THỂ LỰC CỦA HỌC SINH LỚP 9 TRƯỜNG THCS VĨNH MỸ A
HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
I./ ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa – Hiện đại hóa nhằm tiến
tới “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” Trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích và tạo điều
kiện để phát triển mọi mặt trong đời sống xã hội.
Trong đó việc tập luyện thể dục thể thao là một trong những vấn đề không
kém phần quan trọng trong cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn
hiện nay. Cho nên ngành thể dục thể thao nói chung và thể dục thể chất nói riêng
luôn luôn tiếp thu, bổ sung, đổi mới và ngày càng hoàn thiện để có thể đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Hoàn thiện về thể chất để có thể phát triển
một cách toàn diện, nhịp nhàng, hài hòa kể cả về hình thái và chức năng thể lực.
Vì thể lực cường tráng mới có khả năng thích ứng tốt nhất với điều kiện sản
xuất, chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc.
Trường THCS Vĩnh Mỹ A đang được sống trong điều kiện hiện vật chất
lẫn tinh thần cao hơn hẳn so với cha ông thuở trước. Theo lẽ tự nhiên, khi cơ thể
được đáp ứng đầy đủ chất dinh dưỡng, điều kiện cơ sở vật chất, tinh thần được
nâng cao sẽ là tiền đề tốt cho sự phát triển các tố chất thể lực cũng như sức khỏe
con người. Tuy nhiên, qua nhiều năm theo dõi kết hợp với cân, đo, đong, đếm ở
học sinh Lớp 9 trường THCS Vĩnh Mỹ A , tôi thấy khả năng của các em so
với “ Tiêu chuẩn rèn luyện thân thể” (áp dụng cho học sinh THCS hiện nay)
đang có chiều hướng chựng lại và giảm sút ở nhiều mức độ khác nhau.
Nguyên nhân nào dẫn đến sự bất cập ở trên? Làm thế nào để giúp học
sinh phát triển hài hòa giữa dáng vẻ bên ngoài và thể chất – sức khỏe trong khi
điều kiện sống của các em ngày càng được đáp ứng tốt hơn? Đó là điều bản thân
tôi luôn trăn trở và tìm hướng giải quyết.
1
2’6”
4- Chống đẩy nam 30’’; nữ 10’’
16 lần
4 lần
Ghi chú
Thay cho đẩy
tạ
Khá
1- Chạy nhanh 80 m (s)
12”2
14”00
2- Bật xa tại chỗ (cm)
205cm
170cm
3- Chạy 1000m nam; 500m nữ (Ph,s)
3’55’’
3’45’’
1’50’’
4- Chống đẩy nam 30’’; nữ 10’’
24 lần
8 lần
Thay
cho
đẩy tạ
2
Bảng 2a: - KẾT QUẢ THU ĐƯỢC CỦA (NAM) QUA
KIỂM TRA ĐẦU NĂM HỌC:
Năm học; số
Mức tỉ lệ%
Nội dung
lượng; chiều cao,
0
- Cao TB: 1m53
3- Chạy 1000m
28 (46,7)
35 (58,3)
2 (3,3)
0
Nặng TB:44,5 kg
- 2011 - 2012
4- Chống đẩy 30”
1- Chạy 80m…
21 (35)
18 (37,0)
37 (61,7)
28 (46,3)
2 (3,3)
19 (16,7)
19 (29,2)
8 (16)
31 (47,7)
22 (44)
8 (12,3)
12 (24)
7 (10,8)
8( 16)
- Nặng TB:46,5 kg
- 2012 - 2013
- 50 học sinh
2- Bật xa
7 (14)
25 (50)
12 (24)
6 (12)
- Cao TB:1m54
3- Chạy 1000m
12 (21,8)
13(23,6)
- Cao TB:1m56
3- Chạy 1000m
4 (7,3)
25 (45,5)
14 (25,5)
12(21,8)
-Nặng TB:46,5 kg
4- Chống đẩy 30”
8 (14,5)
32 (58,2)
10 (18,2)
05 (9,1)
- Nặng TB:46,2 kg
5 (10)
đạt %
0
-50 học sinh:
2- Bật xa tại chỗ
14 (28)
25 (50)
11 (22)
0
- Cao TB: 1m52
3- Chạy 500m
16 (32)
28 (56)
6 (12)
0
- Cao TB:1m53
3- Chạy 500m
10 (22,2)
18 (40)
12 (26,7)
5(11,1)
4- Chống đẩy 10”
1- Chạy 80m
11 (24,4)
3 (13,0)
20 (44,4)
13 (56,5)
8 (17,8)
5 (21,7)
6(13,3)
2(8,7)
- 23 học sinh
2- Bật xa 5 tại chỗ
11 (24,4)
20 (40)
7 (30,4)
10(20)
2(8,7)
12(24)
- 50 học sinh
2- Bật xa tại chỗ
7 (14)
25 (50)
11 (22)
7(14)
- Cao TB:1m58
3- Chạy 500m
5 (10)
23 (46)
12 (24)
3. Nguyên nhân :
Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến đó là quy mô “gia đình ít con” cùng với
sự quan tâm “ trên mức cần thiết” của nhiều phụ huynh vô tình đặt lên vai nhà
trường phổ thông gánh nặng phải giải quyết về sự hài hòa giữu hình thái bên
ngoài với sức khỏe, thể chất của con em họ.
Sự chu đáo thái quá của các bậc phụ huynh làm cho sản phẩm ăn theo liên
tục phát triển là mối lợi bất đến con em chúng ta. Sữa, chất dinh dưỡng liên tục
được cải tiến về chất lượng, bổ sung nhiều DHA, vitamin, muối khoáng… nhằm
trị biếng ăn, tăng cường chiều cao, trí thông minh… ở một mức độ nào đó đã cải
thiện được hình hài dáng vóc cho con em chúng ta nhưng nó cũng làm cho
không ít trẻ bị “suy dinh dưỡng ngược” suy dinh dưỡng thể phù ở Việt Nam
hiện nay không còn là chuyện lạ.
Sức khỏe, thể lực của học sinh vì thế mà bị ảnh hưởng theo chiều hướng
không tốt.
Nguyên nhân thứ hai phải kể đến là các loại hình vui chơi giải trí hiện tại
không những làm mai một bản sắc và văn hóa dân tộc, mà còn bào mòn thể chất,
sức khoẻ của con người nói chung và lứa tuổi học sinh nói riêng. Đã có không ít
trường hợp gục ngã trên bàn phím bởi thiếu ăn, thiếu ngủ, thiếu vận động vì sự
hấp dẫn của game online và các chò chơi điện tử khác ( báo tuổi trẻ ra ngày 203-2007 đã đăng).
Nguyên nhân thứ ba phải kể đến là sự “ đói vận động”. Vấn đề này thể
hiện ở nhều khía cạnh : lượng học sinh ngày một đông trong khi không gian
trương lớp không lập mở rộng( diện tích trường THCS Vĩnh Mỹ A gẩn 2300m2,
không gian ngoài trường học ngày càng bị hẹp do tốc độ phát triển đô thi hóa;
bản thân học sinh chưa ý thức tốt vấn đề tự rèn luyện (ít phải lao động chân tay
ít vận động nên càng “đói vận động”).
5
Bên cạnh đó cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học bộ môn thể dục còn
Sức nhanh (một trong những tố chất quan trọng nhất) là khả năng hoạt
động với tốc độ cự hạn. Các hình thức biểu hiện sức nhanh gồm;
- Thời gian tiềm phục của phản ứng vận động
- Tốc độ của động tác đơn
- Tốc độ ban đầu của động tác
- Tần số của động tác.
Những yếu tố ảnh hưởng đến sức nhanh gồm :
- Độ linh hoạt của các quá trình thần kinh.
- Sức mạnh tốc độ.
- Đàn tính có bắp và khả năng thả lỏng.
- Trình độ kỹ thuật.
- Sức mạnh ý chí.
- Các cơ chế sinh hóa đảm bảo cho động tác mang tính chất tốc độ.
Xuất phát từ những yếu tố trên, để phát triển sức nhanh tôi thường sử
dụng các bài tập lập lại nhiều lần vời tốc độ nhanh gần bằng tốc độ cực hạn hoặc
cố gắng nhanh hơn khả năng (chạy tăng tốc các đoạn ngắn 30m – 40m). Tập
nâng cao tần số bước (chạy bước nhỏ theo nhịp vỗ tay tăng dần…), chạy xuống
dốc cầu, thi đấu trước kiểm tra… nhằm tăng tính hưng phấn, kích thích khả năng
thực hiện bài tập với tốc độ tối đa.
Bên cạnh đó, khi tập phát triển sức mạnh, phát triển tốc độ, nếu chỉ sử
dụng các bài tập đơn điệu kéo dài và không đề ra các yêu cầu cao đối với cơ thể,
đối với sự phát triển thể lực và phẩm chất ý chí sẽ dẫn đến sự kìm hãm tốc độ
(còn gọi là hiện tượng “Chặn tốc độ”). Để phá bỏ hiện tượng này về nguyên tắc
cần phải thực hiện những động tác hết sức nhanh, trong các điều kiện dễ hơn
bình thường. Có thể sử dụng những biện pháp sau:
+ Lập lại các động tác với tốc độ hết sức nhanh có tập trung cao độ ý chí
và tâm lý.
+ Hướng các hành động vào đích cụ thể: Chạy theo vật dẫn, nhảy chạm
thể sử dụng đa dạng các bài tập hoặc tổ hợp bài tập sức mạnh khác (bài tập khắc
phục trọng lượng bản thân, trọng lượng phụ; bài tập khắc phục sức mạnh đối
kháng cùng bạn tập, bài tập trên các thiết bị chuyên dùng…).
Sức mạnh thể hiện phù hợp với các yêu cầu của môn học cụ thể gọi là sức
mạnh chuyên môn. Sức mạnh chuyên môn được phát triển thông qua việc sử
8
dụng các bài tập mang đặc điểm cấu trúc giống với môn TT đã chọn (có thể toàn
bộ hoặc từng phần). Trong tập luyện, cần dành sự chú ý đặc biệt đến các bài tập
có trọng lượng như: ném đẩy các dụng cụ nặng, các bài tập nhảy có mang theo
một vật nặng trên vai hoặc ở chân (tạ, bao cát nhỏ, chì…) bời vì trong các bài
tập như vậy, cấu trúc động tác ít bị thay đổi và sức mạnh được phát triển trong
điều kiện gần giống với môn học của các em.
Các bài tập phát triển sức mạnh được sử dụng nhiều trong thời kỳ chuẩn
bị và giảm trong thời kỳ trước kiểm tra, thi đấu. Các bài tập chuyên môn chủ
yếu mang đặc điểm sức mạnh vẫn được sử dụng trong thời kỳ kiểm tra, thi đấu.
Những bài tập này sẽ có tác dụng duy trì sức mạnh đã đạt được (thậm chí trong
nhiều trường hợp nó còn có tác dụng nâng cao).
Các bài tập phát triển sức mạnh yêu cầu gắng sức và nổ lực lớn thường sử
dụng gián đoạn trong tuần (đứng lên ngồi xuống trên 1 chân: tuần tập 3-4 buổi;
chạy nâng cao gối chạm tay, tuần tập 2-3 buổi; bước bục cao 40-50cm tuần tập
3-4 buổi. Nâng tạ, giật tạ 60-70% trọng lượng cơ thể ở nhà 3 buổi/ tuần). Các
bài tập trong lượng nhẹ sử dụng tập hàng ngày (nắm bóng cao su nhỏ, tạ đôi…)
c. Phát triển sức bền:
Sức bền là khả năng khắc phục sự mệt mỏi nhằm hoạt động trong thời
gian dài với cường độ nhất định và có hiệu quả. Người ta chia tố chất bền ra
thành nhiều loại: sức bền chung, sức bền chuyên môn, sức mạnh bền, bền tĩnh
lực, bền động lực, bền yếm khí, bền hiếu khí… trong khuôn khổ của đề tài này,
tôi đề cập đến 2 yếu tố cơ bản đó là sức bền chung và sức bền chuyên môn.
tần số động tác (thường 2-3 bước chạy hít vào, 2-3 bước chạy thở ra); chú ý thở
sâu và kéo dài thời gian tập luyện.
- Nghỉ giữa quảng hợp lý (từ 1 1,5 phút), không nên nghỉ quá 3-4 phút.
Nghỉ giữa quảng không nên ngưng tập đột ngột mà nên chạy chậm kết hợp rũ ta
chân và hít thở sâu để nhanh hồi phục và giữ được hưng phấn.
d. Tập luyện phát triển độ mềm dẻo:
Mềm dẻo được coi là tố chất rất cần thiết đối với học sinh vì nó giúp các
em thực hiện được động tác với biên độ lớn. Độ mềm dẻo của học sinh phụ
thuộc vào hình dạng khớp, độ linh hoạt của côt sống, tính đàn hồi của dây
chằng, gân và cơ, trương lực của cơ.
10
Độ mềm dẻo thay đổi tùy thuộc vào các điều kiện bên ngoài khác nhau
cũng như trạng thái của cơ thể học sinh. Ví như độ linh hoạt các khớp sẽ kém
nhất sau khi ngủ và ăn, khi bị bệnh và mệt mỏi. Độ linh hoạt sẽ tăng lên sau khi
khởi động, làm nóng cơ. Tình trạng của hệ thần kinh trung ương cũng có ảnh
hưởng đến độ mềm dẻo.
Để tăng sự đàn hồi của gân và cơ cần sử dụng các bài tập chủ động và thụ
động được thực hiện với sự giúp đỡ của bạn tập cùng chiều cao, cân nặng. Các
bài tập phát triển độ mềm dẻo có thể cho học sinh tự ở nhà trong khoảng 15-20
phút. Hợp lý nhất là nên sử dụng vào buổi tập thể dục sáng.
Trong thời kỳ đầu cần dành nhiều thời gian hơn để phát triển độ mềm dẻo.
Khi đã đạt được độ mềm dẻo ở mức cần thiết thì có thể huy trì mức đạt được
bằng các bài tập mà không mấy khó khăn. Nếu ngừng tập các bài tập chuyên
môn về mềm dẻo thì mức phát triển độ mèm dẻo có thể dần dần bị giảm sút và
quay lại mức khởi điểm.
(Các động tác phát triển độ mềm dẻo không nhiều, khoảng 5-6 động tác.
Bản thân tự tập được các động tác đá lăng, ép ngang, dọc, gập duỗi người theo
chiều cao, cân nặng, sở thích, thái độ khi tập TDTT, hoàn cảnh gia đình…) ngay
từ đầu để ngoài giúp các em phát triển thể lực chung còn phải hướng cho các
em các bài tập riêng phù hợp với sở trường, điều kiện hoàn cảnh bản thân.
Trong quá trình hướng dẫn tập luyện không được nóng vội, hoặc “đốt
cháy giai đoạn” mà nên tập từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều, từ nhẹ đến nặng, từ
đơn giản đến phức tạp. Những động tác mới hoặc khó không nên đặt yêu cầu
cao quá mà chỉ nên cho các em tập đúng các phần cơ bản của động tác. Khi sửa
chữa sai sót cần tránh những biện pháp cứng nhắc mà phải dựa trên khả năng,
trình độ của học sinh để nhắc nhở, hướng dẫn giúp các em sửa chữa, tạo điều
kiện cho các em tự sửa chữa cho nhau và cho chính mình. Bên cạnh đó, giáo
viên cũng cần động viên, khích lệ giúp các em có thêm ý chí, niềm tin mới mong
có được kết quả khả quan.
Tóm lại: Muốn có sức khỏe, thể lực tốt, cơ thể phát triển hài hòa cân đối
thì ngoài việc đáp ứng đầy đủ chất dinh dưỡng, hợp vệ sinh, còn cần phải
thường xuyên tập luyện TDTT. Trong lĩnh vực tập luyện TDTT, người thầy phải
có tâm, có tầm; học trò phải tự giác, tích cực và thật sự cầu tiến để hợp tác cùng
12
thầy mới đem lại kết quả như mong muốn. Hay nói cách khác: thầy và trò cùng
thiết kế, trò là người thi công dưới sự giám sát của thầy.
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ:
- Muốn phát triển tốt thể lực, sức khỏe cho học sinh rất cần sự phối hợp
chặt chẽ giữa nhà trường và xã hội. Chúng ta phải biết nói “không” với những
đòi hỏi thái quá của lớp trẻ hiện nay và không nên làm thay những việc các em
có thể làm được. Có như vậy sự thiếu thốn vận động ở các em mới phần nào
được cải thiện.
- Chương trình giảng dạy TDTT trong nhà trường phổ thông cũng như
cách đánh giá hiện nay của chúng ta cần phải được xem lại, bố trí buổi học riêng