Hiệu trưởng chỉ đạo sinh hoạt chuyên môn có sự tham gia của cộng đồng - Pdf 35

TÊN ĐỀ TÀI :
HIỆU TRƯỞNG CHỈ ĐẠO SINH HOẠT CHUYÊN MÔN
CÓ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài
Ngày 16/10/1968, Bác Hồ gửi bức thư cuối cùng cho ngành Giáo dục nhân
dịp bước vào năm học mới. Trong bức thư, Bác yêu cầu nền giáo dục nước nhà:
«

Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội

chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa
thầy và trò, giữa trò với nhau, giữa các bộ các cấp, giữa nhà trường với nhân dân
để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó. Giáo dục cần đào tạo những người kế tục sự
nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta, do đó các ngành các cấp đảng
và chính quyền địa phương phải thật sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, phải
chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đưa sự nghiệp giáo dục của chúng ta lên những
bước phát triển mới ».
Luật Giáo dục của Việt Nam cũng nêu rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và
nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tính chất, nguyên lý giáo dục: Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã
hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Hoạt động giáo dục phải được thực
hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất,
lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình
và giáo dục xã hội.”
Để thực hiện tốt các mục tiêu trên trường Tiểu học Lê Hồng Phong đã và
đang thực hiện Mô hình trường học mới VNEN, sau gần 3 năm thí điểm thực hiện
mô hình này thì nhiều cha mẹ học sinh vẫn băn khoăn không biết mô hình này có

vấn, hỗ trợ các vấn đề cần điều chỉnh thông qua các cuộc họp, giao lưu toàn trường
các vấn đề thông qua các hoạt động tập thể: Xây dựng kế hạch hoạt động của cộng
đồng, thư viện lớp học,hòm thư góp ý, góc cộng đồng, sơ đồ cộng đồng.
2


II. NỘI DUNG
II.1. Cơ sở lý luận
Căn cứ công văn số 5173/BGDĐT-GDTH ngày 10/8/2012 của Bộ giáo dục
và đào tạo về thực hiện tập huấn mô hình trường học mới VNEN,
Căn cứ công văn số 6444/BGDĐT-GDTH ngày 28/9/2012 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về hướng dẫn hoạt động dạy học và đánh giá quá trình học tập của học
sinh ở các lớp triển khai mô hình trường học mới VNEN.
Căn cứ tài liệu Hướng dẫn sự tham gia của cộng đồng theo mô hình trường
học mới tại Việt Nam của Vụ giáo dục tiểu học.
Căn cứ công văn Số1130/SGDĐT- VNEN ngày 15 tháng 9 năm 2014 của Sở
Giáo dục và Đào tạotỉnh Đăk Lăk V/v Xây dựng Trường điểm VNEN
Dự án Mô hình trường học mới VNEN tại Việt Nam được triển khai thử
nghiệm trên diện rộng từ năm học 2012- 2013, trường tiểu học Lê Hồng Phong
được tham gia Dự án: Năm học 2012-2013, áp dụng cho học sinh lớp 2 và lớp 3;
năm học 2013-2014 áp dụng cho học sinh lớp 2, lớp 3 và lớp 4; Năm học 20142015 học sinh từ lớp 2 đến lớp 5.
Vì sao dạy học theo Mô hình trường học mới cần phải có sự tham gia của
cộng đồng? Cộng đồng là nơi trẻ sinh sống và áp dụng những gì chúng học được ở
trường học. Trẻ em chỉ có thể học tập hiệu qủa nhất trong môi trường thân thiện và
an toàn ngay trong chính cộng đồng.
Cộng đồng cung cấp nguồn thông tin giá trị và các kiến thức thực tiễn để
giáo viên và học sinh có thể ứng dụng trong nội dung dạy học.
Thông qua cộng đồng giáo viên, nhà trường có thể huy động mọi nguồn lực
cần thiêt để tăng cường cơ hội học tập, vui chơi cho tất cả học sinh, phòng ngừa
những tình huống nguy hiểm; qua đó nâng cao chất lượng giáo dục và tạo ra sự

trong việc chuẩn bị đồ dùng dạy học.
- Một số cha mẹ học sinh chưa thật sự tin tưởng vào hiệu quả của Dự án Mô
hình trường học mới Việt Nam.
c.Thành công, hạn chế
Thành công của nhà trường khi thực hiện mô hình này đối với học sinh: Đây
là mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc
điểm của giáo dục. Các phòng học dạy theo mô hình VNEN được bố trí giống như
phòng học bộ môn, thư viện linh động với đồ dùng dạy và học sẵn có để HS tham
4


khảo; góc đồ dùng học tập, góc cộng đồng, góc trưng bày sản phẩm... Mô hình
VNEN thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo nguyên tắc lấy HS làm trung
tâm, học tập mang tính tương tác và phù hợp với từng cá nhân HS; chuyển việc
truyền thụ của GV thành việc hướng dẫn HS tự học. Lớp học do HS tự quản và
được tổ chức theo các hình thức, như: Làm việc theo cặp, làm việc cá nhân và làm
việc theo nhóm, trong đó hình thức học theo nhóm là chủ yếu. Học sinh được học
trong môi trường học tập thân thiện, thoải mái, không bị gò bó, luôn được gần gũi
với bạn bè, với thầy cô, được sự giúp đỡ của bạn học trong lớp, trong nhóm và
thầy cô, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi các em. học sinh khá giỏi được phát huy,
học sinh còn hạn chế, yếu kém được học sinh của nhóm và giáo viên giúp đỡ kịp
thời ngay tại lớp.
Quản lý lớp học là “Hội đồng tự quản học sinh” do các em bầu ra và đảm
nhiệm, đây là một biện pháp giúp học sinh được phát huy quyền làm chủ quá trình
học tập. Học sinh còn có điều kiện hiểu rõ quyền và trách nhiệm trong môi trường
giáo dục, được rèn luyện các kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng tham gia, kỹ năng hợp tác
trong các hoạt động; đồng thời, xây dựng không gian lớp học với “Góc học tập”,
“Góc cộng đồng”, “Thư viện lớp học”, mở nhiều “hòm thư vui”, hòm thư “Điều
em muốn nói” cũng như trang trí lớp học, tạo ra môi trường giáo dục thân thiện, an
toàn.

của Mô hình Trường học mới, rõ ràng mô hình này đang giúp chúng ta
từng bước khắc phục được những hạn chế đó.Ở mô hình nhà trường hiện
nay, giáo viên dạy theo lối truyền đạt kiến thức một chiều, với Mô hình
Trường học mới, học sinh được tự học và giáo viên là người đứng ra tổ
chức, hướng dẫn học sinh tự học. Theo mô hình mới, học sinh chủ động
học tập và thường xuyên rèn luyện phương pháp tự học. Đây là tiền đề
cho việc xây dựng xã hội học tập, vì muốn xây dựng xã hội học tập thì
từng thành viên trong xã hội phải biết tự học, có hứng thú học tập.
• Điểm mạnh
Có thể thấy mô hình trường học mới có thể đáp ứng được nhiều
mục tiêu giáo dục, gắn kết tốt hơn nhà trường với gia đình và xã hội; gắn
lý luận với thực tiến, gắn học đi đôi với hành. Mô hình này đáp ứng được
nhiều yêu cầu của công cuộc đổi mới căn bản, toàn diên và bước đầu ứng
dụng có hiệu quả ở địa phương trên địa bàn trường đóng.
• Điểm yếu
6


Nếu học sinh đọc, viết yếu thì tiếp cận với mô hình trường học mới
rất khó khăn, vì tiếp cận với mô hình trường học mới các em phải đọc tài
liệu nhiều.
Một số ít cha mẹ học sinh trình độ thấp khó khăn trong việc hướng
dẫn học sinh các hoạt động ứng dụng.
e. Phân tích
Nhà trường chỉ đạo bộ phận chuyên môn, các tổ chuyên môn, giáo viên phải
làm tốt công tác tuyên truyền đến phụ huynh và nhân dân, đặc biệt là cha mẹ học
sinh có con học Dự án mô hình trường học mới VNEN, nắm rõ chủ trương thử
nghiệm dự án của Bộ GD&ĐT, nắm được cơ bản cách thức tổ chức giảng dạy và học
tập theo mô hình này. Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên giảng dạy đánh giá kết quả học
tập của học sinh theo các tiêu chuẩn như: đánh giá hoạt động học tập, sự tiến bộ và

và học tập tương tác trong nhóm chưa cao; hoạt động của HĐQT chưa
thường xuyên, có nơi giao cả phần việc của GV cho HĐTQ; công cụ học
tập chưa phong phú, hiệu quả sử dụng hạn chế, có trường hợp chỉ để
trang trí cho đẹp lớp học.
Việc huy động nguồn lực từ cha mẹ học sinh, cộng đồng còn hạn
chế, vẫn còn tâm lý chờ đợi sự hỗ trợ của Dự án, tạo ra sự trở ngại cho
việc áp dụng và nhân rộng mô hình.
Ban giám hiệu tăng cường công tác kiểm tra, khảo sát chất lượng, tổ chức
các hội thảo để học tập, chia sẻ kinh nghiệm giữa các tổ chuyên môn, các trường,
cụm trường, nhân rộng mô hình cho các lớp không thực hiện dự án để áp dụng linh
hoạt phương pháp dạy và học của mô hình, phát huy tính tích cực mà mô hình
trường học mới VNEN đem lại, góp phần trong việc đổi mới căn bản, toàn diện
nền giáo dục Việt Nam nói chung và của nhà trường nói riêng.
Để hướng dẫn sự tham gia của cộng đồng theo Mô hinh trường học mới nhà
trường đã chỉ đạo chuyên môn thực hiện tốt các nội dung sau:
- Công tác truyền thông với cộng đồng về mô hình trường học mới;
- Cộng đồng tham gia huy động trẻ đến trường;
- Cộng đồng tham gia xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực;
- Cộng đồng tham gia xây dựng và bảo quản, sử dụng cơ sở vật chất lớp;
học;
- Cộng đồng tham gia giúp trẻ liên hệ nội dung bài học với thực tế địa
phương và phát huy năng lực của trẻ tại gia đình.
II.3 Giải pháp
8


Để mô hình VNEN đem lại hiệu quả, nhà trường có những giải pháp trong
quá trình thực hiện: Nhà trường xây dựng kế hoạch truyền thông phù hợp với thực
tế địa phương; xác định những người có trách nhiệm, liên quan đến lĩnh vực giáo
dục cho học sinh của trường học và cộng đồng bao gồm: Hiệu trưởng/phó hiệu

hội các kiến thức liên quan mật thiết đến cuộc sống của các

mới Việt

em. Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn, khích lệ các em

Nam

tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển kĩ
năng giao tiếp, ứng xử bình đẳng; cha mẹ học sinh và cộng
9


đồng cùng tham gia tích cực vào việc chăm sóc và giáo dục
con em
Mô hình trường học mới Việt Nam tập trung vào đổi mới sư
phạm: Đổi mới phương pháp dạy, đổi mới phương pháp
học; đổi mới phương pháp đánh giá, đổi mới tổ chức lớp học
Phương pháp -Phương pháp dạy: Giáo viên không giảng bài để truyền thụ
dạy-học

kiến thức cho học sinh mà hướng dẫn học sinh làm việc với
tài liệu Hướng dẫn học qua hình thức hoạt động nhóm có sự
hỗ trợ của đồ dung học tập; sự tác động của môi trường lớp
học, trường học; mối quan hệ tương tác giữa các học sinh,
giữa học sinh với gia đình và cộng đồng
- Phương pháp học: Học sinh không tiếp thu kiến thức thụ
động mà chủ động làm việc độc lập với tài liệu, thao tác với
các đồ vật, quan sát trực tiếp, phân tích so sánh và tương tác
với các bạn trong nhóm, tương tác với giáo viên và cộng

tự đánh giá, đánh giá của bạn, của giáo viên
Trong qúa trình làm việc nhóm học sinh có cơ hội tranh luận
và đánh giá lẫn nhau. Thông qua đó, giáo viên kịp thời phản
hồi tới học sinh về quá trình làm việc và kết quả học tập của
10


Tổ chức lớp

các em.
Bàn ghế không kê theo kiểu truyền thống

học

Bàn ghế được kê theo nhóm phù hợp với sự tương tác giữa
các học sinh trong nhóm và giáo viên
Ban cán sự lớp được đổi mới thành Hội động tự quản. Hội
đồng tự quản được thành lập là vì học sinh, do học sinh, do
các em tự ứng cử,đề cử,bầu chọn. Học sinh được chủ động
tự quản các hoạt động của lớp.
-Không gian lớp hoc có thêm các công cụ hỗ trợ cho Hội
đồng tự quản tổ chức các hoạt động:
+ Thư viện lớp học
+ Hòm thư góp ý
+ Góc cộng đồng

Sự tham gia

+ Bản đồ cồng đồng
Xây dựng mối liên hệ chặt chẽ,tương tác giữa nhà trường,

Truyền thông về phương pháp dạy và học

13


Cha mẹ học sinh và cộng đồng tham gia vào các tiết sinh hoạt chủ điểm
b. Cộng đồng tham gia huy động trẻ đến trường
Số học sinh của trường hàng năm từ 560 đến 570 em trong đó có gần 200
học sinh dân tộc thiểu số, 80 hs thuộc diện con hộ nghèo và cận nghèo nhiều học
sinh có nguy cơ bỏ học và bỏ học vì vậy tôi đã chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm các
lớp thống kê chính xác số học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Tổ chức các cuộc họp
chi bộ, hội đồng sư phạm để tìm nguyên nhân và biện pháp giúp đỡ học sinh.
Nguyên nhân một số trẻ bỏ học do nhiều lí do nhưng tập trung ở mấy lí do sau:
Tình trạng gia đình nghèo: Một số gia đình học sinh nghèo do cha mẹ làm
nông thiếu đất canh tác, luôn phải vật lộn với những nhu cầu tối thiểu của cuộc
sống như ăn ở, học hành của con cái, nhiều gia đình cảm thấy giáo dục không
thực sự có ý nghĩa với cuộc sống hàng ngày của gia đình họ, do vậy họ không cần
biết con mình cần phải học để làm gì. Có một số cha mẹ học sinh nghĩ cho con đi
làm ra của cải vật chất còn có giá trị hơn những thứ mà trẻ học được từ lớp.
Mâu thuẫn gia đình, thiếu quan tâm chăm sóc: Một số cha mẹ li hôn; tranh
cãi về tiền bạc, say rượu nên không quan tâm đến học sinh, còn chửi mắng, bạo
hành, ngược đải trẻ khiến trẻ đi học thất thường. Vì mưu sinh, vì miếng cơm manh
áo nhiều cha mẹ phải buộc đi làm xa. Học sinh được gửi ở nhà ông bà hoặc người
khác, những người này không có đủ kiến thức, kinh nghiệm giáo dục và chăm sóc
trẻ phù hợp, họ cũng không coi trọng việc học của trẻ.
Ngoài những nguyên nhân trên còn một số nguyên nhân khác khiến trẻ cũng
có nguy cơ bỏ học như trẻ chưa hiểu bài trên lớp, khác biệt về văn hóa, truyền
thống địa phương.
Từ những nguyên nhân khiến trẻ có nguy cơ bỏ học nhà trường đã chỉ đạo
giáo viên chủ nhiệm phối hợp với cộng đồng tham gia huy động trẻ đến trường,

học sinh cùng với học sinh chuẩn bị các bài hát dân ca,điệu múa, nhạc cụ để học
nhạc; các loại cây lương thực, cây lấy thuốc, cây lấy gỗ, cây ăn quả để học các
môn tự nhiên &xã hội…Chia sẻ các thông tin về các hoạt động của địa phương lễ
hội của các dân tộc, khu du lịch, các công trình cộng động, các gia đình chính sách
và có công với cách mạng, cung cấp các địa chỉ người già, người cô đơn để học
sinh giúp đỡ.
Qua công tác tuyên truyền của nhà trường cộng đồng đã rất tích cực tham gia
các hoạt động cùng với nhà trường: Tham dự các cuộc họp với nhà trường và Ban
đại diện cha mẹ học sinh các lớp tổ chức; góp công sức để quét dọn vệ sinh lớp học
15


chuẩn bị chu đáo cho học sinh bước vào năm học mới, góp tiền của để xây tường
rào,trang trí lớp học, trồng và chăm sóc cây xanh, cung cấp các vật dụng cần thiết
để nhà trường thực hiện các hoạt động giáo dục, hỗ trợ bảo vệ nhà trường các dịp
nghỉ lễ, tết, học kì; đánh dấu các địa điểm không an toàn cho học sinh trên sơ đồ
cộng đồng, hướng dẫn học sinh không đến các địa điểm không an toàn như sông,
ao hồ, chú ý các đoạn đường có nhiều điểm giao nhau để phòng tránh tai nạn giao
thong như ngã ba thôn Tân Thắng, trục đưởng tỉnh lộ 2, các đoạn đường khúc
khuỷu từ đường rẫy cà phê ra đường lớn của thôn, buôn; hướng dẫn giáo viên, học
sinh múa hát, các trò chơi dân gian và của địa phương, nhiệt tình tham dự các buổi
nói chuyện về lịch sử, phong tục ở địa phương; cùng với nhà trường thăm viếng
tượng đài ghi danh liệt sĩ xã Eana, thăm viếng gia đình thương binh liệt sĩ.
d.Cộng đồng tham gia xây dựng và bảo quản, sử dụng cơ sở vật chất lớp học
Nhà trường tổ chức các buổi họp với Ban đại diện cha mẹ học sinh nhà trường,
cha mẹ học sinh các lớp, giáo viên chủ nhiệm,trao đổi về những yêu cầu, khó khăn
trong việc tổ chức các lớp học. Cùng liệt kê các việc cần làm để tăng cường cơ sở
vật chất cho các lớp học theo “ Mô hình trường học mới” cần có các điều kiện hỗ
trợ cho việc dạy và học đạt hiệu quả; các điều kiện đó là:
Bảng chỉ dẫn 10 bước học tập

tay với xã hội đảm bảo các điều kiện cần và đủ về cơ sở vật chất tối thiểu của một
trường học, lớp học, đảm bảo đủ cho học sinh như đủ ăn, đủ mặc, đủ sách vở,đồ
dùng học tập để học tốt.Quan tâm và giúp đỡ giáo viên về mặt tinh thần và vật chất
để giúp giáo viên yên tâm dạy học, cung cấp các vật dụng cần thiết để nhà trường,
giáo viên thực hiện các hoạt động giáo dục. Cha mẹ học sinh hiểu rõ các công cụ
hỗ trợ dạy học trong lớp học; những việc lớn huy động toàn bộ lực lượng của cha
mẹ của lớp cùng làm như sửa bàn ghế, làm sơ đồ cộng đồng, làm tủ thư viện huy
động sách tham khảo, tài liệu... cha mẹ học sinh tự phân công mỗi người mỗi việc;
lợi ích đối với học sinh được trải nghiệm cùng bố mẹ tham gia vào công việc tu
sửa lại lớp học cẩn thận, được cha mẹ động viên khuyến khích làm; học sinh thích
thú và có ý thức hơn trong việc sử dụng và bảo quản.
e. Cộng đồng tham gia giúp học sinh liên hệ nội dung bài học với thực tế
địa phương và phát huy năng lực của trẻ tại gia đình
Hàng ngày từ trường trở về gia đình, học sinh đã được lĩnh hội một số kiến
thức, kĩ năng từ bài học. Học sinh cần được liên hệ, ứng dụng kiến thức đã học từ
trường vào thực tể cuộc sống gia đình, địa phương để làm rõ mối quan hệ giữa bài
học với cuộc sống xung quanh. Cha mẹ học sinh những người sinh sống, làm lụng,
17


gắn bó mật thiết với các em và cộng đồng nơi các em sinh sống chính là nguồn
kiến thức, kinh nghiệm thực tế vô cùng quý báu giúp học sinh liên hệ những điều
đã học ở trường với cuộc sống xung quanh.
Khi triển khai “Mô hình trường học mới” nhà trường đã hướng dẫn đội ngũ
giáo viên tìm hiểu và nắm rõ thực trạng tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của địa
phương nơi học sinh sinh sống. Trường tiểu học Lê Hồng Phong có 3 điểm trường,
điểm chính nằm trên địa bàn thôn Tân Thắng, điểm trường thứ 2 nằm trên địa bàn
buôn Eana, điểm thứ 3 nằm trên địa bàn buôn Drai của xã Eana nhưng học sinh
của nhà trường từ nhiều địa phương khác đến học. Dù hoàn cảnh, điều kiện, trình
độ văn hóa, sự hiểu biết của cha mẹ hoc sinh, cộng đồng ở các mức khác nhau,

được thì cha mẹ, người thân vẫn phải quan sát xem các em thực hiện như thế nào
nhằm phát hiện các sai sót và giúp đỡ các em thực hiện tốt hơn. Hoặc gặp các bài
hoạt động ứng dụng quá khó đối với một số cha mẹ học sinh thì cha mẹ và người
thân có thể tìm người khác trong cộng đồng để hướng dẫn các em, hay thông tin
phản hồi lại để giáo viên giúp các em hoàn thành nội dung ứng dụng được tốt
hơn, sau đây là một số ví dụ cụ thể:
Môn Địa lí lớp 4, Bài : Tây nguyên,
Bài C: Hoạt động ứng dụng
Hãy tìm hiểu và giới thiệu về Tây Nguyên
a. Chọn một chủ đề mà em quan tâm ( gợi ý: một lễ hội/ nhà rông/nhạc cụ dân
tộc độc đáo/ một cảnh đẹp…)
b. Với sự giúp đỡ của người thân, em hãy tìm hiểu về chủ đề đã chọn và tạo ra
một sản phẩm ( bài viết, tranh ảnh) về chủ đề đó.
c. Trong buổi học tới, hãy dán sản phẩm của em vào góc học tập và giới thiệu
với các bạn
Đây là hoạt động thiết thực tạo điều kiện cho học sinh áp dụng kiến thức, kĩ
năng đã học được vào tình huống cụ thể, thông qua hoạt động này giúp các em
củng cố và mở rộng kiến thức thông qua việc tiếp xúc với các nguồn tư liệu khác
nhau với gia đình, với cộng đồng. Ở đây học sinh thực hiện các hoạt động trong
môi trường địa phương có thể phải phỏng vấn người lớn ở gia đình hay cộng đồng.
Sau khi các em thực hiện các hoạt động với sự giúp đỡ của cha mẹ học sinh thu
được kết quả khả quan; sản phẩm của các em mang đến lớp phong phú; tranh ảnh
về các lễ hội đua voi, lễ cầu mưa, lễ ăn mừng lúa mới…; các loại nhạc cụ cồng,
chiêng, đàn Tơrưng…
Lớp 4:Môn Hoạt động giáo dục đạo đức, bài 10: Lịch sự với mọi người
19


Ở hoạt động thực hành có Bài tập 3: “ Nói cách khác”
a. Các nhóm đôi nhận phiếu học tập, và thảo luận theo yêu cầu



Cha mẹ học sinh đã cùng chia sẻ với các em công việc giáo viên giao, nhiều
em ứng dụng rất tốt; báo cáo kết quả đã làm được rất tốt biết cùng cha mẹ chọn các
thực phẩm có tại địa phương ( rau muống, rau khoai, rau bí đỏ; các loại đậu cove,
bí xanh, bí đỏ; các thực phẩm thịt, tôm cua); sử dụng các dụng cụ để làm như: Dao,
kéo, đồ gọt, đồ cắt tỉa thực phẩm; dụng cu để đựng, rửa: Tô, rổ rá; dụng cụ để nấu
nồi xoong để nấu ăn.
Trong các buổi họp cha mẹ học sinh có những nhận xét: Sau khi học ở
trường về hiện nay nhiều cháu đã cùng bố mẹ chuẩn bị các bữa ăn cho gia đình rất
chu đáo; biết chuẩn bị các thực phẩm tươi ngon; cha mẹ cùng các cháu chuẩn bị
cho bữa cơm gia đình thêm vui vẻ, khác với trước đây chúng tôi nấu ăn sẵn các
cháu đi học về chỉ ngồi vào ăn sẵn các món do cha mẹ tự nấu, nếu chúng tôi có
việc đi vắng các cháu đã biết tự phục vụ bản thân bằng cách tự chuẩn bị bữa ăn cho
mình không phải phụ thuộc hết vào bố mẹ.

Một số hình ảnh minh họa cộng đồng tham gia giúp học sinh liên hệ bài học

với thực tế địa phương, gia đình.

21


Học sinh hướng dẫn các bạn sinh hoạt theo chủ điểm

Cha mẹ học sinh tham gia vào hoạt động giáo dục đạo đức: Lịch sự với mọi người

22



năng và hoạt động theo từng môn học; đánh giá sự hình thành và phát triển năng
23


lực chung của học sinh như: tự phục vụ, tự quản, giao tiếp, hợp tác, tự học và giải
quyết vấn đề; đánh giá sự hình thành, phát triển các phẩm chất của học sinh về các
chủ đề: yêu quê hương, đất nước, yêu cha mẹ và gia đình, yêu trường lớp và bạn
bè, yêu con người; sự tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm, trung thực, kỷ luật,
chăm học, chăm làm, thích hoạt động nghệ thuật, thể thao.
III. Kết luận, kiến nghị
III.1. Kết luận
Sau gần 3 năm thực hiện nhà trường thực hiện dự án Mô hình trường học
mới trong quá trình chỉ đạo bản thân rút một số kinh nghiệm sau : Mô hình
Trường học mới đáp ứng được nhiều yêu cầu của đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục đào tạo, trước hết đáp ứng mục tiêu dạy chữ - dạy người
trong giáo dục, chú trọng phát triển phẩm chất và năng lực của từng học
sinh. Đây là mô hình đang được đội ngũ giáo viên, cha mẹ học sinh rất
hoan nghênh, hưởng ứng nhiệt tình. Cần xác định rõ nhà trường phải làm
gì, giáo viên làm gì, việc gì phải huy động sự tham gia của gia đình, cộng
đồng, xã hội hóa giáo dục? Có như vậy mới đảm bảo tính hiệu quả và sự
bền vững của dự án. Muốn vậy, một mặt phải làm tốt công tác tuyên
truyền, nhưng mặt khác phải làm thế nào để sau khi dự án kết thúc, chúng
ta vẫn tiếp tục làm được. Với những gì chúng ta đã thấy,không lẽ hết dự
án lại dừng .
Được sự quan tâm và chỉ đạo của PGD&ĐT vê việc xây dưng Trường điểm
VNEN tại trường tiểu học Lê Hồng Phong như là một trung tâm điển hình của
huyện trong việc đi đầu và thực hiện có hiệu quả về đổi mới phương pháp dạy,
phương pháp học, phương pháp đánh giá học sinh, đổi mới tổ chức lớp học, huy
động sự tham gia của cha mẹ học sinh và cộng đồng vào mọi mặt hoạt động giáo
dục, cụ thể là:

học tập của lớp 1. Nếu em nào không đảm bảo chất lượng để vào lớp 2 để
có thể tự học theo mô hình VNEN được, thì nhất định không chuyển các
em lên học lớp 2. Làm sao học xong lớp 1, học sinh không chỉ đọc được,
mà đọc là phải hiểu. Giải pháp công nghệ giáo dục giúp học sinh đọc
được, nhưng đọc phải hiểu mới là yêu cầu đặt ra khi nghiệm thu chất
lượng học tập của học sinh lớp 1. Phải đọc được, hiểu được, thì mới tự
học được. Vì vậy, cần cố gắng đánh giá nghiệm thu chất lượng học tập

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status