skkn vật lý thpt KÍCH THÍCH sự HỨNG THÚ học tập vật lý BẰNG NHỮNG THÍ NGHIỆM đơn GIẢN - Pdf 35

tailieuonthi

BM 01-Bia SKKN

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị Trường THPT Xuân Thọ
Mã số: ................................

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KÍCH THÍCH SỰ HỨNG THÚ HỌC TẬP VẬT LÝ BẰNG NHỮNG
THÍ NGHIỆM ĐƠN GIẢN

Người thực hiện: Phạm Thị Kim Cúc
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục

Phương pháp dạy học bộ môn: .Vật lý √
Phương pháp giáo dục



Lĩnh vực khác: ......................................................... 
Có đính kèm:
 Mô hình
 Phần mềm

 Phim ảnh

 Hiện vật khác

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC



tailieuonthi

BM03-TMSKKN

Tên sáng kiến kinh nghiệm:
KÍCH THÍCH SỰ HỨNG THÚ HỌC TẬP VẬT LÝ BẰNG NHỮNG
THÍ NGHIỆM ĐƠN GIẢN
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Lý do chọn đề tài :
Thí nghiệm Vật lý được hiểu theo nghĩa rộng là một trong các phương pháp
dạy học Vật lý, là cách thức công tác giữa giáo viên và học sinh nhằm đạt được
hiệu quả cao nhất trong việc truyền thụ và tiếp thu kiến thức. Đó là phương tiện
trực quan, giúp học sinh hình thành những hình tượng cụ thể, phản ánh trung thực
các hiện tượng, các qúa trình, quy luật Vật lý. Thí nghiệm vật lý là phương tiện
kích thích hứng thú học tập, phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh,
đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu giáo trình. Ngoài ra, Thí nghiệm
vật lý còn có tác dụng to lớn trong việc phát huy năng lực nhận thức của học sinh,
giúp các em làm quen với các phương pháp nghiên cứu khoa học, rèn luyện kỹ
năng, kỹ xảo thực hành..
Như thế, thí nghiệm vật lý là một phương tiện tham gia tốt vào việc giáo dục
kỹ thuật tổng hợp cho học sinh. Tuy nhiên, không phải trường nào cũng có đủ điều
kiện, thiết bị thí nghiệm. (Ví dụ như trường chúng ta, hiện tại bây giờ mới chỉ có
mấy bộ thí nghiệm biểu diễn, lại khá cồng kềnh).. Trước thực tế này tôi chọn đề tài
“ Kích thích sự hứng thú học tập vật lý bằng những thí nghiệm đơn giản ” nhằm
tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giảng dạy của giáo viên và sự tiếp thu của học
sinh được hiệu quả.
2. Thực trạng trước khi thực hiện các giải pháp của đề tài:
2.1 Thuận lợi

- Chỉ thị 40 – CT/ TƯ về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ghi rõ: “Đặc biệt đổi mới mạnh mẽ và cơ bản
phương pháp giáo dục nhằm khắc phục kiểu truyền thụ một chiều, nặng lý
thuyết,ít khuyến khích tư duy sáng tạo; bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu,
tự giải quyết vấn đề,phát triển năng lực thực hành sáng tạo cho người học” (1- tr 2)
- “Học sinh đang học thí nghiệm vật lý thời... trung cổ” : Đây là nhận
định của nhóm các chuyên gia ở Hội Vật lý khi thực hiện phản biện về chương
trình và sách giáo khoa Vật lý bậc phổ thông, theo yêu cầu của Liên hiệp các hội
Khoa học Kỹ thuật Việt Nam. So sánh sách giáo khoa (SGK) Vật lý Việt Nam với
một số SGK Vật lý hệ tương đương đang được sử dụng phổ biến tại một số nước
như Mỹ, Thụy Sỹ, Nga, Hội Vật lý phản đối quan điểm xây dựng chương trình
SGK Vật lý Việt Nam ngay từ đầu chỉ chú trọng Vật lý học cổ điển. Quan điểm
này làm cho chương trình nặng về những thứ cổ lỗ dẫn đến nội dung của chương
trình quá tụt hậu so với hiện tại. Không những thế, Hội Vật lý còn cho rằng, chỉ
với vài thí nghiệm, những nhà làm chương trình và SGK hy vọng học sinh phải
khái quát được những khái niệm, những quy luật... trong vật lý là điều sai với cách
làm trong khoa học. Kiến thức học sinh thu được ở SGK rất ít và cả thầy lẫn trò
đều bị quá tải. Trong khi đó, Nhà nước tốn một khoản tiền khá lớn để mua sắm
thiết bị dạy học theo hướng để học sinh tự làm, tự rút ra kết luận.
Ngày nay chúng ta đang thực hiện việc đổi mới rất mạnh mẽ về nội dung
và phương pháp dạy học ở bậc trung học phổ thông. Đối với các môn khoa học
thực nghiệm nói chung và môn Vật lí nói riêng thì việc đổi mới đó gắn liền với
việc phải tăng cường sử dụng thí nghiệm trong quá trình dạy – học. Đây là một
nhiệm vụ đặc biệt khó khăn vì nhiều nguyên nhân: thiết bị thí nghiệm còn thiếu
thốn và chưa đồng bộ; việc lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm đòi hỏi nhiều thời
gian trong khi thời gian nghỉ chuyển giữa hai tiết chỉ có từ 5 phút đến 10 phút; thí
nghiệm không đảm bảo thành công nhanh… Bên cạnh đó thì có một nguyên nhân
rất quan trọng là năng lực thí nghiệm của giáo viên trên thực tế còn nhiều hạn chế.
Sự hạn chế đó thể hiện cả ở mặt kĩ thuật lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm lẫn
phương pháp sử dụng các thí nghiệm đó trong giờ học sao cho tăng cường được

Đề tài được tiến hành trong thời gian quá trình thực tập, giảng dạy tại
trường THPT Xuân Thọ.
5. Mô tả phương pháp mới
Đưa vào nhưng thí nghiệm nhỏ, có thể tiến hành ngay tại lớp với những
dụng cụ đơn giản, dễ kiếm, dễ làm (hay không dùng dụng cụ) hoặc giao về nhà
cho học sinh nghiên cứu (hay làm theo nhóm) rồi báo cáo kết quả. Ví dụ như sau:
5.1 Khi dạy bài Mômen lực ( Vật lý 10): Đưa ra cho học sinh một câu
đố (có thưởng) hoặc một tình huống như sau: Cho học sinh ngồi thẳng trên ghế,
nếu nửa thân trên của học sinh không nghiêng về phía trước, hoặc hai chân không
di động về phía đáy ghế, đố học sinh nào có thể đứng dậy được?.. Tất nhiên sẽ
không có học sinh nào làm được điều này. Thí nghiệm này có thể sử dụng làm thí
nghiệm mở đầu để dẫn dắt vào bài học, cũng có thể làm thí nghiệm kiểm chứng và
yêu cầu học sinh dựa vào bài học để giải thích.
5.2 Khi dạy về định luật III Newton: có thể đưa ra một câu đố như sau: Cho
học sinh đứng thẳng, không được co chân, đố học sinh nào có thể bật nhảy được.

5


tailieuonthi

5.3 Khi dạy về quá trình đẳng tích ( Vật lý 10): có thể tiến hành thí nghiệm
sau:
Lấy một chiếc cốc uống nước, hoặc một chai thuỷ tinh. Tìm một miếng vải
hình vuông, to hơn miệng chai thuỷ tinh dùng làm thí nghiệm, thấm nước cho ẩm,
rồi trải lên bàn. Cố định một cây nến lên bàn và châm lửa. úp miệng bình xuống
dưới và hơ trên ngọn lửa nến cho không khí trong bình nóng lên. Sau đó nhanh
chóng úp bình lên vuông vải ấm. Sẽ thấy bình hút miếng vải lên.
Sau khi cho học sinh giải thích, có thể nói thêm đó chính là Bí mật của biện
pháp giác hơi Bác sĩ đông y khi trị bệnh cho người bệnh thường dùng


tailieuonthi

5.7. Thí nghiệm dùng trong bài cân bằng của vật rắn có mặt chân đế: Bí
mật con lật đật không bị đổ ngã
Dùng giấy bìa cứng cắt thành 1/2 vòng tròn đường kính 13cm, sau đó cắt thành
hai mảnh bằng nhau, lấy một mảnh cắt thành hình rẻ quạt, sau đó dán lại bằng hồ
thành thân của con lật đật.
Lấy một chiếc đũa, đặt đầu vuông quay xuống dưới, đặt thẳng đứng để dán chặt
vào con lật đật, ở lưng ( tâm vòng tròn mặt đáy) buộc một đoạn dây- Đầu trên
chiếc đũa dán vào hình đầu người làm bằng giấy bìa. Sau lưng chiếc đũa kẹp một
chiếc cặp. Thế là con lật đật đã được làm xong.
Nếu chiếc cặp kẹp ở tầm ngang là thấp thì khi nhấc dây buộc lên, thân con lật
đật thõng xuống phía dưới, và khi đó đặt con lật đật lên mặt bàn thì nó cũng không
bao giờ đổ. Nếu chiếc cặp kẹp buộc cao quá thì xách dây buộc lên, con lật đật sẽ
chúi đầu xuống khi đó con lật đật ở tư thế không ổn định.

Từ đó có thể thấy muốn cho con lật đật không bị đổ, trọng tâm của nó phải thấp
hơn tâm của vòng tròn mặt đấy con lật đật. Như thế, khi con lật đật nghiêng đi thì
điểm chỉ lệch một chút so vớí trọng tâm thì trọng tâm thay đổi rất nhanh làm cho
con lật đật phải quay trở lại.
5.8. Khi dạy về bài Pin- Acquy ( Vậtlý 11): có thể cho học sinh chế tạo pin
chanh:
Đầu tiên, bạn hãy cắt quả chanh làm đôi theo chiều ngang. Hãy sử dụng dao
thật sắc để tránh làm rách màng ngăn giữa các múi chanh. Sau đó, bạn cắm vào
mỗi múi chanh 2 sợi dây kim loại dài khoảng 2cm, một sợi bằng đồng và một sợi
bằng kẽm.
Tiếp theo, đấu đầu còn lại của các sợi kim loại với nhau, dây đồng đấu với dây
đồng, dây thép đấu với dây thép. Như vậy, bạn đã có 2 điện cực của một cục pin.
Dòng điện được tạo ra tuy yếu nhưng nếu đưa lên đầu lưỡi nếm thử, bạn sẽ thấy rõ

a) Con nhện giấy
Cắt từ tờ báo một mẩu như trang vở học sinh, rồi cắt thành 8 dải giấy song
còn để dính chúng với nhau ở một chiều của tờ giấy. Cắt xong vuốt các di giấy
dựng lên, dính vào trên vách tường, dùng túi nhựa ma sát từ trên xuống dưới, bạn
có thấy tờ giấy dính trên vách tường không? Gỡ tờ giấy xuống, bạn sẽ thấy 8 dải
giấy sẽ hướng ra ngoài và lay đông qua lại, trông giống như một con nhện. Tờ giấy
được ma sát sẽ mang điện tích, và do mỗi dải giấy đều mang điện tích giống nhau,
cho nên chúng đẩy nhau và tách nhau ra.
b) Hai quả bóng
- Cọ xát mạnh nhiều lần bóng bay A đã được thổi căng vào một khăn len khô, đưa
nó lại gần một quả bóng cùng loại B được treo sẵn trên một sợi chỉ. Mô tả và giải
thích hiện tượng?

8


tailieuonthi

- Lặp lại thí nghiệm trên nhưng quả bóng B cũng được cọ xát mạnh nhiều lần vào
khăn len trước khi treo.
Thí nghiệm vè hiện tượng phản xạ toàn phần: Ánh sáng bị bẻ cong
Dụng cụ: kéo, băng dính, chai nước ngọt loại to, đèn laze, nước, chậu hứng
nước.
Tiến hành: Dùng kéo đục một lỗ nhỏ gần đáy chai, dán băng dính lên lỗ nhỏ
vừa đục, đổ nước vào trong chai. Chiếu đèn laze qua chai nước, điều chỉnh
để ánh sáng đi qua lỗ thủng. Tháo băng dính để nước chảy ra, bạn sẽ thấy
ánh sáng sẽ bị uốn theo dòng nước.

5.10 Thí nghiệm mô phỏng hiện tượng tán sắc ánh sáng( Vật lý 11,12):
a) Nước biến sắc

10


tailieuonthi

Một số thí nghiệm để HS thực hiện ở nhà:
5.12 Mô phỏng theo tầu ngầm thật (Vật lý 10 về chuyển động bằng phản
lực)
Lấy một quả bóng bay, có hình hơi dài, lồng vào vòi nước để nạp đầy nước.
Tìm một nút chai nhựa đục ở giữa nút một lỗ nhỏ ( đường kính 1-2 mm), đút vào
miệng quả bóng bay, dùng dây cao su quấn chặt lại. Nước trong quả bóng, sẽ có
thể phun qua lỗ nhỏ. Sau đó thả quả bóng chứa đầy nước đó vào trong nước. Do tỷ
lệ của qủa bóng và nút chai nhựa cũng không khác nhau mấy, nên qủa bóng không
nổi nên mặt nước, cũng không chìm xuống đáy nước. Do tác dụng của nước
phun, qủa bóng từ từ tiến về phía trước, tựa như một chiếc tàu ngầm vậy
5.13 Thử nghiệm cách người ta tạo ra sét ( Vật lý 11):
Dụng cụ: Một chiếc rađiô với cần anten kéo dài ra,một quả bóng bay, một chiếc áo
len dày.
Tiến hành: Thí nghiệm được tiến hành trong bóng tối.
1.Cọ quả bóng nhiều lần vào lớp len rồi đưa nó lại gần cần anten của đài.
Chuyện gì sẽ xảy ra?
2.Chuyển đài radio vào sóng AM nhưng không tìm đài nào cả, vặn tiếng
thật nhỏ, nhắc lại thí nghiệm trên và dỏng tai nghe. Bạn nghe thấy gì?
5.14 Chế tạo tên lửa nước: ( Vật lý 10 về chuyển động bằng phản lực) :
Yêu cầu HS làm theo nhóm, đem lên trường phóng thử và chấm điểm.
- Nguyên tắc hoạt động:
Đúng ra, phải gọi là “Tên lửa khí nén và nước” mới đúng. Bởi vì, lực đẩy
chủ yếu của tên lửa là không khí ta bơm vào, nước chỉ là có tính phụ giúp. Gọi
“tên lửa nước” là cách gọi tắt để phân biệt với tên lửa khí nén thuần túy. Lực đẩy
khí nén dễ thấy nhất là khi ta thổi căng một quả bóng bay, đột nhiên thả tay ra, quả

Dùng keo 2 mặt, keo nến, và băng keo màu
bản lớn (5cm) để dán các phần của tên lửa lại
Sau khi hoàn chỉnh

3. Dù
- Dùng vải dù hay ni lon diện tích 1m2 (1m x 1m), cắt tròn
- Xỏ từ 8 (hoặc 12 lỗ)
- Dùng dây dù cắt thành 8 đoạn bằng nhau luồn vào 8 lỗ trên dù
- Cột thắt nút 8 đầu dây

13


tailieuonthi

4. Giàn phóng:
- Chuẩn bị 1m ống PVC đường kính 21mm
- Cắt 4 đoạn dài 15cm
- Cắt 1 đoạn dài 35cm
- 1 đoạn 5cm ống PVC đường kính 40mm
- 3 đầu bịt ống 21mm
- 2 co chữ T
- 8 sợi dây rút nhựa
- 1 van xe máy
- 1 miếng xăm xe
- Keo dán ống nước PVC
- 1 cuộn keo lụa quấn ống nước
a). Khóa tên lửa
o Dùng 6 sợi dây rút nhựa quấn quanh đoạn ống 35cm
o Cộ cố định 6 sợi dây lại và dùng keo nến để gia cố thêm

tailieuonthi

5.14.Chế tạo Kính thiên văn ( Vật lý 11 về bài Kính thiên văn) : yêu cầu
HS chuẩn bị theo lớp, đến lớp lắp ráp kính thiên văn, có thể thực hành quan sát tại
chỗ.
Chuẩn bị :
- Băng dính 2 mặt
-Cưa
-Thị kính (có thể tận dụng cái kính lúp)
-Vật kính (kính lão hoặc kính Viễn Thị) nên mua ở hiệu kính thuốc khoảng 1 Dp,
đường kính khoảng 6,5 Cm tương đương f=1m
-Ống nhựa PVC, khoảng 1m ống nhựa đường kính 60Cm khoảng 20Cm đường
kính 42mm để chứa Thị Kính
1 cái chuyển bậc 65-60 để cố định Vật Kính, 1 cái chuyển bậc 60-50
-một ít keo dán ống nhựa
Lắp theo sơ đồ sau

16


tailieuonthi

III. KẾT QUẢ
1.Chứng minh tính khả thi của phương pháp mới, ưu điểm:
Tuy các thí nghiệm trên chỉ mang tính chất định tính nhưng trong
điều kiện dụng cụ thí nghiệm đang thiếu thốn thì đây cũng là một giải pháp
nên được sử dụng để giúp cho tiết học trở nên sôi nổi hơn. Đây là những thí
nghiệm đơn giản, với những dụng cụ dễ tìm, dễ làm.Vì thế giáo viên có thể
chuẩn bị nhiều bộ thí nghiệm hoặc thông báo trước dụng cụ để học sinh
chuẩn bị trước khi đến lớp..

1. Kết luận:
Tổ chức cho học sinh làm thí nghiệm là rất cần thiết và có vai trò quan trọng
trong việc nâng cao chất lượng của việc dạy và học môn vật lí ở trường THPT,
những thí nghiệm này giúp học sinh nắm vững, đào sâu, mở rộng kiến thức, giúp
học sinh kỹ năng làm các bài tập thực tế hiệu quả hơn.
2.Ý kiến đề xuất: Đối với việc làm thí nghiệm Vật lý:
- Đối với giáo viên: Giáo viên phải có sự chuẩn bị tốt về dụng cụ, thao tác tiến
hành thí nghiệm để nâng cao chất lượng giảng dạy của mình..
- Đối với nhà trường: Cần trang bị đầy đủ phương tiện, dụng cụ thí nghiệm cho
học sinh thực hành. Riêng đối với các bộ thí nghiệm biểu diễn thì mỗi bài thí
nghiệm biểu diễn cần có ít nhất ba bộ, tạo điều kiện cho nhiều giáo viên có dụng
cụ để tiến hành thí nghiệm khi có tiết dạy. (Hiện tại trong trường mới chỉ có một
bộ/một bài).
- Đối với học sinh: Cần học tập kỹ năng quan sát và thực hành những thí
nghiệm đơn giản, tự tập làm một số dụng cụ vật lý để phát huy khả năng nghiên
cứu khoa học..
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ trong quá trình giảng dạy của cá nhân tôi.
Rất mong được sự chỉ bảo và tham gia đóng góp của các cấp lãnh đạo và các
đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Xuân Thọ, ngày 22 tháng 3 năm 2012
NGƯỜI THỰC HIỆN

Phạm Thị Kim Cúc

18


tailieuonthi


Em có mong muốn, kiến nghị gì không?
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguồn tài liệu trên trang web Thuvienvatly.com ( các thí nghiệm vật
lý vui)
2. Phương pháp giảng dạy Vật lý ở trường phổ thông. Tác giả: Nguyễn
Văn Đồng, Nguyễn Trọng Di
- Một số video trên trang web Youtube.com

19


tailieuonthi

MỤC LỤC
Bìa Sáng kiến kinh nghiệm…………………………………………...trang 1
Sơ lược lý lịch khoa học……………………………………………...trang 2
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………..trang 3
2. Thực trạng trước khi sử dụng các biện pháp của đề tài……………trang 3
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận……………………………………………………….trang 4
2. Nhiệm vụ đề tài – Giới hạn đề tài………………………………… trang 5
3. Phương pháp tiến hành……………………………………………..trang 5
4.Cơ sở và thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài..................................trang 5
5.Mô tả phương pháp mới.....................................................................trang 5

–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm:
..............................................................................................
.....................................................................................................................................
..........
Họ và tên tác giả: .................................................... Đơn vị
(Tổ):.....................................
Lĩnh vực:
Quản lý giáo dục

Phương pháp dạy học bộ môn: ...........................

Phương pháp giáo dục 
Lĩnh vực khác: ....................................................

1. Tính mới
- Có giải pháp hoàn toàn mới

- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có 
2. Hiệu quả
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng tại đơn vị có hiệu quả 
3. Khả năng áp dụng
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính
sách:
Tốt 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status