PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nói đến sản xuất là nói đến việc sử dụng các nguồn lực hay các yếu tố đầu
vào theo một quy trình kỹ thuật nhất định nhằm tạo ra những sản phẩm đầu ra
đáp ứng được kỳ vọng của xã hội. Đã từ lâu đầu vào trong sản xuất nông nghiệp
đóng vai trò quan trọng, quyết định đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Ngày
nay, mục tiêu mà nông nghiệp của nước ta cần hướng đến là một nền nông
nghiệp chất lượng cao với các loại nông sản thỏa mãn yêu cầu hội nhập, phục vụ
nội tiêu, xuất khẩu, có sức cạnh tranh tốt. Muốn vậy nông nghiệp cần phải
chuyển hướng phát triển theo chiều sâu, trên cơ sở phát triển khoa học nông
nghiệp, những tiến bộ kỹ thuật mới, để lựa chọn và tạo ra các loại đầu vào mới,
chất lượng tốt nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất trồng trọt của bà con nông dân.
Sản xuất trồng trọt cần nhiều các yếu tố như vốn, lao động, kỹ thuật, vật
tư (giống, phân bón, thuốc BVTV,…). Nhưng để các đầu vào mới được đưa vào
thực tiễn sản xuất đòi hỏi phải có quá trình cung ứng. Cung ứng chính là cầu nối
giữa sản xuất, nghiên cứu với việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực
tiễn. Hiện nay có rất nhiều loại đầu vào mới có chất lượng tốt xuất hiện đã góp
phần làm năng suất và chất lượng cây trồng tốt hơn và nhờ có cung ứng mà các
đầu vào mới này được đưa tới tay bà con nông dân. Hệ thống cung ứng đã tạo ra
sự thuận tiện cho các nông dân tiếp cận với các đầu vào mới thông qua các cửa
hàng bán lẻ, các phòng nông nghiệp, các trạm khuyến nông, hợp tác xã nông
nghiệp, các tổ chức xã hội…Để họ có thể tự chọn mua loại đầu vào nào, số
lượng bao nhiêu và được tư vấn kỹ thuật sản xuất.Tuy việc cung ứng đầu vào
trong sản xuất nông nghiệp phong phú với nhiều hình thức nhưng có nhiễu loạn
thông tin thị trường, một phần do sự hiểu biết của người dân còn thấp đặc biệt
người dân sống ở vùng cao, vùng sâu dân tộc thiểu số việc tiếp cận các thông tin
rất hạn chế, sản xuất còn mang nặng tính truyền thống. Mặt khác, các doanh
nghiệp sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ, vật tư nông nghiệp gặp nhiều
khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm, thường phân phối qua nhiều khâu trung
gian khi đến tay người dân thì giá quá cao và nhiều khi không đáp ứng đủ nhu
2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về đầu vào và
cung ứng đầu vào trong hoạt động sản xuất trồng trọt.
- Đánh giá tình hình cung ứng đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất trồng
trọt cuả các hộ nông dân trên địa bàn huyện Yên Mô
- Đề xuất một số định hướng, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
cung ứng đầu vào phục vụ sản xuất trồng trọt cho nông dân trên địa bàn.
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ nông dân hoạt động sản xuất trồng trọt và các nguồn cung ứng đầu
vào phục vụ sản xuất trồng trọt trên địa bàn (Phòng nông nghiệp; ngân hàng
NN&PTNT; ngân hàng chính sách xã hội; hệ thống các cửa hàng vật tư nông
nghiệp; các tổ chức đoàn thể xã hội; các doanh nghiệp, nhà máy phục vụ hỗ trợ
cung ứng cho sản xuất NN).
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi nội dung: Các nguồn cung ứng đầu vào chủ yếu phục vụ hoạt
động sản xuất trồng trọt cuả các hộ nông dân trên địa bàn huyện Yên Mô và
đánh giá của nông dân về các nguồn cung ứng đó.
+ Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu tại huyện Yên Mô tỉnh Ninh
Bình
+ Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu đề tài vòng 3 năm từ năm
2007- 2009. Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 24/1/2010 đến ngày 10/5/2010
3
2.1.2.1 Lí luận về đầu vào
a. Khái niệm về đầu vào
Đầu vào là các chi phí về lao động, vật tư, tiền vốn trong hoạt động sản
xuất kinh doanh. (Từ điển Tiếng Việt, 2005, NXB Đà Nẵng).
Đầu vào là những yếu tố sản xuất, hoặc dịch vụ nào đó được dùng để
sản xuất đầu ra. Đầu vào nông nghiệp bao gồm: lao động, đất, tiền vốn, tư liệu
sản xuất.(Đỗ văn Viện, 2006, giáo trình quản trị doanh nghiệp nông nghiệp.
NXB nông nghiệp)
Theo quan điểm của các nhà kinh tế, đầu vào là các nhân tố sản xuất (tư
bản, lao động,…) được đưa vào quá trình sản xuất và kết hợp với nhau để tạo
ra sản lượng. Nó là các khoản tài nguyên tiêu tốn tính theo giá thị trường và
được biểu hiện bằng chi phí sản xuất: tiền mua nguyên vật liệu vật tư, chi phí
thuê lao động, địa điểm,…Trong sản xuất kinh doanh các chủ doanh nghiệp
phải lựa chọn đầu vào tối ưu và sử dụng có hiệu quả các đầu vào đó để tối
thiểu hoá chi phí sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận.
Theo quan điểm cổ điển, đầu vào chỉ bao gồm nguyên liệu, vốn và lao
động còn theo quan điểm mới ngoài các yếu tố trên đầu vào còn có đóng góp
của tri thức. Trong nền kinh tế tri thức, đầu vào này sẽ chiếm một tỷ trọng rất
lớn so với các đầu vào còn lại. Chẳng hạn, trong sản xuất trồng trọt, ứng dụng
CNSH như: chuyển gen mang tính trạng tốt vào giống cây trồng, nhằm tạo ra
những giống có năng suất cao, thích nghi với điều kiện thời tiết khắc nghiệt, có
khả năng chống chịu dịch bệnh hoặc tạo ra các chế phẩm sinh học bảo vệ cây
trồng. Hiện nay, nhiều nông dân đã ứng dụng CNSH vào trồng trọt và đạt hiệu
quả kinh tế khá cao. Đơn cử như việc dùng các chế phẩm phòng trừ sâu bệnh,
kích thích cây ra hoa sớm, đồng loạt đậu trái, cho năng suất cao gấp 1,5 - 4 lần
so với cách chăm sóc truyền thống
5
+ Phân bón: Trong sản xuất trồng trọt phân bón là 1 yếu tố quan trọng cần
thiết và không thể thiếu “nhất nước nhì phân tam cần tứ giống”. Phân bón là
những bổ sung cho đất được dùng để thúc đẩy cây cối phát triển; các loại chất
dinh dưỡng có trong phân bón là nitơ, phốt pho, kali và các chất dinh dưỡng
khác được thêm vào với những số lượng nhỏ. Bón phân là một trong những biện
pháp kỹ thuật được thực hiện phổ biến, thường mang lại hiệu quả lớn, nhưng
cũng chiếm phần khá cao trong chi phí sản xuất nông nghiệp.
+Thuốc BVTV: Là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chất
tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của
những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật. Những sinh vật gây hại chính
gồm sâu hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột và các tác nhân khác. Mặt khác, thuốc
BVTV còn được dùng để kích thích cây trồng tăng trưởng và phát triển là một
yếu tố quan trọng góp phần làm tăng sản lượng cây trồng và giảm các thiệt hại
trước thu hoạch.
- Khoa học công nghệ
+ Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội mà con người thu nhận
được thông qua hoạt động nghiên cứu. Khoa học cũng đồng thời là hoạt động
của con người sáng tạo ra tri thức mới .
+ Công nghệ là tri thức có hệ thống dùng để sản xuất ra một loại hàng hoá
hay tiến hành một loại dịch vụ nào đó. Công nghệ là kết quả sử dụng tri thức
khoa học, nghiên cứu công phu mới tạo ra được.
* Vai trò của công nghệ trong sản xuất trồng trọt
Công nghệ có vai trò hết sức quan trọng trong sản xuất nói chung và sản
xuất trồng trọt nói riêng. Vai trò của công nghệ thể hiện qua các mặt sau:
- Công nghệ giúp cho quá trình sản xuất diễn ra có hiệu quả: nhờ có công
nghệ mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy móc và thời tiết
khí hậu kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm.
S
0
KTTB
S1: Đường cung sau khi áp dụng KTTB
S
1
Qo
Q
Q1
Đồ thị 1. Biểu thị phối hợp lợi ích xã hội khi áp dụng KHCN
Qua đồ thị ta thấy lợi ích xã hội tăng khi áp dụng tiến bộ kỹ thuật
• Đặc điểm của công nghệ trong sản xuất trồng trọt
+ Công nghệ trồng trọt gắn liền với quá trình sinh học, việc xây dựng và
áp dụng công nghệ trong nông nghiệp phải tuyệt đối tuân thủ quy luật của sinh
vật.
+Công nghệ trong trồng trọt là sự kết hợp chặt chẽ các kỹ thuật hiện đại
và cổ truyền.
+ Công nghệ trong trồng trọt đang được xây dựng theo hướng của một
nền nông nghiệp bền vững.
- Lao động: Theo Ricacdo thì “lao động là cha, đất đai là mẹ đẻ ra của
cải vật chất”. Lao động là hoạt động có mục đích của con người thông qua
8
9
khả năng lao động trong nông nghiệp của nông hộ đó, nguồn lao động này bao
gồm những người trong tuổi lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có
khả năng lao động. Lao động của nông hộ biến động theo quy luật nhân khẩu của
gia đình.
+ Lao động đổi công: Từ đặc điểm của lao động nông nghiệp có thể thấy
rằng, trong những thời vụ căng thẳng thì các nông hộ thường thiếu lao động và
khi hết vụ thì nông hộ lại dư thừa lao động. Để khắc phục tình trạng này thì nông
hộ thường tiến hành đổi công cho nhau.
+ Lao động thuê ngoài: Đối với các nông trại có quy mô sản xuất khá lớn,
quan hệ thị trường được mở rộng, tính chuyên môn hoá bắt đầu được quan tâm,
lao động gia đình không đủ để giải quyết các công việc trong sản xuất thì lao
động thuê ngoài thường chiếm một vị trí trọng yếu. Mặc dù vậy, nhưng lao động
thuê ngoài của nông hộ thường thấp hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp.
c. Vai trò của các yếu tố đầu vào trong sản xuất trồng trọt
Đầu vào là yếu tố rất quan trọng và không thể thiếu trong bất cứ hoạt
động sản xuất kinh doanh nào, muốn tiến hành sản xuất thì phải có các yếu
tố đầu vào. Nhất là trong sản xuất trồng trọt đầu vào là yếu tố quan trọng và
rất cần thiết nó bao gồm đất đai, lao động, vốn, công nghệ và các tư liệu sản
xuất khác. Sản xuất trồng trọt mang tính thời vụ cao do vậy việc sử dụng các
yếu tố đầu vào đầy đủ, kịp thời sẽ quyết định thắng lợi của cả quá trình sản
xuất. Sử dụng đầu vào đúng lúc, hợp lý còn có thể giảm chi phí sản xuất,
tăng năng suất, tăng lợi nhuận và thu nhập cho người lao động.
Các yếu tố đầu vào quyết định trực tiếp tới lượng sản phẩm đầu ra.
Trong sản xuất trồng trọt, sản lượng đầu ra (Q) là năng suất cây trồng đạt
được trên một đơn vị diện tích, các yếu tố đầu vào (X 1,X2,…X n) là lượng
giống, phân bón, thuốc BVTB, công lao động đầu tư trên đơn vị diện tích đó
trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Các đầu vào tuân theo quy luật hiệu
tổ chức xã hội ở địa phương…. các và cuối cùng là đến tay người nông dân. Để
quá trình cung ứng tốt thì phải để sản phẩm của mình đến tay người tiều dùng
nhanh nhất và tiết kiệm chi phí bán hàng nhất.
11
b. Vai trò của cung ứng đầu vào trong sản xuất trồng trọt
- Trong sản xuất trồng trọt việc cung ứng đầy đủ, kịp thời các yếu tố đầu
vào là rất quan trọng và cần thiết, tạo điều kiện để người dân có thể đạt được
phương hướng sản xuất kinh doanh, thực hiện chuyên môn hóa sản xuất tốt, đầu
tư thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm.
- Đáp ứng các yêu cầu về đầu vào cho sản xuất trồng trọt của các hộ nông dân,
cung cấp cho người dân những giống mới, kỹ thuật mới có năng suất, chất lượng cao,
tạo điều kiện để người dân thâm canh tăng năng suất, tăng cường hợp tác liên doanh,
liên kết trong nông nghiệp, nông thôn.
- Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu, mùa
vụ và đặc tính sinh thái của cây trồng, vật nuôi do vậy việc cung ứng đầu vào một
cách đầy đủ, kịp thời sẽ quyết định thắng lợi của cả quá trình sản xuất, giảm bớt chi
phí sản xuất, tăng lợi nhuận, tăng thu nhập cho người lao động.
c. Đặc điểm của cung ứng đầu vào trong sản xuất trồng trọt
Những đặc điểm của cung ứng đầu vào trong sản xuất trồng trọt gắn liền
với những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp và thị trường nông sản.
- Mang tính thời vụ cao: Hoạt động cung ứng đầu vào diễn ra mạnh mẽ
vào những thời điểm nhất định. Chẳng hạn hoạt động tập huấn kỹ thuật, tham
quan, hội thảo đầu bờ… diễn ra nhiều vào thời gian nông nhàn, hoạt động cung
ứng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sôi nổi vào đầu và giữa vụ sản xuất.
- Các đầu vào có quan hệ mật thiết với nhau trong sản xuất, sự tiêu hao
đầu vào phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và tính chất vùng, vì vậy việc cung
ứng chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện khí hậu. Nhất là đối với đầu vào giống,
a. Các cơ quan về nông nghiệp: sở NN & PTNT, phòng NN & PTNT
Các cơ quan về nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản
xuất nông nghiệp của các hộ nông dân. Thực hiện tập trung công tác chuyển dịch
cơ cấu cây trồng vật nuôi đưa các giống mới có tiềm năng, năng suất, hiệu quả
kinh tế cao vào trong sản xuất như các giống lúa lai, ngô lai chịu hạn, lạc chịu
hạn… và một số loại cây trồng có giá trị kinh tế cao khác góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tạo ra vùng sản xuất hàng hóa tập trung
chuyên canh, thâm canh có năng suất, chất lượng cao. Tăng cường công tác
chuyển giao khoa học kỹ thuật xây dựng triển khai thực hiện các mô hình trình
diễn, phối hợp với trạm khuyến nông huyện, UBND các cấp, các tổ chức đoàn
thể làm tốt công tác tập huấn kỹ thuật cho các hộ nông dân áp dụng tiến bộ khoa
học-kỹ thuật và công nghệ mới; chuyển đổi diện tích lúa có năng suất thấp sang
các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị cao. Phối hợp chặt chẽ với Đảng uỷ, chính
quyền các cấp, các ngành chức năng tổ chức triển khai có hiệu quả các dự án đầu
tư trong lĩnh vực nông nghiệp. Tổ chức xây dựng mô hình đưa giống mới có
năng suất cao, phẩm chất tốt vào sản xuất đồng thời thực hiện tốt các chính sách
hỗ trợ nông dân trong sản xuất nông lâm nghiệp.
Phối hợp với các ngành chức năng, UBND các xã, thị trấn trạm bảo vệ
thực vật, ban chỉ đạo sản xuất các cấp làm tốt công tác dự tính, dự báo đảm bảo
an toàn dịch bệnh cho cây trồng.
Phối hợp với các công ty sản xuất vật tư nông nghiệp (phân bón, thuốc
BVTV, giống…) tạo ra 1 kênh cung ứng vật tư uy tín, nhanh, gọn và hiệu quả
đến tay người nông dân.
13
b. Ngân hàng và các tổ chức tín dụng
Trong điều kiện hiện nay, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, cơ
sở vật chất kỹ thuật lạc hậu. Muốn cải thiện tình hình đó phải tăng cường các
vốn đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp. Đặc bịêt là ở khu vực nông thôn, tín
dụng phi chính thống là hình thức tín dụng truyền thống và được sử tương đối
phổ biến. Nông dân có thể tìm đến các nguồn cho vay lãi ngoài khi cần thiết, vay
họ hàng, bạn bè hay những người thân thiết hay họ cũng có thể tham gia chơi
hụi, phường để tập trung nguồn vốn giúp nhau phát triển sản xuất. Ngày 27/11,
Thủ tướng ban hành Nghị định 144 về hụi, họ. Lần đầu tiên, vấn đề chơi hụi, họ
của người dân chính thức được pháp luật thừa nhận và bảo vệ về quyền và lợi
ích hợp pháp của người chơi hụi, họ thì các hoạt động này sẽ ngày càng phổ biến
hơn. Như vậy các tổ chức tín dụng là một yếu tố kinh tế quan trọng tại địa
phương, góp phần nâng cao đời sống thu nhập của người dân đem lại ổn định trật
tự chính trị, xã hội trên địa bàn, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế.
c. Các tổ chức đoàn thể xã hội
Là các tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức việt nam cùng ngành
nghề, cùng sở thích, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động
thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên,
đáp ứng nhu cầu của từng nhóm hay cộng đồng trong việc tương trợ giúp đỡ
nhau về đời sống, góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội. Các tổ chức này
gắn kết các thành viên và hoạt động theo pháp luật và những quy định của tổ
chức đoàn thể. Thông qua vai trò thành viên của một tổ chức, các cá nhân trở
nên tích cực, tự giác hơn, họ sẵn sàng tham gia các hoạt động mang lại lợi ích
thiết thân và cho các thành viên khác. Ở khu vực nông thôn nước ta, các tổ chức
Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh có vai trò tích cực trong các hoạt
động khuyến nông, xoá đói giảm nghèo cho các thành viên trong hội, tín dụng,
vận động các thành viên tham gia tích cực các hoạt động sản xuất. Góp phần đẩy
mạnh các phong trào, hoạt động của địa phương, hỗ trợ, bà con nông dân vươn
lên làm giàu. Trong đó hoạt động cung ứng, hỗ trợ đầu vào cho nông dân phục
vụ sản xuất đang rất được chú ý và có ý nghĩa quan trọng.
- Hội nông dân: Có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ, giúp đỡ nông
dân cải hiện đời sống, phát triển sản xuất kinh doanh. Thông qua các chương
trình liên tịch với một số ban ngành, hàng năm Hội phối hợp với ngành nông
trồng. Nước ta đã gia nhập và cam kết thực hiện các quy định của tổ chức
thương mại thế giới WTO, và Hội nông dân có trách nhiệm tuyên truyền nâng
cao hiểu biết cho nông dân về những cam kết trong nông nghiệp và các thoả
thuận, quy định của WTO. Hội phải tăng cường đẩy mạnh hoạt động, phong
16
trào của hội, đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, hỗ trợ nông dân về vốn, chuyển
giao khoa học kỹ thuật. Đẩy mạnh đào tạo nghề cho nông dân nhất là những
nơi bị thu hồi đất, phát triển ngành nghề, làng nghề truyền thống ở địa phương
để tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân.
- Hội phụ nữ là tổ chức chính trị - xã hội, tập hợp rộng rãi các tầng lớp
phụ nữ Việt Nam, hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lo
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ, đóng vai trò rất
quan trọng trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Với
chức năng đại diện chăm lo cho quyền lợi phụ nữ, các cấp hội phụ nữ đã tập
trung chỉ đạo, triển khai nhiều phong trào, chương trình thiết thực hỗ trợ phụ nữ
và gia đình phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, các hoạt động hỗ trợ phụ nữ
vay vốn phát triển kinh tế gia đình. Phát động và tổ chức tốt các phong trào :
“phụ nữ giúp nhau làm kinh tế xóa đói giảm nghèo”, “phụ nữ sản xuất giỏi”,
“chương trình hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập… Nguồn vốn hỗ trợ phụ
nữ phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo được các cấp hội tập trung khai thác từ
ngân hàng, các tổ chức phi chính phủ, từ quỹ tiết kiệm của chị em. Hội chủ động
tín chấp với Ngân hàng NN&PTNT, thực hiện uỷ thác của Ngân hàng CSXH
cho phụ nữ vay vốn với cách thức vay trả linh hoạt, phù hợp. Không chỉ góp vốn
các cấp hội còn tranh thủ nguồn lực để tổ chức tập huấn, hội thảo tham quan mô
hình, chuyển giao khoa học kỹ thuật đã giúp chị em mạnh dạn chuyển đổi
phương thức sản xuất trồng trọt, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống.
thức gối đầu, chậm trả,
+ Sự thuận tiện khi mua hàng hóa: Hầu hết các hộ nông dân không có
phương tiện vận chuyển, do đó họ sẽ chọn mua ở những nơi thuận tiện, gần nhà.
Việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn phải được coi là có tầm
quan trọng đặc biệt.
2.1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình cung ứng đầu vào
a. Giá cả
Theo C.Mac, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Trong hoạt
động mua bán giá cả chính là phương tiện giải quyết mâu thuẫn về lợi ích giữa
người bán và người mua hay nói một cách khác giá cả của hàng hoá là mức giá
ma cả người mua và người bán đều chấp nhận được.
18
Giá cả là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình cung ứng của sản
phẩm, khi nhà kinh doanh ra quyết định về một mức giá nào đó nó sẽ tác động
đến sức mua của người nông dân và niềm tin của họ vào mặt hàng đó. Nếu giá
quá cao so với khả năng thanh toán của người nông dân thì họ sẽ không mua,
hoặc mua ít đi dẫn tới giảm lợi nhuận, giảm khả năng đáp ứng đầu vào cho nông
dân của công ty. Khi mức giá thấp có thể bà con nông dân có lợi nhưng có thể
ảnh hưởng lợi nhuận của doanh nghiệp và người dân có thể nghi ngờ về chất
lượng sản phẩm cung ứng.
Theo tiến sĩ Đặng Kim Sơn thì thị trường vẫn là thách thức đối với người
dân Việt Nam. Giá dầu mỏ lên 50 năm tới có xu hướng tăng và cạn kiệt kéo theo
sự tăng giá phân bón, thuốc trừ sâu khiến đầu vào sản xuất nông nghiệp ngày
càng tăng. Khi giá cả gia tăng, giá cánh kéo luôn nghiêng về phía bất lợi cho
người sản xuất nông nghiệp và người dân. Sản xuất nông nghiệp của chúng ta có
khả năng tăng sản lượng do tăng vụ và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, mở mang thị
trường tiêu thụ nhưng giá trị tăng thêm của một số sản phẩm không mang lại
Chính Phủ nhằm thay đổi môi trường cho Nông nghiệp Phát triển.
Trồng trọt cũng như các ngành khác, muốn mở rộng quy mô và hiệu
quả sản xuất nhất thiết phải có hệ thống chính sách kinh tế thích hợp tạo
nhằm tạo dựng mối quan hệ hữu cơ giữa các nhân tố với nhau để tạo ra hiệu
quả kinh doanh cao nhất. Kết quả sản xuất phụ thuộc nhiều vào chính sách
kinh tế, các chính sách thích hợp sẽ khuyến khích sản xuất phát triển. Các
chính sách tác động trực tiếp hay gián tiếp tới việc cung ứng đầu vào phục
vụ sản xuất trồng trọt như: chính sách đất đai, chính sách tín dụng, chính
sách thuế đầu vào, chính sách trợ giá đầu vào…Nhất là khi nước ta đã gia
nhập tổ chức WTO phải thực hiện các cam kết thương mại thì nhân tố này
càng trở nên quan trọng hơn.
e. Vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật
Trong hoạt động cung ứng đầu vào phục vụ sản xuất trồng trọt thì vốn
và cơ sở vật chất kỹ thuật cũng có ý nghĩa rất quan trọng. Nó quyết định
đến mức độ và khả năng cung ứng của các doanh nghiệp cũng như các cơ
quan, tổ chức tham gia cung ứng. Ngoài ra các yếu tố về cơ sở vật chất
như: cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc…giúp lưu thông, tiêu thụ hàng hoá
20
đầu vào, đầu ra, nhanh chóng thuận tiện. Vốn là một điều kiện không thể
thiếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp. Đánh giá tác động của dịch vụ này là
đánh giá khả năng tiếp cận vốn của người dân, việc sử dụng vốn đầu tư cho quá
trình sản xuất như đầu tư mua giống cây, phân bón,…Qua đó ta biết được việc
sử dụng vốn của người dân có hiệu quả không? Đầu tư sản xuất có tăng năng
suất không? Để từ đó có thể cung ứng vốn một cách có hiệu quả hơn.
f. Thời vụ
Đặc điểm của sản xuất trồng trọt là mang tính thời vụ do vậy cung ứng
đầu vào phục vụ sản xuất trồng trọt cần chú ý đến đặc tính sinh học, mùa vụ,
nhập khẩu, sau chuyển về tỉnh, huyện, rồi bán cho các nhà buôn. Tháng 10/1988,
Chính phủ đã quyết định là việc lưu thông phân bón cho nông dân thông qua
HTX (KUD). Giá cả phân bón thống nhất trong cả nước, giá phân bón ở
Inđônêxia bán thấp hơn giá quốc tế, trước 50% nay là 20%. Với một số chính
sách cấp thiết và hữu hiệu, cùng với sự phát triển theo hướng đồng bộ hệ
thống nghiên cứu, khuyến nông, tín dụng nông thôn, nông thôn Inđônêxia
đang hướng tới tạo lập những tiền đề để đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển
một ngành nông nghiệp toàn diện, tiên tiến, hiện đại. Những năm 80 đến
nay, kinh tế In-đô-nê-xi-a, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp đã phục hồi và có
bước phát triển, sản lượng nông nghiệp tăng với tốc độ 4%/năm. Đáng chú ý
là, từ năm 1984 Inđônêxia đã tự bảo đảm được nhu cầu về lúa gạo bằng sản xuất
trong nước, không còn phải nhập khẩu gạo như trước đó.
b. Thái Lan
Trong nông nghiệp, việc ổn định đầu vào, đầu ra của sản xuất là nội
dung chủ yếu các chính sách của Thái Lan. Chính phủ hết sức quan tâm và
có nhiều biện pháp hữu hiệu về giá lương thực, giá vật tư, về ứng dụng kỹ
thuật tiến bộ,về chính sách đầu tư trong nông nghiệp. Ổn định giá vật tư
nông nghiệp mà chủ yếu là phân bón cũng là một biện pháp quan trọng thúc
đẩy sản xuất. Khoảng 2,1 triệu tấn phân bón được sử dụng ở Thái Lan trong
năm 1989, trong đó gần 27% được lưu thông qua khu vực công cộng và 73%
còn lại chuyển qua kênh phân phối của khu vực tư nhân. Các kênh khu vực
công cộng gồm có: Tổ chức lưu thông dành cho nông dân(MOF), Ngân hàng
nông nghiệp và các HTX nông nghiệp (BAAC), văn phòng các quỹ viện trợ
22
trồng lại cây cao su (ORRAF). BAAC là tổ chức phân phối nhiều nhất trong
khu vực công cộng, chiếm 80% trong tổng số của khu vực này. Trước năm
1981, khoản tín dụng của BAAC không bao gồm các loại phân hoá học. Sau
khó khăn trong tiếp cận đầu vào đặc biệt là nguồn tài chính, tín dụng. Theo
Quyết định số 497/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ
lãi suất vốn vay mua máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và
vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn. Tuy nhiên, thủ tục và điều kiện vay
vốn rườm rà, mất nhiều thời gian, nhiều khi vay được vốn xong thì lỡ mất mùa
vụ, vì vậy mà người dân ít được tiếp cận với nguồn vốn này, hiệu quả của chính
sách chưa cao. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì trong 5 năm (20032007) Việt Nam đầu tư cho phát triển nông nghiệp chỉ đạt 113 nghìn tỷ đồng
chiếm 8,7% vốn đầu tư Nhà nước và mới chỉ đáp ứng 17% nhu cầu của khu
vực nông nghiệp. Các ngành dịch vụ phục vụ nông nghiệp chưa phát triển, tỷ lệ
thất thoát sau thu hoạch còn cao. Sản xuất trồng trọt thiếu máy móc thiết bị, phân
bón, thuốc BVTV,... Dịch vụ hỗ trợ như tín dụng, vận tải, viễn thông tăng trưởng
chậm. Tổng Công ty máy động lực và máy nông nghiệp chỉ đáp ứng nhu cầu
25% thị trường trong nước. Sản xuất phân đạm trong nước chỉ đáp ứng 30% 40% nhu cầu, còn lại phải nhập khẩu. Hiện nay chi phí đầu vào cho sản xuất
trồng trọt rất cao, một trong những chi phí lớn nhất đối với sản xuất trồng
trọt nói chung đó là phân bón. Sản xuất trồng trọt nước ta hàng năm sử dụng
khoảng trên 8 triệu tấn phân bón hoá học các loại trị giá hàng trăm nghìn tỷ
đồng. Chi phí cho việc vận chuyển, bốc xếp, lưu kho phân bón chiếm 1015%.Tuy nhiên thời gian qua việc cung ứng phân bón còn có nhiều bất cập,
cung ứng chưa có một mô hình kinh tế rõ rệt, mạnh ai nấy làm, cung ứng
còn manh mún, tản mạn qua nhiều tầng nấc trung gian làm tăng chi phí đẩy
giá bán lên cao. Kể cả các doanh nghiệp Nhà nước được hỗ trợ đầu vào, có
lợi thế cạnh tranh nhưng cũng chưa tổ chức được hệ thống cung ứng phân
bón hoàn thiện, đảm bảo giá bán đến nông dân và mang lại hiệu quả.
Tuy nhiên công tác chọn, tạo, đưa giống mới vào sản xuất lại có nhiều
bước tiến mới. Trong những năm gần đây ngành trồng trọt đã không ngừng
đầu tư nghiên cứu tìm ra nhiều chủng loại cây, con giống mới phục vụ cho
24
người dân. Các giống lúa, bắp có năng suất cao, phẩm chất tốt chống chịu