Tiểu luận dự báo dòng tiên hoạt động kinh doanh công ty phi tài chính trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 35

1

CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Dòng tiền đối với doanh nghiệp vô cùng quan trọng như dòng máu trong cơ
thể con người. Do đó, dự báo được dòng tiền sẽ giúp ích cho các nhà đầu tư, các
nhà quản lý đánh giá hoạt động của doanh nghiệp và ra các quyết định kinh tế.
Nghiên cứu về dự báo dòng tiền nhằm xác định được nhân tố có khả năng dự báo
dòng tiền tốt nhất vì vậy rất có ý nghĩa trên cả góc độ lí luận và thực tiễn.
Xét trên góc độ lí luận, vấn đề dự báo dòng tiền đã được đề cập cụ thể tại
nhiều Chuẩn mực Kế toán quốc gia và tại nhiều công trình nghiên cứu (Đỗ Thị
Hồng Nhung, 2014;Nguyễn Hữu Ánh, 2010; Al –Attar, 2003; Barth & cộng sự,
2001; Chotkunakitti, 2005;Ebaid, 2011; Farshadfar & cộng sự, 2008; Mooi, T.L,
2007) [12],[17],[25],[41],[61],[72],[76],[117]. Tuy nhiên, tại các Chuẩn mực Kế
toán chỉ đưa ra các nhận định về các nhân tố nên sử dụng trong dự báo dòng tiền mà
thiếu bằng chứng cụ thể còn các công trình nghiên cứu thì chưa thống nhất được
khả năng của các nhân tố trong dự báo dòng tiền: Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số
24 [1] cho rằng: thông tin về các luồng tiền từ HĐKD khi được sử dụng kết hợp với
các thông tin khác sẽ giúp người sử dụng dự đoán được luồng tiền từ HĐKD trong
tương lai, còn Chuẩn mực Kế toán Hoa Kỳ (FASB, 1978) [77] cho rằng những
người quan tâm tới dòng tiền tương lai của doanh nghiệp thường dựa trên thông tin
lợi nhuận kế toán trong kế toán theo cơ sở dồn tích chứ không phải dựa trên thông
tin dòng tiền trong quá khứ và như vậy theo Barth & cộng sự (2001) [41] thông tin
kế toán theo cơ sở dồn tích hiệu quả hơn thông tin kế toán theo cơ sở tiền trong việc
dự báo dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp. Vì vậy, cần có thêm các nghiên
cứu dự báo dòng tiền để cung cấp bằng chứng bổ sung cho nhận định của Chuẩn
mực kế toán và tổng quan các công trình nghiên cứu dự báo dòng tiền.
Xét trên góc độ thực tiễn, với các nhà đầu tư, các ngân hàng, nhà quản trị tài
chính, ... dự báo được dòng tiền tương lai đóng vai trò vô cùng quan trọng trước khi



3

1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lí luận và kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu có liên
quan trước đây, mục tiêu tổng quát của Luận án là tiến hành xây dựng và kiểm định
các mô hình dự báo dòng tiền từ HĐKDcủa các công ty phi tài chính niêm yết trên
SGDCK TP.HCM. Bên cạnh đó, Luận án cũng tiến hành so sánh khả năng dự báo
của các mô hình để tìm ra mô hình dự báo dòng tiền tốt nhất.
Để đạt được mục tiêu tổng quát này, Luận án đặt ra cácmục tiêu cụ thể sau:
Thứ nhất,khái quát, tổng hợp và hệ thống hóa cơ sở lý luận về thông tin kế
toán theo cơ sở dồn tích và thông tin kế toán theo cơ sở tiền trong các công ty.
Thứ hai, xây dựng và kiểm định mô hình dự báo dòng tiền từ HĐKD của các
công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM trên cơ sở lợi nhuận quá khứ.
Thứ ba, xây dựng và kiểm định mô hình dự báo dòng tiền từ HĐKD của các
công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM trên cơ sở dòng tiền từ HĐKD
trong quá khứ.
Thứ tư, xây dựng và kiểm định mô hình dự báo dòng tiền từ HĐKD của các
công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM trên cơ sở kết hợp dòng tiền
từ HĐKD trong quá khứ và thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích (thành phần dồn
tích gộp chung và thành phần dồn tích cụ thể).
Thứ năm, xây dựng và kiểm định mô hình dự báo dòng tiền từ HĐKD của
các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM trên cơ sở các tỷ suất tài
chính về dòng tiền.
Thứ sáu, xác định mô hình (nhân tố) có khả năng dự báo dòng tiền từ
HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM tốt nhất.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở các mục tiêu nghiên cứu, luận án đặt ra câu hỏi nghiên cứu cụ thể
như sau:

toán dồn tích gộp chung có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ HĐKD của các
công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM.
Giả thuyết 4: Dòng tiền từ HĐKD kết hợp với các thành phần thông tin kế
toán dồn tích cụ thể (chi phí khấu hao TSCĐ, chênh lệch tăng/giảm trong các khoản
phải thu, hàng tồn kho, các khoản chi phí trả trước, các khoản phải trả) có khả năng


5

dự báo đáng kể dòng tiền từ HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên
SGDCK TP.HCM.
Giả thuyết 5: Các tỷ suất dòng tiền có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ
HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM.
Giả thuyết 6: Mô hình kết hợp dòng tiền từ HĐKD và các thành phần thông
tin kế toán dồn tích cụ thể (chi phí khấu hao TSCĐ, chênh lệch tăng/giảm trong các
khoản phải thu, hàng tồn kho, các chi phí trả trước, khoản phải trả) là mô hình có
khả năng dự báo tốt nhất dòng tiền từ HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết
trên SGDCK TP.HCM.

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án:
Luận án này nghiên cứu khả năng của các thông tin kế toán trongquá khứ
trong việc dự báo dòng tiền từ HĐKD trong tương lai. Thông tin kế toán được
nghiên cứu bao gồm: (1) lợi nhuận từ HĐKD trong quá khứ; (2) dòng tiền từ
HĐKD trong quá khứ; (3) các thành phần thông tin kế toán dồn tích gộp chung
(phần chênh lệch giữa lợi nhuận từ HĐKD và dòng tiền từ HĐKD), (4) các thành
phần thông tin kế toán dồn tích cụ thể: chi phí khấu hao TSCĐ, sự thay đổi
tăng/giảm trong các khoản phải thu, hàng tồn kho, chi phí trả trước và các khoản
phải trả; (5) tỷ suất tài chính về dòng tiền.
Phạm vi nghiên cứu

có cùng thời điểm kết thúc năm tài chính vào ngày 31/12 hàng năm, tạo thành
bảng 852 quan sát (852 observations) để nghiên cứu.

1.6 Khung nghiên cứu.
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài luận án, khung nghiên cứu
của Luận án được thể hiện qua Sơ đồ 1.1 dưới đây:


7

Khung lí thuyết, tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Khoảng trống nghiên cứu về dự báo dòng tiền từ
HĐKD của các công ty phi tài chính

Giả thuyết nghiên cứu

Các mô hình kiểm định giả thuyết
nghiên cứu

Lợi nhuận quá khứ
Các tỷ suất dòng
tiền

(5)

(1)

(2)


được xây dựng gồm các mô hình: mô hình lợi nhuận, mô hình dòng tiền quá khứ, mô
hình dòng tiền quá khứ kết hợp với các thông tin kế toán dồn tích gộp chung, mô hình
dòng tiền quá khứ kết hợp với các thông tin kế toán dồn tích cụ thể, mô hình tỷ suất
dòng tiền. Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, hồi quy bình
phương nhỏ nhất thông thường (OLS), hồi quy nhân tố ảnh hưởng cố định (FEM) và
hồi quy nhân tố ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) và hồi quy từng bước. Dựa trên kết
quả thu thập được sau khi xử lý dữ liệu, Luận án tiến hành thảo luận kết quả và đưa ra
các khuyến nghị, đề xuất cho các đối tượng như: nhà quản trị doanh nghiệp, nhà đầu
tư và cơ quan Nhà Nước về khả năng sử dụng các thông tin kế toán trên Báo cáo tài
chính cho công tác dự báo dòng tiền nhằm giúp các đối tượng đưa ra các quyết định
kinh doanh, đầu tư cũng như ban hành chính sách hợp lý.

1.7 Kết cấu Luận án
Luận án gồm có 5 Chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu.
Trong Chương 1, Luận án trước hết trình bày lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
và xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu. Các
mục tiêu nghiên cứu được cụ thể hóa bằng các câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết
nghiên cứu. Bên cạnh đó, Luận án trình bày khái quát mô hình nghiên cứu và các
kết quả nghiên cứu dự kiến sẽ đạt được.
Chương 2: Cơ sở lí luận và tổng quan nghiên cứu về dòng tiền và dự báo
dòng tiền trong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Trong Chương 2, Luận án trình bày các vấn đề lý luận về dòng tiền và dự báo
dòng tiền trong các công ty niêm yết trên TTCK và tổng quan các công trình nghiên
cứu dự báo dòng tiền. Trên cơ sở lý luận và các công trình nghiên cứu đã thực hiện về
dự báo dòng tiền, Luận án chỉ ra khoảng trống trong các nghiên cứu đã thực hiện.
Chương 3: Xây dựng giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu.
Kế thừa cơ sở lí thuyết và tổng quan tài liệu ở Chương 2, Chương 3 Luận án



CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DÒNG
TIỀN VÀ DỰ BÁO DÒNG TIỀN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM
YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
2.1 Cơ sở lí luận về dòng tiền và dự báo dòng tiềntrong các công ty niêm
yết trên thị trường chứng khoán
2.1.1. Đặc điểm thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích và kế toán theo cơ sở tiền
Đặc điểm thông tin kế toán phụ thuộc rất nhiều vào cách ứng xử của kế toán
đối với các nghiệp vụ kinh tế. Nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi nhận trên sổ kế
toán dựa trên cơ sở số tiền thực tế doanh nghiệp đã thu vào hay chi ra được gọi là kế
toán theo cơ sở tiền, dựa trên cơ sở bản chất của nghiệp vụ kinh tế, không phụ thuộc
vào số tiền doanh nghiệp thu hay chi được gọi là kế toán theo cơ sở dồn tích. Mỗi
cơ sở ghi nhận của kế toán đều có đặc điểm riêng. Để phục vụ công tác dự báo dòng
tiền từ HĐKD tương lai, cần tính đến vai trò của cả thông tin kế toán theo cơ sở tiền
và thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích.
Kế toán theo cơ sở dồn tích
Theo kế toán dồn tích, các giao dịch phát sinh doanh thu, chi phí được ghi
nhận tại thời điểm giao dịch đó phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thu, chi tiền
(Bernard, V., & Stober, T., 1989; Chambers, R.J, 1996) [53], [57]. Các khoản chi
phí được ghi nhận trong kỳ phù hợp với doanh thu được tạo ra trong kỳ đó. Báo cáo
tài chính theo cơ sở dồn tích không những cung cấp thông tin về các hoạt động kinh
tế đã xảy ra trong quá khứ mà còn cung cấp các thông tin về nghĩa vụ phải trả tiền
hay quyền được thu tiền trong tương lai. Kế toán theo cơ sở dồn tích được hầu hết
các nước trên thế giới áp dụng. Tại các nước Châu Âu, kể từ năm 1978 chuyển
hướng từ áp dụng kế toán theo cơ sở tiền sang áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích
(Fourth EU Accounting Directive, 1978) [81]. Tại Hoa Kỳ, các doanh nghiệp bắt
buộc phải áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích khi lập Báo cáo tài chính, phải cung


11


12

thu, sẽ phải chi nên giúp các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá bao quát về tình
hình tài chính của doanh nghiệp cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Kế toán theo cơ sở tiền
Kế toán theo cơ sở tiền ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế dựa trên số tiền doanh
nghiệp đã thực thu hoặc đã thực chi. Theo cơ sở này, doanh thu được ghi nhận khi
công ty đã thu được tiền, chi phí được ghi nhận khi công ty đã chi tiền và lợi nhuận
trong kì là chênh lệch giữa số tiền đã thu và số tiền đã chi trong kì đó. Trong các
Chuẩn mực Kế toán và các chính sách kế toán, khi thực hiện kế toán theo cơ sở tiền
mặt không có nhiều quy định về các vấn đề như phương pháp khấu hao tài sản cố
định, phương pháp ghi nhận doanh thu so với kế toán theo cơ sở dồn tích (Elliott và
Elliott, 2007) [73].
Những đặc điểm thông tin kế toán theo cơ sở tiền: thông tin kế toán thiếu
phù hợp,không thể hiện chính xác thời điểm phát sinh các nghiệp vụ: Kế toán theo
cơ sở tiền ghi nhận thông tin tại thời điểm doanh nghiệp nhận tiền và chi tiền mà
không quan tâm tới xuất xứ nghiệp vụ thu tiền hay chi tiền (thời điểm doanh nghiệp
bán được hàng, thời điểm phát sinh nghĩa vụ nợ phải trả). Ngoài ra, thông tin kế
toán theo cơ sở tiền dễ làm cho người sử dụng báo cáo tài chính đánh giá sai về kết
quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp do có sự mất cân xứng về thời điểm ghi
nhận doanh thu và chi phí.
So sánh đặc điểm thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích và theo cơ sở tiền
Thứ nhất, thông tin kế toán theo cơ sở tiền mặt khách quan, dễ hiểu hơn
thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích.
Elliott và Elliott (2007) [73] cho rằng thông tin kế toán theo cơ sở tiền mặt
đáng tin cậy hơn thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích do kế toán theo cơ sở tiền
mặt chỉ ghi nhận những thông tin về dòng tiền thực tế của doanh nghiệp mà không
dự tính trước khả năng phát sinh dòng tiền của doanh nghiệp trong tương lai.
Murdoch và cộng sự (1989) [115] nhận định rằng: các chuyên gia kế toán ưa
chuộng kế toán theo cơ sở dồn tích còn các nhà đầu tư ưa chuộng kế toán theo cơ sở

Tóm lại, kế toán theo cơ sở tiền và kế toán theo cơ sở dồn tích đều có những
đặc điểm riêng nhưng trong thực tế, kế toán theo cơ sở dồn tích được khuyến khích
áp dụng và được áp dụng rộng rãi hơn kế toán theo cơ sở tiền. Thông tin về dòng
tiền khi kế toán theo cơ sở tiền là thông tin bổ sung mà không thể thay thế cho


14

thông tin lợi nhuận khi kế toán theo cơ sở dồn tích (IASB, 2001) [98]. Thông tin về
dòng tiền là thông tin khách quan còn thông tin về lợi nhuận là thông tin hữu ích và
toàn diện. Do vậy, nếu kết hợp thông tin dòng tiền và thông tin lợi nhuận rất có thể
sẽ hữu ích trong công tác dự báo dòng tiền tương lai tại các doanh nghiệp.

2.1.2 Mối quan hệ dòng tiền với tình hình tài chính của các công ty niêm
yết trên thị trường chứng khoán
Dòng tiền trong doanh nghiệp được ví như dòng máu trong cơ thể con người.
Mối quan hệ giữa dòng tiền với tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện
ở các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, dòng tiền là nhân tố quyết định khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp được biểu hiện bằng số tiền doanh
nghiệp có. Một công ty có khả năng thanh toán là một công ty có đủ tiền để trả nợ
và ngược lại. Theo quan điểm của người cho vay, tiền chính là đối tượng để thực
hiện cho vay và đối tượng để trả khoản vay. Theo kết quả khảo sát 266 nhân viên
tín dụng làm việc ở các công ty chuyên cung cấp dịch vụ cho vay ở Mỹ, Fulmer,
Gavin và Bertin (1991) [84]nhận xét rằng 90% nhân viên tín dụng yêu cầu trong hồ
sơ vay vốn phải có báo cáo dòng tiền hiện tại của doanh nghiệp, 80% nhân viên tín
dụng yêu cầu phải có kế hoạch dòng tiền tương lai của doanh nghiệp. Fulmer,
Gavin và Bertin (1991) cho biết: những doanh nghiệp nhận được khoản vay là
những doanh nghiệp có dòng tiền ổn định qua các năm, có lãi ổn định, đáp ứng
được một số tỷ suất tài chính theo yêu cầu cung cấp tín dụng và các yếu tố khách

Thứ tư, thông tin dòng tiền có tác dụng trong dự báo phá sản doanh nghiệp
Beaver (1966) [45] là người đầu tiên tiến hành dự báo khả năng phá sản của
doanh nghiệp thông qua các thông tin kế toán do doanh nghiệp cung cấp. Beaver
(1966) đã sử dụng 33 tỷ suất tài chính và chia thành 6 nhóm. Các doanh nghiệp phá
sản và các doanh nghiệp không phá sản đều được tính các tỷ suất này và Beaver
(1966) đã so sánh các tỷ suất này ở các doanh nghiệp phá sản với doanh nghiệp
không phá sản 5 năm trước khi xảy ra phá sản. Một trong các tỷ suất tài chính quan
trọng được khẳng định có khả năng dự báo phá sản tốt là tỷ suất dòng tiền trên tổng
tài sản. Tỷ suất này có khả năng dự báo sự phá sản chính xác tới 87% nếu dự báo
trước 1 năm, và có độ chính xác tới 79%, 77%, 76% và 68% tương ứng nếu thời


16

gian dự báo trước 2, 3, 4, 5 năm. Ngoài ra, Beaver (1966) [45] cho rằng: tỷ suất
dòng tiền từ HĐKD/ tổng nợ phải trả (dòng tiền từ HĐKD được tính bằng cách lấy
lợi nhuận cộng với khấu hao tài sản cố định hữu hình, khấu hao tài sản cố định vô
hình) là tỷ suất có sai số dự báo nhỏ nhất, đáng tin cậy hơn so với các tỷ suất được
tính dựa trên các thành phần dồn tích của lợi nhuận khi sử dụng để đánh giá khả
năng phá sản của doanh nghiệp. Sau Beaver (1966), Altman (1968, 1977), Chen, C.
(1983) [45],[29],[30],[59] cũng nghiên cứu dự báo khả năng phá sản của doanh
nghiệp dựa trên các tỷ suất tài chính. Kết quả cả hai công trình của Altman (1968,
1977) [29], [30] đều cho rằng tỷ suất khả năng thanh toán nhanh (được tính bằng
tiền và các khoản tương đương tiền trên tổng nợ phải trả ngắn hạn) là nhân tố hữu
hiệu báo hiệu khả năng phá sản của doanh nghiệp.

2.1.3 Phương pháp đo lường giá trị dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của
các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Đo lường giá trị dòng tiền từ HĐKD trước khi ban hành Chuẩn mực Kế
toán Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

phải trả.
Đồng quan điểm với Gombola, M.J and Ketz, J.E (1983a), Greenberg,
Johnson, Ramesh (1986)[93] cũng ước tính giá trị dòng tiền gián tiếp thông qua lợi
nhuận và vốn lưu động của HĐKD. Tuy nhiên, các khoản mục được điều chỉnh có
khác biệt nhỏ: Greenberg & cộng sự (1986) [93] đề cập đến thành phần nợ dài hạn
đến hạn trả và không đề cập cụ thể sự thay đổi của các khoản mục tài sản ngắn hạn
(hàng tồn kho, phải thu khách hàng, chi phí trả trước) như hai nghiên cứu kể trên
mà gộp chung lại. Đồng thời Greenberg & cộng sự (1986) [93] tính toán dòng tiền
từ lợi nhuận điều chỉnh cho các khoản mục phi tiền tệ có trong lợi nhuận tương đối
khác nghiên cứu của Gombola, M.J and Ketz, J.E (1983a) [89] ở việc điều chỉnh lợi
nhuận cho chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại và lợi nhuận của cổ đông
thiểu số.
Bowen, Burstahler và Daley (1986) [47] đã giới thiệu công thức tính toán
giá trị dòng tiền từ HĐKD theo 3 cách: (1) coi dòng tiền từ HĐKD chính là lợi
nhuận từ HĐKD cộng với khấu hao (công thức 2.2), (2) coi dòng tiền từ HĐKD
chính là vốn lưu động từ HĐKD (công thức 2.3), (3) dòng tiền từ HĐKD được tính
do điều chỉnh vốn lưu động từ HĐKD đối với một số khoản mục (công thức 2.4)


18

CFO = NIDPR = NIBEI + DPR (2.2)
CFO = WCFO = NIDPR + điều chỉnh cho một số khoản mục có ảnh hưởng tới lợi
nhuận nhưng không ảnh hưởng đến giá trị vốn lưu động (2.3)
CFO = WCFO – ∆ REC - ∆ INV - ∆ OCA + ∆ AP + ∆ TP + ∆ OCL (2.4)
(Nguồn: Bowen, Burstahler và Daley, 1986) [47]
Trong đó:
CFO: Dòng tiền từ HĐKD
NIDPR: Lợi nhuận HĐKD cộng khấu hao
NIBEI: Lợi nhuận HĐKD trước các khoản mục bất thường và hoạt động

Theo Chuẩn mực Kế toán quốc tế về Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (IAS 7),
dòng tiền từ HĐKD bao gồm: Tiền thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ; tiền thu từ
bản quyền, hoa hồng được hưởng và các khoản doanh thu khác; tiền chi cho nhà
cung cấp hàng hóa, dịch vụ; tiền chi trả cho người lao động và trả thay các khoản
cho người lao động; tiền nộp cho các cơ quan bảo hiểm và thu tiền bồi thường, tiền
lãi được hưởng từ bảo hiểm; tiền nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và tiền thuế thu
nhập doanh nghiệp được hoàn (nếu những khoản này không được xếp vào hoạt
động tài chính hay hoạt động đầu tư); các khoản thu và chi cho các hoạt động mua
bán thương mại. Điều đáng lưu ý ở phương pháp trình bày các khoản lãi tiền vay và
cổ tức được nhận hoặc đã trả theo quy định tại IAS 7 có điểm khác biệt so với các
Chuẩn mực quốc gia khác như Hoa Kỳ hay Việt Nam. Theo IAS 7, các khoản lãi
tiền vay và cổ tức được nhận hoặc đã trả được phân loại vào dòng tiền của HĐKD
hoặc hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính nhưng phải nhất quán: đối với các tổ
chức tài chính thì khoản thu về lãi cho vay và cổ tức và khoản chi trả lãi vay được
tính vào dòng tiền HĐKD; đối với các doanh nghiệp phi tài chính thì có thể lựa
chọn cách báo cáo dòng tiền: các khoản chi tiền lãi và cổ tức có thể báo cáo ở dòng
tiền từ HĐKD hoặc hoạt động tài chính còn các khoản thu tiền lãi vay và cổ tức có
thể báo cáo ở dòng tiền hoạt động đầu tư hoặc HĐKD. Ngoài ra, IAS 7 nhấn mạnh,
tiền chi để xây dựng, mua sắm các tài sản nắm giữ nhằm mục đích cho thuê và để
bán được đề cập tại đoạn 68A của IAS 16 “Nhà cửa, máy móc và thiết bị” được tính
vào dòng tiền HĐKD và tiền thu từ cho thuê và thu từ bán các tài sản trên cũng
được tính vào dòng tiền HĐKD. Tương tự như vậy, đối với các tổ chức tín dụng thì
tiền lãi thu được từ các khoản cho vay được tính vào HĐKD bởi đây là nguồn tạo ra
doanh thu chủ yếu của các tổ chức tín dụng. Đặc biệt, trong một nghiệp vụ có thể


20

liên quan đến dòng tiền của cả hoạt động kinh doanh và dòng tiền của hoạt động tài
chính: khoản trả gốc vay được tính vào tiền chi cho hoạt động tài chính và khoản trả


đầu tư và hoạt động tài chính); tiền chi trả cho người cung cấp hàng hóa và dịch vụ;
tiền chi trả cho người lao động về tiền lương, tiền thưởng, trả hộ người lao động về
bảo hiểm, trợ cấp...; tiền chi trả lãi vay; tiền chi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp;
tiền thu do được hoàn thuế; tiền thu do được bồi thường, được phạt do khách hàng
vi phạm hợp đồng kinh tế; tiền chi trả công ty bảo hiểm về phí bảo hiểm, tiền bồi
thường và các khoản tiền khác theo hợp đồng bảo hiểm; tiền chi trả do bị phạt, bị
bồi thường do doanh nghiệp vi phạm hợp đồng kinh tế. Các luồng tiền liên quan đến
mua, bán chứng khoán vì mục đích thương mại được phân loại là các luồng tiền từ
hoạt động kinh doanh. Như vậy, so với quy định của Chuẩn mực Kế toán quốc tế
IAS 7 và Chuẩn mực Kế toán tài chính Hoa Kỳ, Chuẩn mực Kế toán Việt Nam chỉ
nhất quán ở phần trình bày khoản chi tiền lãi vay vào dòng tiền HĐKD. Đối với
khoản thu chi liên quan tới cổ tức, khoản thu tiền lãi cho vay được hưởng thì quy
định trình bày dù có điểm khác biệt với Chuẩn mực Kế toán Hoa Kỳ nhưng vẫn
thuộc phạm vi cho phép tại IAS 7, cụ thể: khoản chi lãi cổ tức được trình bày ở
dòng tiền hoạt động tài chính, khoản thu lãi cho vay và thu lãi cổ tức được trình bày
ở dòng tiền từ hoạt động đầu tư.
Tóm lại, giá trị dòng tiền thuần từ HĐKDđược xác định có sự khác nhau ở
các quốc gia. Tuy nhiên, phương pháp đo lường dòng tiền theo quy định của Chuẩn
mực Kế toán quốc tế là hợp lý và các nghiên cứu dự báo dòng tiền từ HĐKD nên sử
dụng giá trị dòng tiền lấy trực tiếp từ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phù hợp theo quy
định của Chuẩn mực kế toán quốc tế để có thể so sánh kết quả nghiên cứu trong các
bối cảnh nghiên cứu khác nhau.

2.1.4. Công tác dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh tại các công ty
niêm yết trên thị trường chứng khoán
Khái quát chung về công tác dự báo
Dự báo có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Progrosis”, “Pro” nghĩa là “trước”
còn “grosis” nghĩa là “biết” hay tiên đoán, là hình thức phản ánh vượt trước về thời
gian hiện thực khách quan, đó là kết quả nhận thức chủ quan của con người. Tiên

cổ điển, hóa học và đặt trong phạm vi không gian và thời gian rất khắt khe. Khi kinh
tế, xã hội ngày càng phát triển, cùng với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự thay đổi về
tâm lý và chuẩn mực đạo đức xã hội thì các hiện tượng cần phải dự báo rất phức tạp
đòi hỏi dự báo phải vận dụng các phương pháp thống kê xác suất, do vậy dự báo
không thể hoàn toàn chính xác mà chỉ đạt đến một độ tin cậy nào đó. Cùng với sự


23

phát triển của máy tính và nhiều phần mềm ứng dụng, dự báo ngày càng trở nên
quan trọng và trở thành bộ phận không thể thiếu trong hầu hết các quyết định của
mọi tổ chức. Chaman L.Jain (2006) và David (2000) [56], [64] cho rằng: hiện nay
nhiều tổ chức đang rất cần những chuyên viên biết kĩ thuật dự báo và nhu cầu tuyển
dụng người làm dự báo đang có xu hướng gia tăng đáng kể, nhất là các đơn vị sản
xuất kinh doanh.
Dựa trên phương pháp dự báo có thể chia dự báo thành:dự báo có phương
pháp chính thức và dự báo có phương pháp không chính thức. Các phương pháp
không chính thức phần lớn dựa vào trực giác, cảm tính, phụ thuộc vào kinh nghiệm
và khả năng phán đoán của cá nhân. Các phương pháp này chỉ được sử dụng khi
không có đủ thời gian, dữ liệu và không được trang bị các phương pháp chính thức.
Nói chung, các phương pháp phán đoán cảm tính như thế thường không có độ tin
cậy cao. Các phương pháp chính thức thường được sử dụng phổ biến vì có phương
pháp luận rõ ràng. Các phương pháp chính thức được chia thành phương pháp dự
báo định tính và dự báo định lượng (Wilson, J. Holton & Barry Keating,
2007)[136] như sau:
Phương pháp định tính dựa vào kinh nghiệm và phán đoán của những
chuyên viên, những người quản lí và những chuyên gia. Phương pháp định tính
thường sử dụng khi dữ liệu lịch sử không sẵn có hay có nhưng không đầy đủ, hoặc
không đáng tin cậy hoặc những đối tượng dự báo bị ảnh hưởng bởi những nhân tố
không thể lượng hóa được như sự thay đổi tiến bộ khoa học kỹ thuật. Dự báo định

Dự báo

Sơ đồ 2.1: Phương pháp luận của dự báo nhân quả
(Nguồn: Ramanathan, 1998)[124]

Trong nghiên cứu dự báo dòng tiền từ HĐKD, sử dụng phương pháp nghiên
cứu định lượng là phù hợp bởi đối tượng nghiên cứu là dòng tiền từ HĐKD là thông
tin đã được lượng hóa, kết quả nghiên cứu định lượng được, cụ thể được.
Vai trò của công tác dự báo dòng tiền
Con người có thể dự báo mà không ra quyết định nhưng không thể ra quyết
định mà không tiến hành dự báo (Beaver, 1966) [45]. Dự báo tốt có đóng góp đáng


25

kể đến nhiều quyết định hàng ngày của con người nói chung và các cơ quan quản lý
Nhà nước và doanh nghiệp nói riêng (Block, B., 1999; Call, A., Chen, S., & Tong,
Y. , 2009) [51], [54]. Xét trong phạm vi doanh nghiệp, dự báo dòng tiền có những
đóng góp quan trọng như sau:
Thứ nhất, dự báo về dòng tiền tương lai rất hữu ích trong định giá doanh
nghiệp.
Pae, J. & Yoon, S.S (2012) [119] đã công bố kết quả của cuộc thăm dò đối
với các chuyên gia tài chính và đã khẳng định dự báo dòng tiền rất quan trọng trong
định giá doanh nghiệp. Khi đánh giá HĐKD của một doanh nghiệp, việc sử dụng dữ
liệu về dòng tiền ít bị sai lệch hơn số liệu về lợi nhuận thuần (Bernstein, 1993) [48]
bởi khi tính toán dòng tiền, một số yếu tố gây ra sai lệch đã bị loại bỏ như khấu hao
của tài sản cố định hữu hình hay vô hình và thuế thu nhập hoãn lại phải trả
(Giacomino & Mielke, 1988) [87]. Bên cạnh đó, một số tác giả (Boyd & Cortese –
Danile 2000/2001; Kremer & Rizzuto, 2000) [46], [102] cho biết: khi tính toán lợi
nhuận thuần theo cơ sở kế toán dồn tích phải sử dụng các phương pháp ước tính,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status