BỘ GIÁO DỤC
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA
LÀO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
QUỐC DÂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
ĐỀ TÀI: QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI
CHÍNH Ở TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC LÀO GIAI
ĐOẠN 1995-2005 - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Người thực hiện: Phetsamone PHONEVILAISACK
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Bùi Anh Tuấn
Viêng chăn, tháng 7 năm 2007
BỘ GIÁO DỤC
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA
LÀO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.................4
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI
CHÍNH Ở TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC LÀO ................................................37
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC LÀO. 91
KẾT LUẬN.................................................................................................113
i
DANH MỤC BẢNG HÌNH
Hình 1 Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Điện lực Lào................................41
Hình 2 Giá trị đầu tư của các công trình điện của Tổng công ty điện lực Lào
từ năm 1995- 2005...............................................................................................72
Hình 3 Mô hình quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận về sản xuất kinh
doanh điện của EOL............................................................................................74
Hình 4 Doanh thu trên một kịp chi phí cho SX kinh doanh điện của Tổng
công ty điện lực Lào từ năm 1995 – 2005...........................................................78
ii
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.TS. Mai Văn Bưu,TS. Phan Kim Chiến (chủ biên) – Giáo trình
Quản lý nhà nước về kinh tế, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Việt Nam
2001.
3. TS. Lưu Thị Hương (chủ biên) – Giáo trình Tài chính doanh
nghiệp, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2002.
4. Viện sĩ Võ Đại Lược - Đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt
chiếm tỷ trọng lớn, năng suất lao động thấp, tình trạng thiếu vốn đầu
tư trầm trọng, chính sách giá điện còn nhiều bấp cập, chức năng kinh
doanh và thực hiện các nhiệm vụ công ích của EOL chưa được tách
bạch rõ ràng. Thực tế, những nguyên nhân trên đã làm ảnh hưởng
không nhỏ đến tài chính của EOL.
Trước tình hình đó, để phát triển bền vững và trở thành một tập
đoàn kinh tế mạnh, Tổng công ty Điện lực Lào cần phải cải tiến và đổi
1
mới hoàn thiện một cách toàn diện, đặc biệt là việc hoàn thiện quản lý
tài chính của EOL để đáp ứng với tình hình mới là một yêu cầu cấp
thiết. Vì vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Quá trình đổi mới quản
lý tài chính ở Tổng công ty Điện lực Lào giai đoạn 1995-2005 - Thực
trạng và giải pháp” có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Làm rõ thêm những vấn đề lý luận về quản lý tài chính doanh
nghiệp nhà nước trong kinh tế thị trường.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính của Tổng công ty
Điện lực Lào giai đoạn (1995-2005).
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý tài chính của ...
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: luận văn lấy quá trình đổi mới quản lý tài
chính của Tổng công ty Điện lực Lào làm đối tượng nghiên cứu.
- Phạm vi nghiên cứu: tập trung đi sâu nghiên cứu nội dung quản lý
tài chính của Tổng công ty Điện lực Lào giai đoạn (1995-2005).
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: Phương pháp lịch sử
Quản lý doanh nghiệp là sự tác động của chủ sở hữu đến các hoạt
động của doanh nghiệp; thông qua hệ thống pháp luật, chính sách và
các biện pháp nhằm làm cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đề ra
trong quá trình kinh doanh.
Theo các chuyên gia nghiên cứu tài chính thì tài chính doanh
nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị phản ánh sự vận động
và chuyển hoá các nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo
lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt tới mục tiêu của doanh
nghiệp. Do vậy có thể hiểu: quản lý tài chính doanh nghiệp là tác động
của chủ sở hữu đến toàn bộ quá trình hoạt động của tài chính doanh
nghiệp, thông qua hệ thống pháp luật, chính sách và biện pháp tài
chính nhằm đạt tới các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
4
Hiện nay, quản lý tài chính đối với doanh nghiệp là những quy
định, quy chế của nhà nước, hình thức biểu hiện là những văn bản
pháp luật, luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư... Đối với các doanh
nghiệp, quản lý tài chính còn thể hiện qua các quy chế, quy định ngoài
tính đặc thù, cụ thể của doanh nghiệp và còn phải tuân theo các văn
bản pháp quy của nhà nước có liên quan đến các hoạt động tài chính
doanh nghiệp.
1.1.2 Vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp.
a. Vai trò của tài chính doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng cấu thành của
hệ thống tài chính quốc gia và là khâu cơ sở của hệ thống tài chính
trong nền kinh tế. Tài chính doanh nghiệp có một số vai trò chủ yếu
sau:
- Tài chính doanh nghiệp là một công cụ khai thác, thu hút các
nguồn tài chính nhằm đảm bảo nhu cầu vốn cho đầu tư kinh doanh của
Nhà quản lý sử dụng các công cụ tài chính như đầu tư, lãi suất, giá
mua hoặc bán sản phẩm dịch vụ, tiền lương, tiền thưởng.... để kích
thích tăng năng suất lao động, kích thích tiêu dùng, kích thích thu hút
vốn nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng tỏng hoạt đọng kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Tài chính của doanh nghiệp là một công cụ quan trọng để kiểm
tra các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
6
Thông qua tình hình thu chi tiền tệ hàng ngày, tình hình tài chính
và thực hiện các chỉ tiêu tài chính, lãnh đạo và các nhà quản lý doanh
nghiệp có thể đánh giá tổng hợp và kiểm soát được các mặt hoạt động
của doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời những tồn tại hay khó khăn
vướng mắc trong kinh doanh, từ đó có thể đưa ra quyết định để điều
chỉnh các hoạt động cho phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh.
b. Vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp.
Quản lý tài chính doanh nghiệp giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt
động quản lý doanh nghiệp, nó quyết định tính độc lập, sự thành bại
trong hoạt động kinh doanh.
- Quản lý tài chính là chức năng có tầm quan trọng nhất trong hoạt
động của doanh nghiệp, doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động tốt, mang
lại sự giàu có cho chủ sở hữu khi nó được quản lý tốt về mặt tài chính.
Do vậy, cho dù ở quy mô nào, loại hình doanh nghiệp nào thì vai trò
quản lý ở doanh nghiệp cũng luôn được chú trọng và đề cao.
- Quản lý tài chính doanh nghiệp là một trong những công cụ quan
trọng để quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bởi vì mọi
mục tiêu, phương hướng sản xuất kinh doanh chỉ có thể được thực
hiện trên cơ sở phát huy tốt các chức năng của tài chính doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần
phải có các yếu tố: lao động, vốn và công nghệ.
8
- Vốn là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng được sử dụng
để sản xuất hàng hoá dịch vụ. Do vậy, việc quản lý vốn và sử dụng
vốn sao cho có hiệu quả là hết sức cần thiết.
- Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản
hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục
đích sinh lời. Tài sản của doanh nghiệp bao gồm: tài sản cố định hữu
hình, tài sản cố định vô hình, tài sản lưu động.
+ Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có
hình thái vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một
hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản có liên kết với nhau để thực hiện
được một hay một số chức năng nhất định) có giá trị lớn và có thời
gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, nhưng
vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, như: nhà cửa, máy móc
thiết bị, phương tiện vận tải...
+ Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình hài vật
chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp
đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí thành lập
doanh nghiệp, chi phí về quyền sử dụng đất, chi phí về bằng phát
minh sáng chế, bản quyền tác giả, thương hiệu...
+ Tài sản lưu động: là những tài sản chỉ tham gia vào một chu kỳ
sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, chúng luôn
vận động và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất
kinh doanh được tiến hành liên tục. Tài sản lưu động gồm có: các loại
vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, nguyên vật liệu, hàng
toán, theo dõi chính xác toàn bộ tài sản và vốn hiện có của doanh
nghiệp theo đúng chế độ hạch toán kế toán thống kê hiện hành của nhà
nước, phản ánh trung thực kịp thời tình hình sử dụng, biến động của
tài sản và vốn trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp được quyền sử dụng vốn và quỹ để phục vụ kinh
doanh theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn. Trường
hợp sử dụng các loại vốn và quỹ khác mục đích sử dụng đã quy định
cho các loại vốn và quỹ đó thì phải theo nguyên tắc hoàn trả các quỹ
đó.
Doanh nghiệp được quyền thay đổi cơ cấu tài sản và các loại vốn
để phục vụ cho việc phát triển kinh doanh có hiệu quả, bảo toàn và
phát triển vốn, đồng thời chủ doanh nghiệp có quyền tăng hoặc giảm
vốn điều lệ của doanh nghiệp.
- Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn thì hội đồng thành viên có
quyền quyết định tăng hoặc giảm vốn điều lệ của công ty.
- Đối với công ty cổ phần, hội đồng quản trị có quyền tăng hoặc
giảm vốn điều lệ của công ty.
- Đối với doanh nghiệp tư nhân, việc tăng giảm vốn do chủ doanh
nghiệp quyết định, bằng cách tăng hoặc giảm bớt vốn đầu tư của mình
vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đối với doanh nghiệp nhà nước, việc tăng thêm hoặc giảm bớt
vốn kinh doanh là do nhà nước quyết định.
Việc tăng thêm vốn kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước là do
nhà nước có thể cấp bổ sung vốn cho doanh nghiệp đang hoạt động
khi cần thiết, nhà nước bổ sung vốn cho doanh nghiệp có thể bằng
11
cách cấp vốn trực tiếp từ ngân sách, hoặc điều động từ doanh nghiệp
khác đến, hoặc do doanh nghiệp tự bổ sung từ lợi nhuận sau thuế.
rõ mức độ, nguyên nhân, trách nhiệm và biện pháp xử lý. Nếu do chủ
quan gây ra thì người phạm lỗi phải bồi thường, HĐQT hoặc tổng
giám đốc (đối với doanh nghiệp không có HĐQT) quyết định mức bồi
thường. Khoản chênh lệch giữa thiệt hại và mức bồi thường của
đương sự, nếu thiếu được bù đắp bằng quỹ dự phòng tài chính của
doanh nghiệp. Trường hợp nếu quỹ dự phòng tài chính không đủ bù
đắp thì phần thiếu hụt đựoc hạch toán vào chi phí bất thường trong kỳ.
Đồng thời doanh nghiệp phải tiếp tục theo dõi trên sổ kế toán và đôn
đốc thường xuyên để thu hồi nợ. Số tiền thu hồi được sau khi trừ chi
phí thu nợ, được hạch toán vào thu nhập bất thường của doanh nghiệp.
• Cho thuê, thế chấp, nhượng bán, thanh lý tài sản.
• Cho thuê, thế chấp tài sản
Doanh nghiệp được quyền cho các tổ chức, cá nhân trong nước
thuê sử dụng các tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình, để
nâng cao hiệu suất sử dụng, tăng thu nhập nhưng phải theo dõi thu hồi
tài sản khi hết hạn cho thuê.
Đối với tài sản cho thuê sử dụng, doanh nghiệp phải tính khấu hao
theo chế độ quy định. Doanh nghiệp được đem tài sản thuộc quyền
quản lý và sử dụng của mình để cầm cố, thế chấp vay vốn hoặc bảo
13
lãnh tại các tổ chức tín dụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định của
pháp luật.
- Nhượng bán, thanh lý tài sản.
Nhượng bán: Doanh nghiệp được nhượng bán các tài sản không
cần dùng, lạc hậu về kỹ thuật để thu hồi vốn sử dụng cho mục đích
kinh doanh có hiệu quả hơn.
Thanh lý: Doanh nghiệp đựoc chủ động thanh lý những tài sản kém
• Định giá tài sản góp vốn và đánh giá lại tài sản.
Tài sản góp vốn nếu không phải là tiền Lào, ngoại tệ tự do chuyển
đổi, vàng thì được định giá. Những tài sản đem góp vốn khi thành lập
doanh nghiệp thì các thành viên sáng lập là người định giá các tài sản
đó. Trong quá trình hoạt động, HĐQT công ty cổ phần, hội đồng
thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn là người định giá tài sản góp
vốn.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, việc đánh giá lại tài sản và hạch
toán tăng giảm phần vốn chênh lệch do đánh giá lại tài sản trong các
trường hợp sau:
- Kiểm kê đánh giá lại tài sản theo quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
- Thực hiện cổ phần hoá, chuyển đổi hình thức sở hữu doanh
nghiệp.
- Dùng tài sản để liên doanh, góp vốn cổ phần
15
Việc hạch toán tăng giảm vốn nhà nước phải được cơ quan tài
chính phê duyệt.
b. Huy động vốn và quản lý vốn trong hoạt động đầu tư của
doanh nghiệp.
• Huy động vốn
Doanh nghiệp được vay vốn của các tổ chức tín dụng (các ngân
hàng thương mại, các công ty tài chính...), các doanh nghiệp khác, các
cá nhân (kể cả cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp). Lãi suất
huy động không được vượt lãi suất trần do NHNN quy định.
DNNN được vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn của các tổ chức và
cá nhân nước ngoài để phát triển kinh doanh, theo đúng các quy định
tại quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài ban hành kèm theo nghị
và xây dựng ban hành theo Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999
của chính phủ, Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 của chính
phủ và nghị định 07/2003/NĐ-CP ngày 30/1/2003 của chính phủ về
sửa đổi bổ sung một số điều của quy chế quản lý đầu tư và xây dựng.
Tuỳ theo từng nguồn vốn đầu tư của dự án mà người ta có các quy
định về quản lý vốn đầu tư khác nhau.
- Thẩm quyền quyết định đầu tư.
Theo nghị định số 52/1999 NĐ-CP ngày 8/7/1999, nghị định số
12/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 và nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngày
17