
Sách
Sách
Sách
đã
đã
đã
đã
dẫn,
dẫn,
dẫn,
dẫn,
tr.75
tr.74
tr.75
tr.76
11
trong quan hệ trao đổi hay trong giá trị trao đổi của các hàng hoá,
chính là giá trị của chúng(10).
Giá trị hàng hoá là một phạm trù lịch sử, có sản xuất hàng hoá và
hàng hoá thì mới có giá trị hàng hoá. một vật không thể là một giá
trị đợc, nếu nó không phải là một vật phẩm tiêu dùng(11). Giá trị trao
Sách đã dẫn, tr.77
Sách đã dẫn, tr.80
(10) Sách đã dẫn, tr.80
(11) Sách đã dẫn, tr.85
(7)
(9)
12
đổi chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị, còn giá trị là nội
dung, là cơ sở của giá trị trao đổi.
Nh vậy hàng hoá có hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng. Hai
thuộc tính này làm tiền đề và điều kiện cho nhau, nó cùng tồn tại và
thống nhất với nhau trong hàng hoá, nếu thiếu một trong hai thuộc tính
thì sản phẩm không thể trở thành hàng hoá. Tuy nhiên, để trở thành
hàng hoá thì một vật trớc hết phải là sản phẩm của lao động, nếu không
thì Một vật có thể là một giá trị sử dụng mà lại không phải là một giá
trị. Đó là trờng hợp khi sự có ích của vật ấy đối với con ngời không phải
do lao động tạo ra(12). Kế đến, nó phải là vật thỏa mãn đợc một nhu cầu
nào đó của con ngời, thông qua trao đổi, mua bán Một vật có thể có
ích và là sản phẩm lao động của con ngời, nhng lại không phải là hàng
hoá. Ngời nào làm ra sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của bản thân
mình thì ngời đó chỉ tạo ra một giá trị sử dụng chứ không phải tạo ra
hàng hoá(13).
quan tõm l giỏ tr s dng tho món nhu cu tiờu dựng ca mỡnh.
Nhng, mun cú giỏ tr s dng thỡ phi tr giỏ tr cho ngi sn xut ra nú.
Nh vy, trc khi thc hin giỏ tr s dng phi thc hin giỏ tr ca nú.
Nu khụng thc hin c giỏ tr, s khụng thc hin c giỏ tr s dng.
1.2.2. Lợng giá trị.
Giá trị hàng hoá là do lao động trừu tợng của ngời sản xuất hàng hoá
kết tinh trong hàng hoá nên lợng giá trị hàng hoá là do lợng lao động tiêu
hao để làm ra hàng hoá quyết định. Lợng lao động tiêu hao đợc tính bằng
thời gian lao động nh ngày, giờ, tuần, tháng Mác viết: Hiển nhiên là đo
bằng lợng của cái thực thể tạo ra giá trị chứa đựng ở trong đó, bằng l ợng
lao động. Bản thân số lợng lao động thì đo bằng thời gian lao động, còn
thời gian lao động thì lại đo bằng những phần nhất định của thời gian nh
giờ, ngày(15).
Trong thực tế, có nhiều ngời cùng sản xuất một loại hàng hoá, nhng lại sản xuất trong những điều kiện khác nhau, năng suất lao động
khác nhau. Do đó, thời gian để sản xuất ra hàng hoá đó là khác nhau,
tức hao phí lao động cá biệt khác nhau. Vậy làm thế nào đo đợc đại lợng
giá trị của nó? Mác nói: Nếu giá trị của một hàng hoá là do l ợng lao
động đó hao phí trong thời gian sản xuất ra hàng hoá đó quyết định thì
ngời ta có thể tởng rằng ngời sản xuất ra hàng hoá càng lời biếng hay
càng vụng về bao nhiêu, thì giá trị hàng hoá của anh ta lại càng lớn bấy
nhiêu vì anh ta càng phải dùng nhiều thời gian hơn để sản xuất ra hàng
hoá đó(16).
Tuy nhiên, lợng giá trị không phải do lợng lao động cá biệt hay
thời gian lao động cá biệt quyết định mà do lợng lao động trung bình
hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra
hàng hoá quyết định: để sản xuất ra một hàng hoá nhất định, nó chỉ
dùng một thời gian trung bình cần thiết hay thời gian lao động xã hội
cần thiết Nh vậy, chỉ có lợng lao động xã hội cần thiết, hay thời
gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng mới
quyết định đại lợng giá trị của giá trị sử dụng ấy(17).
độ lao động, nếu cờng độ lao động tăng thì trong một đơn vị thời gian sẽ
tạo ra nhiều giá trị hơn và nhiều sản phẩm hơn, do đó giá trị cá biệt của
một hàng hoá không thay đổi.
Khi phân tích về lợng giá trị Mác đa ra một số khái niệm khác
liên quan đến việc tạo lợng giá trị nh khái niệm về lao động giản đơn
và lao động phức tạp. Trong nền kinh tế hàng hoá, để xác định lợng
giá trị hàng hoá, theo C.Mác còn phải quy mọi lao động phức tạp
thành lao động giản đơn. Và để lý giải cho việc làm thế nào để trao
đổi ngang bằng với những hàng hoá là sản phẩm của lao động phải
tốn công đào tạo, học tập, rèn luyện với hàng hoá của lao động giản
đơn mà chỉ cần sức lao động bình thờng cũng tạo ra đợc, Mác đã đa ra
luận điểm: Lao động phức tạp chỉ là bội số của lao động giản đơn,
hay nói đúng hơn, là lao động giản đơn nhân bội lên, thành thử một l (18)
Sách đã dẫn, tr.81
Sách đã dẫn, tr.82
Sách đã dẫn, tr.82
C.Mác: T Bản, NXB Sự thật, Hà Nội 1973, Quyển thứ nhất, T.1, tr.83
Sách đã dẫn, tr.84
(19) )
(20)
(21)
(22)
15
ợng lao động phức tạp nhỏ hơn thì tơng đơng với một lợng lao động
giản đơn lớn hơn(23).
(24)
(25)
(26)
Sách đã dẫn, tr.91
C.Mác: T Bản, NXB Sự thật, Hà Nội 1973, Quyển thứ nhất, T.1, tr.97
Sách đã dẫn, tr.97
Sách đã dẫn, tr.98
16
Hình thái giản đơn là hình thái mà giá trị hàng hoá này đợc biểu
hiện ở hàng hoá khác. Hình thái đơn giản của giá trị hàng hoá nằm
trong mối quan hệ giá trị giữa nó với một loại hàng hoá khác, hay nằm
trong mối quan hệ trao đổi giữa nó với loại hàng hoá này(27).
Khi phân tích hình thái này, Mác đã đa ra một ví dụ x hàng hóa
A = y hàng hoá B, hay: x hàng hóa A giá trị bằng y hàng hoá B. (20
acsin vải = 1 cái cáo, hay: 20 acsin vải trị giá bằng một cái áo) (28).
Hình thái này xuất hiện khi xã hội công xã nguyên thủy tan rã, trao đổi
lúc đầu mang tính ngẫu nhiên và trực tiếp, ở đây hàng hoá A đợc biểu
hiện ở hàng hoá, còn hàng hoá B dùng làm hình thái biểu hiện giá trị
của hàng hoá A. Nh vậy là giá trị sử dụng của hàng hoá này trở thành
hình thức biểu hiện giá trị của hàng hoá khác. Hỡnh thỏi giỏ tr tng
i v hỡnh thỏi vt ngang giỏ l hai mt liờn quan vi nhau, khụng th
tỏch ri nhau, ng thi l hai cc i lp ca mt phng trỡnh giỏ tr.
Trong hỡnh thỏi giỏ tr gin n hay ngu nhiờn thỡ t l trao i cha
th c nh.
Cũng với ví dụ trên, hai hàng hoá A và B rõ ràng là khác nhau.
Vải thì biểu hiện giá trị của nó bằng cái áo, còn cái áo thì dùng làm
đã
dẫn,
dẫn,
dẫn,
dẫn,
dẫn,
tr.119
tr.98
tr.99
tr.101
tr.107
17
Giá trị tơng đối của hàng hoá có thể thay đổi mặc dầu giá trị
của hàng hoá đó không thay đổi. Giá trị tơng đối của hàng hoá đó có
thể không thay đổi mặc dầu giá trị của nó thay đổi; và cuối cùng những
sự thay đổi cùng một lúc của đại lợng giá trị và của biểu hiện tơng đối
của đại lợng giá trị đó tuyệt nhiên không phải bao giờ cũng hoàn toàn
nhất trí với nhau(32).
Khi hàng hoá ở vào hình thái ngang giá. Hình thái ngang giá của
một hàng hoá chính là hình thái trong đó nó có thể trực tiếp trao đổi
lấy một hàng hoá khác(33).
Mác đã nghiên cứu ba đặc điểm của hình thái ngang giá, giá
trị sử dụng đã trở thành hình thái biểu hiện của cái độc lập với nó, tức
là của giá trị; lao động cụ thể đã trở thành hình thái biểu hiện của
cái đối lập của nó, tức là của giá trị ; lao động cụ thể đã trở thành
đã
đã
đã
đã
dẫn,
dẫn,
dẫn,
dẫn,
tr.110
tr.111
tr.127
tr.122
18
trị của một hàng hoá, của vải chẳng hạn, bây giờ đợc biểu hiện bằng vô
số nguyên tố khác của thế giới hàng hoá(36).
Nh vy, hỡnh thỏi vt ngang giỏ ó c m rng ra nhiu hng hoỏ
khỏc nhau. Tuy nhiờn, vn l trao i trc tip, t l trao i cha c nh.
Mác nêu ra thiếu sót của hình thái mở rộng.
Biểu hiện tơng đối của giá trị một hàng hoá cha đợc hoàn tất;
một sợi dây xích nh thể cấu thành một bức khảm sặc sỡ gồm những biểu
hiện giá trị rời rạc và không thuần nhất; hình thái giá trị t ơng đối của
mỗi hàng hoá sẽ là một chuỗi biểu hiện giá trị vô cùng tận(37).
Vi s phỏt trin cao hn na ca lc lng sn xut v phõn cụng
lao ng xó hi, hng hoỏ c a ra trao i thng xuyờn, a dng v
(38) Sách đã dẫn tr.128
(36)
(37)
19
Trong hình thái này các hàng hoá biểu hiện giá trị của mình ở giá
trị sử dụng của một hàng hoá đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung.
Hình thái tơng đối phổ biến của thế giới hàng hoá đem lại cho hàng
hoá - vật ngang giá đã bị gạt ra khỏi thế giới ấy, tức là cho vải, cái tính
chất một vật ngang giá phổ biến. Hình thái tự nhiên của bản thân nó trở
thành cái hình dáng chung của giá trị của thế giới đó, và vì vậy mà vải
có thể trực tiếp trao đổi với tất cả các hàng hoá khác(39).
Tuy nhiờn vt ngang giỏ chung cha thng nht mt loi hng
hoỏ no, cỏc a phng khỏc nhau thỡ dựng hng hoỏ khỏc nhau lm
vt ngang giỏ chung.
1.2.5 Hình thái tiền.
Khi nói về bớc chuyển từ hình thái chung của giá trị sang hình
thái tiền Mác nói: là loại hàng hoá đặc biệt mà hình thái tự nhiên
của nó dần dần gắn liền với hình thái ngang giá trong xã hội, sẽ trở
thành hàng hoá - tiền, hay làm chức năng tiền. Chức năng xã hội đặc
biệt của nó, và do đó, độc quyền xã hội của nó đóng vai trò vật ngang
giá, cái địa vị đặc quyền đó trong các hàng hoá đã đóng vai trò những
vật ngang giá đặc thù của vải ở trong hình thái II, và cùng nhau biểu
hiện giá trị tơng đối của mình bằng vải trong hình thái III cái địa vị
đặc quyền ấy, trong lịch sử, đã bị một hàng hoá nhất định giành đợc đó
là vàng. Vậy nếu trong hình thái III ta đặt hàng hóa vàng thay vào
chỗ hàng hoá - vải thì chúng ta sẽ có:(40)
20 acsin vải
Chỉ từ khi vàng trở thành hàng hoá - tiền nh thế rồi thì hình thái
IV mới phân biệt với hình thái III, nói cách khác, hình thái phổ biến của
giá trị mới biến thành hình thái tiền(42).
Mác kết luận Biểu hiện giá trị tơng đối đơn giản của một hàng
hoá ví dụ nh vải chẳng hạn, ở trong một hàng hoá đã làm chức năng
hàng hoá - tiền rồi nh vàng chẳng hạn, thì đó là hình thái giá cả. Vì vậy,
hình thái đơn giản của hàng hoá là mầm mống của hình thái tiền(43).
1.3 Quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản nhất, quan trọng nhất
của sản xuất và lu thông hàng hoá. Trong tác phẩm chống Đuy-Rinh,
Ăngghen đã nói: Quy luật giá trị này chính là quy luật cơ bản của
nền sản xuất hàng hoá, do đó cũng là quy luật cơ bản cái hình thức cao
nhất của sản xuất hàng hoá, tức là sản xuất t bản chủ nghĩa(44).
Quy luật này đòi hỏi sản xuất và trao đổi hàng hoá đợc thực hiện
theo hao phí lao động xã hội cần thiết. Điều đó có nghĩa là quy luật đòi
hỏi số lợng lao động tiêu hao để sản xuất ra một hàng hoá phải ngang
với lợng lao động trong bình của xã hội hay thời gian lao động xã hội
cần thiết. Do vậy trong lu thông, quy luật giá trị đòi hỏi mọi ngời phải
trao đổi, ngang giá, tức phải tuân theo mệnh lệnh giá cả thị trờng.
Dới tác động của quy luật giá trị hình thành nên giá cả thị trờng.
Giá cả thị trờng hình thành thông qua sự cạnh tranh giữa nhà t bản trong
cùng một ngành, sản xuất kinh doanh cùng một loại hàng hoá nhằm thu
lợi nhuận siêu ngạch.
Tuy giá trị cá biệt của mỗi hàng hoá là khác nhau nhng trên thị trờng mỗi loại hàng hoá đều phải bán theo một giá thống nhất. Đó là giá
cả thị trờng dựa trên cơ sở giá trị thị trờng. Giá cả thị trờng của tất cả
các hàng hoá cùng loại đều nh nhau, dù cho những điều kiện sản xuất
của những ngời sản xuất có khác nhau nh thế nào chăng nữa. Giá
cả thị trờng chỉ biểu hiện lợng lao động xã hội trung bình càn
thiết trong những điều kiện trung bình của sản xuất, để cung cấp
cho thị trờng một khối lợng nhất định những hàng hoá nhất định.
Mác đa ra nhận xét về giá cả: Giá cả, tự nó chẳng qua chỉ là
biểu hiện bằng tiền của giá trị(48).
Vậy giá cả hay những số lợng vàng mà giá trị các hàng hoá đã
chuyển thành trong ý niệm, thì bây giờ lại đợc biểu hiện bằng những tên
gọi tiền tệ hay là những tên gọi của tiêu chuẩn vàng dùng để tín toán
và do pháp luật quy định(49).
Giá cả là tên tiền tệ của số lao động đã vật hóa trong hàng
hoá (50) .
Thông qua sự phân tích của Mác về mối quan hệ giữa giá trí và
giá cả ta thấy sự tác động của quy luật giá trị. Thứ nhất là điều tiết sản
xuất và lu thông hàng hoá. Sự điều tiết này thể hiện ở chỗ phân bố lại
sức lao động và t liệu sản xuất giữa các ngành. Sự điều tiết này tiến hành
một cách tự phát thông qua giá cả thị trờng và quan hệ cung cầu. Thứ
hai là kích thích cải tiến kỹ thuật, thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển.
Các hàng hoá sản xuất trong những điều kiện khác nhau nên có giá trị
cá biệt khác nhau. Nhng trên thị trờng đòi hỏi moi phải tuân theo giá trị
và giá cả thị trờng. Muốn đứng vững trong cạnh tranh và làm ăn phát tài,
họ phải làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá của mình nhỏ hơn hoặc
bằng giá trị của xã hội.
(45)
(46)
(47)
(48)
(49)
(50)
C.Mác Ph.Ăngghen: Tuyển tập, NXB Sự thật, Hà Nội 1982, t.3, tr.126
C.Mác: Sự khốn cùng của triết học, NXB Sự thật, Hà Nội 1971, tr.20
C.Mác: Sự khốn cùng của triết học, NXB Sự thật, Hà Nội 1971, tr.20
Sách đã dẫn, tr.125
sản và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa t bản.
Tuy iu kin lch s hin ó cú nhiu thay i nhng học thuyết Mác
với tính chất khoa học và cách mạng vẫn giữ đợc gía trị chính vì thế
nhiều vấn đề trong học thuyết kinh tế của Mác đã đ ợc Đảng Cộng sản
ở nhiều nớc kế thừa vận dụng và phát triển thành cơng lĩnh chính trị
của mình.
Kinh tế chính trị của Mác Lênin là kim chỉ nam cho hoạt động
của Đảng Cộng sản và công nhân các nớc. Nó soi sáng cho nhân dân lao
động con đờng giải phóng khỏi ách áp bức của t bản.
Trên những thành tựu rực rỡ mà học thuyết Mác mang lại ngày
nay lý luận giỏ tr vẫn đợc vận dụng và chiếm một vị trí xứng đáng.
Ph.Ăngghen: T Bản Phần bổ sung, quyển thứ ba, t.1, NXB Sự thật, Hà Nội 1962,
tr.47
(51)
23
Lý luận giá trị - lao động đợc coi là hòn đã thử vàng của học
thuyết kinh tế, là xuất phát điểm của nhiều nguyên lý kinh tế chính
trị. Lý luận giá trị lao động bao gồm lý luận về hàng hóa, lý luận
về lao động về giá trị, quy luật giá trị và tiền tệ. Đây chính là bản
chất xã hội hóa sản xuất thông qua kinh tế hàng hóa. Cho đến nay
tính đúng đắn của lý luận này vẫn giữ nguyên giá trị và thể hiện
tính hoàn thiện đến mức cha có một nhà kinh tế nào đa ra nội dung
nào khác.
1.4.2. Vn dng quy lut giỏ tr ca Mỏc vo phỏt trin kinh
t hng húa ca Vit Nam
Trong vn tỡm hiu cỏc quy lut kinh t cỏc thuc tớnh ca hng
húa thỡ vic tỡm ra quy lut v cỏc thuc tớnh ca hng húa gúp phn
Một là; thực hiện nhất quán các chính sách kinh tế nhiều
thành phần.
Hai là ; mở rộng phân công lao động, phát triển nền kinh tế vùng,
lãnh thổ, tạo lập ra sự đồng bộ các yếu tố thị trường.
Ba là; đẩy mạnh công tác công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa
học công nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Bốn là; giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật,
triệt để xóa bỏ cơ chế quản lí kinh tế bao cấp, đổi mới chính các chính
sách tài chính, giá cả , tiền tệ .
Năm là ; xây dựng và kiện toàn hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô,
đào tạo đội ngũ cán bộ kinh tế và các nhà kinh doanh giỏi, đáp ứng nhu
cầu của nền kinh tế hàng hóa thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Sáu là ; thực hiện chính sách đối ngoại có lợi cho phát triển
kinh tế hàng hóa, phát huy nội lực, giữ vững độc lập dân tộc, chủ
quyền quốc gia.
25