HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
[\
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2011
MÃ SỐ: B.11-22
ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG
ĐỐI NGOẠI CÔNG CHÚNG CỦA VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Cơ quan chủ trì: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chủ nhiệm đề tài: PGS, TS. Phạm Minh Sơn
9115
HÀ NỘI – 2011
DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN
1
PGS, TS. Phạm Minh Sơn
2
PGS, TS. Lưu Văn An
3
công chúng trong thời kỳ hội nhập quốc tế
24
1.1. Quan niệm về đối ngoại công chúng
24
1.2. Vai trò của hoạt động đối ngoại công chúng
28
1.3. Hội nhập quốc tế của Việt Nam và những thời cơ, thách
thức, yêu cầu đối với hoạt động đối ngoại công chúng
1.4. Đối ngoại công chúng trong đường lối, chính sách đối ngoại
đổi mới của Đảng và Nhà nước ta
1.5. Kinh nghiệm hoạt động đối ngoại công chúng của một số
nước trên thế giới
Chương 2. Thực trạng hoạt động đối ngoại công chúng của Việt
Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
35
54
64
97
2.1. Hoạt động đối ngoại công chúng của Đảng và Nhà nước
97
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIÊT TẮT
ASEAN
ASEM
CHDCND
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Diễn đàn hợp tác Á - Âu
Cộng hòa dân chủ nhân dân
CNH
Công nghiệp hóa
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
HĐH
Hiện đại hóa
NVNONN
Người Việt Nam ở nước ngoài
Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại công chúng nhằm giữ vững môi trường
hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận
lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực
vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong quá trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt là từ
khi đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, chủ động và tích cực hội nhập
quốc tế, hoạt động đối ngoại công chúng giữ một vị trí, vai trò quan trọng
không thể thiếu trên mặt trận ngoại giao Việt Nam, góp phần không nhỏ vào
việc thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà
nước ta.
Với chủ trương “mở rộng sự hợp tác và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế”1
được Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng đề ra, Việt Nam đã chủ động và tích
1
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), “Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng”, Văn
kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tập 47
5
cực hội nhập quốc tế. Nhờ thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại “độc lập,
tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ,
chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”2, sau hơn 25 năm đổi mới, Việt Nam
đã đạt được những thành tựu quan trọng trong quan hệ đối ngoại. Từ chỗ bị cô
lập về chính trị, bị bao vây, cấm vận về kinh tế, đến nay Việt Nam đã có quan
hệ ngoại giao với 179 nước, quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với hơn
220 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Việt Nam hiện là thành viên của hơn
60 tổ chức quốc tế và khu vực. Lần đầu tiên trong lịch sử, nước ta có quan hệ
với tất cả các nước, các trung tâm chính trị - kinh tế lớn trên thế giới. Đảng ta
triển, đồng thời đang góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân
dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đối ngoại
công chúng cũng giúp cho nhân dân Việt Nam đón nhận những thành tựu
khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức quản lý, sản xuất cùng những tinh hoa
văn hoá của các dân tộc trên thế giới. Do đó để hội nhập quốc tế ngày càng
trở nên sâu rộng, cần phải tích cực đẩy mạnh hoạt động đối ngoại công chúng
hơn nữa.
Tuy nhiên, hoạt động đối ngoại công chúng thời gian qua cũng bộc lộ
nhiều tồn tại, yếu kém, khuyết điểm cần nhanh chóng khắc phục để đáp ứng
kịp thời những yêu cầu và nhiệm vụ ngày càng cao, ngày càng khó khăn của
quá trình hội nhập quốc tế, của sự nghiệp đổi mới đất nước. Để thực hiện điều
này được nhanh chóng và có hiệu quả cao, cần có những công trình nghiên
cứu các khía cạnh khác nhau của hoạt động đối ngoại công chúng, tạo cơ sở
khoa học cho những hoạt động thực tiễn, tránh việc hoạt động một cách cảm
tính, dựa chủ yếu vào kinh nghiệm và thiếu những chiến lược hoạt động dài
hạn.
Cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại công chúng, một
trong những nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước quan tâm và ưu tiên thực hiện
là đào tạo, nâng cao năng lực nguồn nhân lực làm công tác đối ngoại nói
chung và đối ngoại công chúng nói riêng. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng
nhấn mạnh cần “chăm lo đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối
ngoại; thường xuyên bồi dưỡng kiến thức đối ngoại cho cán bộ chủ chốt các
cấp”4. Hiện nay, cán bộ chuyên trách đối ngoại công chúng ở các cơ quan, tổ
3
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.266
4
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.237
với các khái niệm gần nó là việc làm rất cần thiết hiện nay.
Bên cạnh đó, hiện nay hoạt động đối ngoại công chúng đang được
nhiều quốc gia, đặc biệt là những quốc gia muốn tăng cường sức mạnh, ảnh
hưởng và hình ảnh của mình ra bên ngoài, quan tâm. Nghiên cứu này cũng sẽ
8
cố gắng tìm hiểu, phân tích kinh nghiệm đẩy mạnh hoạt động đối ngoại công
chúng trong bối cảnh toàn cầu hoá của các nước trên thế giới. Thực hiện được
điều này, một mặt sẽ giúp Việt Nam rút ngắn quá trình tìm tòi, thử nghiệm và
đề ra những chính sách hợp lý, phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước
và quốc tế. Mặt khác, giúp chúng ta chủ động, tích cực hơn trong quá trình
hội nhập quốc tế và khu vực.
Những điều nêu trên đã minh chứng cho tính cấp thiết của việc lựa
chọn đề tài nghiên cứu “Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại công chúng của Việt
Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Các nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
Hoạt động đối ngoại công chúng của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
quốc tế là một hướng nghiên cứu rất mới ở Việt Nam. Liên quan trực tiếp đến
chủ đề rộng lớn này là các nghiên cứu về hội nhập quốc tế và đối ngoại công
chúng.
2.1.1.Các nghiên cứu về hội nhập quốc tế của Việt Nam
Kể từ khi đất nước ta thực hiện chính sách đối ngoại đổi mới, mở rộng
quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập, chủ đề về hội nhập quốc tế
của Việt Nam đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Điều này
được biểu hiện một số lượng tương đối lớn sách, công trình nghiên cứu của
các nhà khoa học, các chính khách của Việt Nam. Hội nhập quốc tế của Việt
Nam được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau và trong nhiều lĩnh vực
khác nhau.
thách thức và thời cơ đối với sự phát triển của Việt Nam trong xu thế toàn cầu
hóa hai thập niên đầu thế kỷ XXI và đề ra những phương hướng có tính
nguyên tắc để Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế thành công. Mặc
dù không trở thành một phần nghiên cứu riêng biệt nhưng trong các công
trình nghiên cứu này, các tác giả cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các
luồng thông tin trong xã hội hiện đại – luồng thông tin từ trong nước ra bên
ngoài và luồng thông tin quốc tế vào trong nước.
Bên cạnh đó, những nghiên cứu của Vũ Dương Ninh (2003) “Toàn cầu
hoá và tác động đối với sự hội nhập của Việt Nam”8, của Nguyễn Vân Nam
6
Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Xuân Sầm (2001), Toàn cầu hoá - phương
pháp luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
7
Lê Hữu Nghĩa, Trần Khắc Việt và Lê Ngọc Tòng (2007), Xu thế toàn cầu hóa trong
hai thập niên đầu thế kỷ XXI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
8
Vũ Dương Ninh (2003), Toàn cầu hoá và tác động đối với sự hội nhập của Việt
Nam, NXB Thế giới, Hà Nội
10
(2006) “Toàn cầu hoá và sự tồn vong của nhà nước”9, cũng phân tích những
tác động cơ bản nhất của toàn cầu hóa đến chính sách ngoại giao, kinh tế, xã
hội, giáo dục, hội nhập quốc tế của các nước và Việt Nam. Đồng thời đề xuất
các giải pháp cụ thể giúp các nước thích nghi nhanh chóng với quá trình toàn
cầu hóa.
Một số công trình nghiên cứu khác tìm hiểu quá trình hội nhập của Việt
Nam vào đời sống quốc tế và khu vực, đưa ra và phân tích những sự kiện,
tiến cùng thời đại, T.2, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
11
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã phân tích sâu sắc quá
trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, chỉ ra những khó khăn và thuận lợi, thời
cơ và thách thức. Đây sẽ là những nguồn tư liệu quý báu khi thực hiện đề tài.
Tuy nhiên, đa số các công trình nghiên cứu đều tập trung phân tích hội nhập
quốc tế trong lĩnh vực kinh tế hoặc được nhìn nhận dưới góc độ phát triển
kinh tế.
Về hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực khác như an ninh, quốc phòng
và văn hoá cũng có một số nghiên cứu có giá trị. Tiêu biểu là nghiên cứu
“Hội nhập kinh tế với vấn đề giữ gìn an ninh quốc gia ở Việt Nam” của
Nguyễn Quốc Nhật và Nguyễn Văn Ngừng (2001)13. Trên cơ sở phân tích
mối quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại, các tác giả đã chỉ ra những xu thế chính
trị của thế giới, ảnh hưởng của nó trên phạm vi toàn cầu cũng như ở Việt Nam
và đề ra những giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế đối ngoại, gắn liền với
đảm bảo an ninh quốc gia.
Trong hướng nghiên cứu này còn có nhiều công trình tiêu biểu như
“Hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắc” (1995)14, “Văn hóa phương Đông truyền thống và hội nhập” của Mai Ngọc Chừ và nhóm tác giả (2006)15, “Văn
hoá thời hội nhập” của Trần Kiêm Đoàn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Văn Ngọc
(2006)16. Các tác giả đã phân tích một số vấn đề lí luận và thực tiễn của văn
hoá Việt Nam trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế và khu vực, vấn đề
hội nhập văn hoá truyền thống và hiện đại của các nước phương Đông và Việt
Nam, vai trò và động lực của văn hóa nghệ thuật trong phát triển kinh tế, xã
hội của nước ta và làm thế nào để giữ gìn, phát huy được bản sắc văn hóa dân
tộc trong quá trình hội nhập hiện nay.
13
“Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới”18 (2005) của Ban Tư tưởng – Văn hóa
Trung ương cũng dành phần đáng kể để phân tích về hoạt động đối ngoại
công chúng Việt Nam trong những năm qua. Cuốn “Quá trình triển khai thực
hiện chính sách đối ngoại của đại hội IX Đảng Cộng Sản Việt Nam”19 (2005)
do Trình Mưu, Nguyễn Thế Lực và Nguyễn Hoàng Giáp đồng chủ biên đã có
những phân tích cụ thể, sâu sắc về chính sách, chủ trương, đường lối của
Đảng và Nhà nước ta về đối ngoại nói chung và đối ngoại công chúng nói
riêng. Đặc biện cuốn “Đối ngoại Việt Nam – Truyền thống và hiện đại”20
17
Nhiều tác giả (2002), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội
18
Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Vụ Tuyên truyền và Hợp tác quốc tế (2005),
Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
19
Trình Mưu, Nguyễn Thế Lực và Nguyễn Hoàng Giáp (đồng chủ biên) (2005), Quá
trình triển khai thực hiện chính sách đối ngoại của đại hội IX Đảng Cộng Sản Việt
Nam, NXB Lý luận - Chính trị, Hà Nội
20
Nguyễn Mạnh Hùng, Phạm Minh Sơn (đồng chủ biên) (2008), Đối ngoại Việt
Nam – Truyền thống và hiện đại, NXB Lý luận - Chính trị, Hà Nội
13
(2008) do Nguyễn Mạnh Hùng và Phạm Minh Sơn đồng chủ biên đã xác định
rõ vai trò, vị trí và những đóng góp tích cực của đối ngoại công chúng trong
cách mạng Việt Nam.
Những công trình nghiên cứu trên đã giúp xác định rõ vị trí, vai trò,
Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
24
Bộ ngoại giao (2005), Các tổ chức quốc tế và Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội
14
đại chúng, góp phần tích cực vào hoạt động đối ngoại công chúng của Việt
Nam hiện nay.
Trong số các nghiên cứu về đối ngoại nhân dân ở các nước phải kể đến
công trình của Nguyễn Thị Thanh Thủy: “Ngoại giao nhân dân trong quan hệ
đối ngoại của Mỹ”25 (2010). Cuốn sách đã tập trung trình bày, phân tích và
chứng minh cụ thể, khoa học những khía cạnh có liên quan hoạt động ngoại
giao nhân dân của Mỹ như: chức năng, mục tiêu, cơ sở pháp lý, cơ cấu tổ
chức, hệ thống quản lý và các hình thức cụ thể. Trên cơ sở đó gợi mở những
giải pháp, đề xuất cho việc đẩy mạnh hoạt động đối ngoại công chúng của
Việt Nam hiện nay.
Bên cạnh đó, cũng có một số các bài viết, nghiên cứu được đăng trên
các tạp chí phân tích các góc độ khác nhau của đối ngoại công chúng. Tạp chí
Hữu Nghị của Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam đã đi đầu trong việc
đăng tải các bài viết này. Tiêu biểu là các bài viết: “Công tác đối ngoại nhân
dân trong sự nghiệp đổi mới” của Hồng Hà (số 34/ 2002); “Vài suy nghĩ về
ngoại giao nhân dân với nhiệm vụ phát triển kinh tế trong thời kỳ mới” của
Phạm Quốc Trụ (số 1/ 2003); “10 năm quan hệ đối tác giữa Việt Nam và các
tổ chức phi chính quốc tế” (số 6/2003); “Đối ngoại nhân dân góp phần phát
huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới” của Vũ
Xuân Hồng (số 14/ 2004)…26
Một tạp chí khác cũng tập hợp nhiều bài viết về công tác đối ngoại
công chúng là Tạp chí Thông tin đối ngoại của Ban chỉ đạo công tác Thông
Hoàng Điệp (số 5, 5/2011); “Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác
đối ngoại nhân dân trong tình hình mới” của Vũ Xuân Hồng (số 9,
9/2011)...28
Bên cạnh đó còn một số bài viết đăng trên các báo, tạp chí khác như:
“Đối ngoại nhân dân trong nền ngoại giao hiện đại”, của Võ Anh Tuấn (Báo
Sài Gòn Giải phóng, ngày 20/6/1996); “Đối ngoại nhân dân trong tư tưởng
Hồ Chí Minh: Những định hướng cơ bản và thành tựu”, của Hà Văn Thầm
(Thông tin Nghiên cứu quốc tế, số 3/2002); “Đảng lãnh đạo công tác ngoại
giao nhân dân qua các thời kỳ cách mạng” của Lê Thị Tình (Tạp chí Lịch sử
Đảng, 2002); “Phát triển ngoại giao nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ cách
mạng” của Vũ Quang Vinh (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12/2006)...
Ngoài ra, còn có một số luận văn, luận án, đề tài khoa học có liên quan
đến chủ đề này như: “Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam
(1986-1995)” - của Vũ Đình Công (Luận văn Thạc sỹ khoa học lịch sử, Đại
27
Ban chỉ đạo công tác Thông tin đối ngoại, Tạp chí Thông tin đối ngoại, các số từ
2004 đến nay
16
học quốc gia Hà Nội, 1997); “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động
đối ngoại (1986-2000)” của Vũ Quang Vinh (Luận án Tiến sĩ lịch sử, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001); “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo thực hiện đường lối đối ngoại trong những năm đổi mới từ 1991 đến
2001” của Dương Thị Huệ (Luận văn Thạc sỹ khoa học lịch sử, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004). Đặc biệt phải kể đến đề tài cấp cơ sở
năm 2007 của tập thể các nhà khoa học của Viện Quan hệ Quốc tế, Học viện
Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh do Mai Hoài Anh làm chủ
của công tác đối ngoại công chúng. Chưa thể gọi đó là những nghiên cứu toàn
diện về hoạt động đối ngoại công chúng của Việt Nam hiện nay.
Cho đến nay chưa có những công trình nghiên cứu nào của Việt Nam
có tính chất chuyên sâu về lý luận cũng như thực tiễn hoạt động đối ngoại
công chúng, thậm chí ngay cả khái niệm đối ngoại công chúng còn chưa phổ
biến ở Việt Nam và đôi lúc vẫn còn được hiểu chưa thoả đáng. Vì vậy, việc
nghiên cứu về hoạt động đối ngoại công chúng của Việt Nam trong thời kỳ
hội nhập quốc tế là có tính cần thiết và không trùng lặp với những công trình
trước đó.
2.2. Các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài
Trong số các nghiên cứu của nước ngoài có liên quan đến đề tài, trước
hết phải kể đến các công trình về hội nhập quốc tế của Việt Nam. Đây là chủ
đề nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài. Tiêu
biểu là tuyển tập báo cáo phối hợp nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các chuyên gia quốc tế “Việt Nam hướng tới 2010” (2001)30; và
cuốn “Các nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung bao cấp sang
kinh tế thị trường” của Marie Lavigue (2002)31. Các tác giả đã đề cập đến vấn
đề về chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường và sự
hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới, những thách thức
và thời cơ.
Trong số các bài viết đề cập trực tiếp đến hoạt động đối ngoại công
chúng của Việt Nam phải kể đến bài viết “Các tổ chức phi chính phủ nước
ngoài góp phần cải thiện quan hệ giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế” của
John McAulift32. Tác giả đã nêu lên được những đóng góp quan trọng của các
30
Việt Nam hướng tới 2010 - Tuyển tập báo cáo phối hợp nghiên cứu chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của các chuyên gia quốc tế và Việt Nam /T.1, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2001
31
Handbook of Public Diplomacy38. Đây là những tài liệu quý báu cho đề tài
33
Tiêu biêu như bài: Joshep Nye, Sức mạnh mềm và ngoại giao nhà nước,
/>34
Hans N.Tuch (1990),Communicating with the world – U.S public Diplomacy
Overseas, St. Martin’s Press
35
Robert S. Fortner (1994), Public Diplomacy and International Politics, Praeger
Press
36
Robert Jackall, Janice M. Hirota (2000), Makers: Advertsing, Public Relations and
the Ethos of Advocacy, The University of Chicago Press
37
Jan Milissen (2007), The New Public Diplomacy: Soft Power in International
Relations, Publisher Palgrave Macmillan
38
Nancy Snow, Philip M. Taylor (2009), Routledge Handbook of Public Diplomacy,
Taylor & Francis
19
trong việc làm rõ cơ sở lý thuyết của đối ngoại công chúng và tổng kết kinh
nghiệm hoạt động đối ngoại công chúng ở các nước, đặc biệt là ở Mỹ.
Có thể nói, những công trình nghiên cứu, sách, bài báo, báo cáo, tham
luận khoa học nêu trên sẽ là những cơ sở khoa học quý báu để thực hiện đề
tài. Để phát huy hơn nữa giá trị của những nghiên cứu trước đây, cần thực
hiện một công trình khoa học để tổng hợp chúng lại, phân tích, đánh giá, đưa
ra những giải pháp, kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động đối ngoại công
khái quát đến một số vấn đề liên quan đến thời kỳ trước đó.
- Về địa bàn nghiên cứu: Các nghiên cứu, khảo sát được tiến hành chủ
yếu tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Về nhóm đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đối ngoại công chúng
được thực hiện bởi rất nhiều các cơ quan, tổ chức, cá nhân với các loại hình,
hình thức phong phú, đa dạng. Đề tài sẽ nghiên cứu hoạt động đối ngoại công
chúng thông qua ba kênh đối ngoại cơ bản: đối ngoại của Nhà nước, đối
ngoại của Đảng và đối ngoại nhân dân, trong đó tập trung nghiên cứu hoạt
động đối ngoại của Đảng và đối ngoại nhân dân.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này sẽ sử dụng các phương pháp cơ bản, phổ biến trong nghiên
cứu khoa học xã hội, gồm:
- Phương pháp luận: Đề tài lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm cơ sở lý luận và phương pháp luận. Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu.
Nghiên cứu lý luận trên cơ sở những quan điểm của Đảng và Nhà nước
về quan hệ quốc tế, công tác đối ngoại, công tác tư tưởng. Kết hợp nghiên cứu
lý luận và tổng kết thực tiễn.
- Phương pháp lịch sử và lôgic: các nghiên cứu đều bắt đầu từ lịch sử
của vấn đề, đặt vấn đề trong bối cảnh chung của đất nước, khu vực, quốc tế.
Sử dụng những tư liệu, sự kiện, dữ kiện lịch sử, chọn lọc những sự kiện điển
hình để hệ thống, thống kê, mô hình hoá sự kiện. Đồng thời, các nghiên cứu
sẽ phải từ những diễn biến, những sự kiện lịch sử rút ra cái cốt lõi, tổng hợp
so sánh để rút ra được những kinh nghiệm, những bài học có tính quy luật,
tính chỉ đạo đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay và trong
tương lai.
21
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: sử dụng để thu thập và đánh giá
“Các phong trào chính trị xã hội quốc tế”, “Chính sách đối ngoại Việt Nam”,
“Đại cương thông tin đối ngoại”, “Giao tiếp trong hoạt động đối ngoại”,
“Xử lý tình huống đối ngoại”… Đồng thời làm tài liệu phục vụ công tác bồi
dưỡng cán bộ cán bộ đối ngoại.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài, nhất là những kiến nghị sẽ góp phần
tích cực vào công tác giảng dạy, học tập, quản lý người nước ngoài, đặc biệt
là sinh viên, học viên nước ngoài ở Việt Nam nói chung và ở Học viện Báo
chí và Tuyên truyền cũng như ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
nói riêng.
- Kết quả nghiên cứu cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho những
người quan tâm đến vấn đề hội nhập quốc tế, hoạt động đối ngoại, người nước
ngoài ở Việt Nam.
- Hướng dẫn học viên, sinh viên làm luận văn thạc sỹ và khóa luận tốt
nghiệp theo chủ đề về đối ngoại công chúng.
6. Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
được kết cấu làm 3 chương 10 tiết.
23
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG ĐỐI
NGOẠI CÔNG CHÚNG TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1. Quan niệm về đối ngoại công chúng
Mặc dù đối ngoại công chúng đã tồn tại khá lâu và đã được khẳng định,
song đến nay quan niệm về đối ngoại công chúng vẫn còn những ý kiến khác
chúng các nước.
Đối ngoại công chúng là một khái niệm rộng, có những điểm chung và
khác biệt với một số khái niệm thường được dùng trong nghiên cứu về đối
ngoại và quan hệ quốc tế. Cách hiểu gần nhất và phổ biến nhất là đồng nhất
với khái niệm “Ngoại giao nhân dân” hay “Đối ngoại nhân dân” (People to
People Diplomacy).
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, ngoại giao nhân dân là một
hình thức thực hiện quan hệ đối ngoại, do các tổ chức hoặc cá nhân (thuộc
nhiều lĩnh vực) tiến hành, không mang tính chất chính thức của chính phủ các
nước. Có nhiều hình thức phong phú như gặp gỡ, các cuộc đi thăm hữu nghị,
hội đàm, trao đổi ý kiến, hội thảo, hội nghị quốc tế, festival... Trong những
thập niên gần đây, ngoại giao nhân dân phát triển mạnh, đóng vai trò ngày
càng to lớn trong việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và hợp tác có hiệu quả
giữa các dân tộc, động viên dư luận thế giới đấu tranh vì hoà bình, giảm căng
thẳng và giải trừ quân bị. Nhiều khi ngoại giao nhân dân trở thành bước đi
đầu tiên tạo thuận lợi và mở đường cho việc thiết lập và phát triển quan hệ
chính thức giữa các quốc gia39.
Như vậy, khái niệm ngoại giao nhân dân chỉ những hoạt động đối ngoại
do các đoàn thể, tổ chức quần chúng, tổ chức chính trị – xã hội, nghề nghiệp
hay cá nhân tiến hành không với danh nghĩa đại diện cho nhà nước. Đối tượng
hướng tới của hoạt động này có thể là các tổ chức, cá nhân tương ứng của
nước ngoài, nhưng cũng có thể là chính phủ các nước. Điều đó cũng có nghĩa
là chính phủ không phải là chủ thể chính thức, song có thể là người đề ra
chính sách, trên cơ sở đó hoạt động chính thức của chính phủ và của công
39
Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam:
25