MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………………………1
PHẦN NỘI DUNG……………………………………………………………………4
CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN…………………………………………………………………………...4
1.1.Phạm trù lý luận và thực tiễn……………………………………………………….4
1.1.1. Phạm trù thực tiễn………………………………………………………………..4
1.1.2. Phạm trù lý luận………………………………………………………………….6
1.2. Những nguyên tắc cơ bản của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn……………7
1.2.1. Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn
của lý luận, lý luận hình thành và phát triển từ sản xuất, đáp ứng
yêu cầu của thực tiễn…………………………………………………………………..7
1.2.2. Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại, lý luận phải
được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn………….10
1.2.3. Phê phán bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm…………………………………11
CHƯƠNG 2:TÌNH HÌNH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HIỆN NAY……………………………………………………...13
2.1. Tích cực…………………………………………………………………………...13
2.2. Hạn chế……………………………………………………………………………14
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KẾT
QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN…………………………………………………...23
3.1. Vận dụng mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình
học tập của sinh viên…………………………………………………………………..23
3.2. Kiến nghị và giải pháp để nâng cao thành tích của sinh viên……………………..28
3.2.1. Giải pháp………………………………………………………………………...28
3.2.3. Kiến nghị………………………………………………………………………...31
KẾTLUẬN……………………………………………………………………………..35
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………36
đề lý luận và thực tiễn về dạy và học môn học Mác – Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh trong trường Đại học” Nhà xuấ bản chính trị quốc gia Hà Nội,
3
2004 của tác giả Nguyễn Duy Bắc. Tác giả Trần Văn Phòng, “Đổi mới
phương pháp học tập lý luận chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, tạp chí
Lịch sử Đảng, số 7, 2006 Tập “Đề cương bài giảng triết học cho cao học và
nghiên cứu sinh trường Đại học Sư phạm Hà Nội – bài lý luận hình thái kinh
tế - xã hội” của Thầy giáo, tiến sỹ Nguyễn Văn Cư, 2008.Thầy giáo Phùg
Văn Bộ, “Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy và nghiên cứu triết học”,
nxb Giáo dục.
Những công trình khoa học nêu trên là những nhận định rất sâu sắc của
tác giả khi bàn đến vấn đề lý luận và thực tiễn, đó là những nguồn tư liệu vô
cùng quý báu. Các công trình chủ yếu nghiên cứu việc vận dụng nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vào giảng dạy và học tập bộ môn Triết
học Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh chứ chưa đề cập đầy đủ đến việc vận
dụng Nguyên tắc thống nhất giữa lý luậnvà thực tiễn trong việc học tập của
sinh viên Việt nam
3.
Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích:
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và quá trình vận dụng nguyên
tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc học tập của sinh viên Việt
Nam, và trên cơ sở nghiên cứu vấn đề đề xuất những giải pháp cơ bản để
-
nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên.
Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử các phương pháp được thực hiện trong tiểu luận là
phương pháp thống nhất giữa logic và lịch sử, phương pháp phân tích và
6.
tổng hợp.
Ý nghĩa nghiên cứu
Tiểu luận làm sáng tỏ một số vấn đề về phậm trù thực tiễn, lý luận và mối
quan hệ giữa chúng, từ cơ sở đó vận dụng vào quá trình học tập của sinh
7.
viên nhằm đạt được những thành tích cao trong quá trình học tập.
Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung của
tiểu luận gồm 3 chương và 7 tiết
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1.
Phạm trù lý luận và thực tiễn
5
1.1.1. Phạm trù thực tiễn
*Khái niệm
con người. Kết quả của họat động thực tiễn là sản phẩm thỏa mãn nhu cầu
vật chất và nhu cầu tinh thần của cá nhân và cộng đồng.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động cơ bản của loài người. Đó là hình thức hoạt
động đặc thù của con người, luôn diễn ra trong một bối cảnh văn hóa xã hội
nhất định. Là một sản phẩm lịch sử hoạt động thực tiễn luôn vận động và
phát triển không ngừng theo các giai đoạn lịch sử. Trình độ phát triển của
thực tiễn được đánh giá ở trình độ, khả năng chinh phục, khai thác, tái tạo
giới tự nhiên, trình độ làm chủ xã hội của con người. Hoạt động thực tiễn
không phải là hoạt động của cá nhân người mà là hoạt động của loài người,
trước hết là của đông đảo quần chúng nhân dân – những người trực tiếp
tham gia hoạt động sản xuất ra của cải vật chất. Chính vì vậy mà hoạt động
thực tiễn mang tính lịch sử - xã hội.
* Các hình thức cơ bản của thực tiễn.
Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức, song có ba hình thức
cơ bản là:
Hoạt động sản xuất vật chất: Là hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực tiễn.
Đây là hoạt động mà con người sử dụng công cụ lao động để tác động vào
giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, các điều kiện cần thiết để duy trì và
phát triển con người và xã hội.
Hoạt động chính trị xã hội: là hoạt động của các cộng đồng người, các tổ
chức khác nhau trong xã hội nhằn cải biến những quan hệ chính trị xã hội.
Thúc đẩy xã hội phát triển.
Hoạt động thực nghiệm khoa học: là hình thức đặc biệt của hoạt động thực
tiễn, được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra nhằm xác
định những quy luật biến đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu. Hoạt
động này có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của xã hội.
7
Các hình thức hoạt động thực tiễn tuy có sự khác nhau tương đối nhưng
triển của một nghành. Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phươg pháp
luận hoạt động của ngành đó, như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật…
Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới và
con người, là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của
con người.
Lý luận triết học có vai trò là cơ sở để hình thành thế giới quan và
phương pháp luận cho lý luận chuyên ngành. Lý luận chuyên nghành có tác
dụng bổ sung làm sâu sắc thêm cho lý luận triết học. Lý luận triết học Mác –
Lênin mag tính khách quan, khoa học, cách mạng, không những giải thích
đúng thế giới mà còn góp pần “cải tạothế giới”
Những nguyên tắc cơ bản của sự thống nhất giữa lý luận và thực
1.2.
tiễn
1.2.1. Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý
luận, lý luận hình thành và phát triển từ sản xuất, đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn
*Thực tiễn là cơ sở cuả lý luận
Xét một cách trực tiếp những tri thức được khái quá thành lý luận là kết
quả của quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Thông qua kết quả của
hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũng như thất bại con người phân tích
cấu trúc, tính chất và các mối quan hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các
hình thức thực tiễn để hình thành lý luận. Quá trình hoạt động thực tiễn là cơ
sở để bổ sung và điều chỉnh các lý luận đã được khái quát. Mặt khác, hoạt
động thực tiễn của con người làm nảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi quá
trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết. Thông qua đó, lý luận được bổ sung
mở rộng. Chính vì vậy, Lênin nói: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách
thể trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự
qua thực tiễn để kiểm nghiệm. Chính vì thế mà C.Mác nói: “vấn đề để tìm
hiểu xem tư duy của con người có thể đạt đến chân lý của khách quan
10
không, hoàn toàn không phải vấn đề lí luận mà là vấn đề thực tiễn. Chính
trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý ” Thông qua lý luận
những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức nhân
loại, những kết luận chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp thục điều chỉnh, bổ sung
nhận thức lại. Gía trị của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt
động thực tiễn.
Tuy thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận, nhưng không phải mọi
thực tiễn đều là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của
lý luận khi thực tiễn đạt đến mức toàn vẹn của nó. Tính toàn vẹn của thực
tiễn là thực tiễn đã trải qua quá trình tồn tại, hoạt động, phát triển và chuyển
hóa. Đó là chu kì tất yếu của thực tiễn. Nếu lý luận chỉ khái quát giai đoạn
nào đó của thực tiễn thì lý luận có thể xa vời thực tiễn. Do đó chỉ những lí
luận nào phản ánh được tính toàn vẹn của thực tiễn thì mới đạt đến chân lý.
Chính vì vậy Lênin cho rằng: “Thực tiễn của con người lặp đi lặp lại hàng
nghìn triệu lần được in vào ý thức của của con người bằng những hình tượng
logic. Những hình tượng này có tính vững chắc của một thiên khiến, có một
tính chất công lý, chính vì sự lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần ấy”
1.2.2. Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại, lý luận phải
được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực
tiễn
Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định
hướng mục tiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện. Lý
luận còn dự báo được khả năng phát triển cũng như mối quan hệ thực tiễn,
dự báo được những rủi ro xảy ra, những hạn chế những thất bại có thể có
Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải bám sát diễn biến của
thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm khuyết của lý luận,
hoặc có thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn. Khi vận dụng lý luận
vào thực tiễn, chúng có thể mang lại hiệu quả có thể không hoặc kết quả
chưa rõ. Trong trường hợp đó giá trị của lý luận phải do thực tiễn quy định.
12
Tính năng động của lý luận chính là điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn.
Lênin nhận xét rằng: “ Thực tiễn cao hơn lý luận vì nó có ưu điểm không
những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực rực tiếp”.
1.2.3. Phê phán bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm
*Bệnh giáo điều
Bệnh giáo điều có nguyên nhân do cường điệu, tuyệt đối hóa vai trò của
lý luận đối với với thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn.
Biểu hiện của bệnh giáo điều là bệnh kinh viện, sách vở. Xem lý luận,
sách vở như cái gì đó tuyệt đối đúng không cần phải bổ sung, phát triển. Học
tập lý luận Mác – Lênin, họ không chú ý tới nội dung và bản chất cách mạng
của nó, chỉ chú ý tới câu chữ và vận dụng câu chữ của các nhà kinh điển vào
bất kỳ hoàn cảnh lịch sử nào. Hoặc học tập lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin theo kiểu học thuộc lòng, không chú ý tới những thay đổi diễn ra
trong cuộc sống. Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin một cách phiến diện, vận
dụng một cách rập khuân những mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ngoài mà
không chú ý tới đặ thù của nước mình. Các chủ trương, chính sách lại
thường xuất phát từ ý muốn chủ quan, không thấy được hiện thực sinh động
và phù hợp với thực tiễn cuộc sống.
Như vậy, nhìn chung bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng qúa coi
trọng vai trò của lý luận, coi nhẹ thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn,
thiếu quan điểm lịch sử cụ thể, vận dụng lý luận, áp dụng lý luận một cách
thức của nhân loại, sinh viên Việt Nam còn tiếp thu những cái hay, cái đẹp
trong mọi lĩnh vực khác như văn hóa, nghệ thuật. Bằng sự năng động, sinh
viên luôn tự cập nhật thông tin, kiến thức, làm mới mình phù hợp với sự
thay đổi và phát triển của xã hội. Một số bộ phận sinh viên luôn thể hiện
mình là những con người táo bạo và tự tin. Sinh viên dám nghĩ, dám làm,
dám chịu thử thách. Các ý tưởng độc đáo không chỉ nằm trong suy nghĩ mà
luôn được thử nghiệm trong thực tế chính vì vậy mà qua 14 mùa thi đấu
robocon châu Á, các đại diện của Việt Nam đã 5 lần đem lại vinh quang với
những chiến thắng thuyết phục vào các năm2002, 2004, 2006, 2014, 2015.
Có đôi khi thất bại, song họ không hề chùn bước. Với họ, mỗi lần thất bại lại
làm họ tự tin hơn với nhiều kinh nghiệmtích lũy được. Ngày càng có nhiều
công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên được đánh giá cao về khả năng
vận dụng vào thực tiễn cuộc sống đó là một bước khởi sắc cho việc nghiên
cứu khoa học của sinh viên Việt Nam.
*Sinh viên đã đổi mới phương pháp học tập
15
Sinh viên luôn nỗ lực trọng công việc học tập, luôn tiếp thu những góp ý
những phương pháp cách thức học hiệu quả từ thầy cô từ anh chị và bạn bè
để có được những cách thức học phù hợp với bản thân, từ đó áp dụng
phương pháp phù hợp nhất vào trong quá trình học tập, thu được kết quả
cao.Sinh viên ngày càng có những phương pháp học tập và ôn thi hiệu quả,
chuyển từ học cá nhân nhàm chán sang học nhóm các thành viên trong nhóm
sẽ cùng nhau giải quyết một vấn đề quan điểm chung của cả nhóm sẽ là kiến
thức hoàn chỉnh nhất phục vụ quá trình học và ôn thi, hay như việc học
thuộc lòng đã không còn được ưa chuộng, đa số sinh viên chuyển sang học
hiểu bản chất của vấn đề. Hay học theo phương pháp lập sơ đồ đó là một
cách sắp xếp các thông tin theo một kiểu nào đó làm nổi bật đặc tính của sự
vật, hiện tượng, có sự so sánh, đối chiếu với một chuẩn nào đó. Lập sơ đồ và
gắn bó với sinh viên suốt 12 năm học phổ thông, ăn sâu vào tư tưởng và
không dễ gì từ bỏ. Điều này phát sinh ra một thực tế là sinh viên vẫn rất thụ
động trong việc tiếp nhận kiến thức và phụ thuộc nhiều vào phương pháp
giảng dạy của giảng viên; giảng viên cung cấp kiến thức gì thì sinh viên
nghe nấy, giảng viên yêu cầu gì thì sinh viên làm nấy. Với tâm lý quen “đọc
– chép” sinh viên không có thói quen đọc giáo trình và các tài liệu liên quan
đến môn học đó khi ở nhà, mà chỉ chờ đến khi giảng viên đọc thì chép, nếu
giảng viên không đọc thì sinh viên cũng không chép, chỉ ngồi nghe và không
hỏi gì thêm, thưc tế là kiến thức đọng lại trong đầu khi đó sẽ rất ít,thậm chí
là không có gì. Theo khảo sát ở trường Đại học Thành Đông Có
đến 86,2% số lượng sinh viên không có thói quen xem bài trước khi lên lớp.
Khi nghe giảng trên lớp có 72,4%số lượng sinh viên ghi chép ý chính, chủ
yếu dựa vào nội dung giáo trình hoặc bài giảng in sẵn để theo dõi.
Đa số sinh viên do chuẩn bị chưa kỹ nên vấn đề đặt câu hỏi trên lớp rất ít
xảy ra, qua khảo sát cho thấy có 63,8% số lượng sinh viên thỉnh thoảng mới
tham gia đặt câu hỏi. Điều này cho thấy sự thụ động của sinh viên trong quá
17
trình học và không có tính khám phá, năng động sáng tạo trong khi nghe
giảng trên lớp.
Ngoài ra số liệu thống kê còn cho thấy sinh viên ít chịu đọc lại những nội
dung đã học, số liệu khảo sát cho thấy có 77,6% số lượng sinh viên xác nhận
là thỉnh thoảng mới đọc lại nội dung đã học.
Có 48,3% số lượng sinh viên cho rằng tìm hiểu kiến thức bên ngoài giáo
trình, sách chuyên môn để bổ sung trong quá trình học là quan trọng và cần
phải thường xuyên thu thập. Truy cập bổ sung kiến thức chuyên môn từ
nguồn Internet vẫn là chủ yếu, có đến 63,8% số lượng sinh viên đồng ý với
quan điểm này.Bài vở thường bị các bạn để tồn ứ đến khi gần thi mới lấy ra
giảng - trò ghi; 21,59% đọc trước giáo trình; 32,95% dùng máy chiếu;
32,59% giảng chỗ khó, cho tình huống. Có ba tiêu chí giúp học tốt là "siêng,
năng, chú". Siêng học bài, đọc sách, nghiên cứu tài liệu; Năng đến lớp, đi
thư viện, học hỏi; Chú ý nghe giảng bài, chú thích những nội dung cần thiết.
Nhưng trên thực tế khực tế khảo sát, chỉ có 27,4% sinh viên thường xuyên
đến thư viện; 63,88% thỉnh thoảng đến và 8,66% không đi thư viện, việc đi
học của sinh viên hiện nay cũng đang nổi cộm lên một vấn đề đó là tình
trạng học thuê, học hộ một số bộ phận sinh viên vì mải mê kiến tiền, vì nghĩ
mình đã có đủ kiến thức và kiến thức được học trên giảng đường đại học
không cần thiết không áp dụng được và thực tế cuôc sống nên đã giàng thời
gian học quý báu đi làm thêm kiến tiền và để duy trì thành tích học tập đã
thuê người đi học thậm chí là đi thi hộ. Một thực trạng đáng buồn nữa là vấn
đề phát biểu ý kiến Chuyện sinh viên ngồi im lặng khi giảng viên đặt câu hỏi
nơi giảng đường không còn là chuyện lạ. Giảng viên đặt câu hỏi, thi thoảng
vài cánh tay giơ lên giữa một rừng người. Vẫn những khuôn mặt cũ, những
sinh viên hay phát biểu thì giờ nào cũng tích cực phát biểu. Ai ngồi im thì cứ
thói quen đó từ đầu giờ cho đến cuối giờ. Những sinh viên còn lại thì chăm
chú lắng nghe, có em xì xào với bạn bên cạnh, thậm chí có sinh viên vô tư
19
ăn vặt, nghe nhạc, ngủ gật ngay trong lớp học. Tuy số lượng sinh viên cá biệt
này không nhiều nhưng cũng đủ làm không khí lớp học đơn điệu, tẻ nhạt.
Giảng viên cố gắng đặt câu hỏi nhưng cũng rất ít sinh viên hưởng ứng, thậm
chí có lớp chẳng em nào giơ tay phát biểu, giảng viên đành tự mình trả lời
câu hỏi. Kể cả những giờ thuyết trình, thảo luận, những giờ học đòi hỏi sinh
viên phải trình bày quan điểm, lập luận của riêng mình thì tình hình cũng
chẳng khác gì. Nếu giảng viên không giao nhiệm vụ cho nhóm đặt câu hỏi,
nhóm trả lời thì không ai đặt câu hỏi cả.
*Sinh viên chưa đặt ra mục tiêu cũng như kế hoạch học tập
chỉ học đối phó. Vì vậy sự thụ động ở các môn chung, môn đại cương bộc lộ
rõ rệt hơn so với các môn chuyên ngành.
Thứ tư: Sinh viên thường đặt nặng vấn đề điểm số nên thực hiện các hoạt
động giảng viên yêu cầu một cách đối phó.
Các bài về nhà chỉ chuẩn bị sơ sài, trên lớp sinh viên chỉ xem thảo luận
và thuyết trình là một phần bắt buộc để có điểm phục vụ cho môn học, chưa
hiểu hết ý nghĩa về rèn luyện kỹ năng diễn đạt, trình bày vấn đề, kỹ năng
hợp tác với đồng nghiệp.
Thứ năm: Phương pháp giảng dạy của giảng viên còn đơn điệu, phụ
thuộc vào giáo trình
Phương pháp giảng dạy của giảng viên là một trong các yếu tố tác động
trực tiếp tới thái độ học tập nói chung và sự thụ động nói riêng của sinh viên.
Sinh viên thường chọn cách học, cách tư duy, cách tiếp cận để phù hợp với
cách giảng dạy của giảng viên. Hiện nay, phần lớn nội dung giảng dạy của
giảng viên đều nằm trong giáo trình. Giảng viên lệ thuộc vào giáo trình là một
trong những nguyên nhân khiến cho bài giảng trở nên nhàm chán, và sinh
viên có tư tưởng không cần đến lớp vì tất cả đã có trong giáo trình, chỉ cần
cuối học phần vào nghe thầy cô phổ biến lại câu hỏi ôn thi hoặc nội dung là
đủ, số lượng sinh viên bỏ tiết ở các lớp đông là phổ biến. Ngoài ra, một số
giảng viên còn ít liên hệ nội dung giảng dạy với thực tế cuộc sống hoặc gợi
21
mở cho sinh viên tự liên hệ nên sinh viên không hứng thú với môn học. Nếu
giảng viên thường xuyên đặt những câu hỏi mở rộng, đòi hỏi sinh viên phải
tìm hiểu bài trước khi đến lớp và phải tích cực động não, hoặc giảng viên tổ
chức nhiều buổi thảo luận, thuyết trình cho sinh viên thì khả năng phần lớn
sinh viên phải hoạt động theo sự hướng dẫn ấy của giảng viên, cho dù mục
đích có là nhằm đạt được điểm tốt hay không thì sinh viên cũng được luyện
tập thói quen chủ động trong học tập nặng ngồi nghe hơn là tranh luận.
các bạn phải tự lập cả trong cuộc sống, lẫn học tập và tinh thần tự giác phải
rất cao, đặc biệt là những bạn học xa nhà. Thế nên không phải ai cũng thích
ứng và bắt nhịp được với sự thay đổi này. Thêm vào đó tâm lý xả hơi sau
những năm mài đũng quần trên ghế nhà trường và bố mẹ không còn quản lý
trực tiếp nữa nên không ít sinh viên mải chơi dẫn đến lười học, học kém.
Không có phương pháp học tập phù hợp
Ở bậc trung học phổ thông, các bạn thường được thầy cô dẫn dắt nhiều
hơn nhưng học đại học thì khác. Vì số lượng sinh viên đông nên các thầy cô
không thể quan tâm đến từng người. Đồng thời học đại học theo phương
pháp tín chỉ, phương pháp này đòi hỏi sinh viên phải tự học là chủ yếu.
Điều này khiến cho nhiều sinh viên không tìm ra được phương pháp học tập
phù hợp, dần dần mất phương hướng và có tâm lý chán nản, học không vào,
thậm chí là mặc kệ đến đâu thì đến.
Mải mê lao vào những thú vui
Khá nhiều sinh viên thường chỉ học khi kỳ thi gần kề còn trong quá trình
học thì chỉ mải mê vui chơi và không chịu học tập. Chính môi trường mới
với nhiều trò vui chơi giải trí đã kéo một học sinh chăm chỉ, học giỏi thành
một sinh viên lười biếng với kết quả học tập… không thể tệ hơn.
Ban đầu thì chỉ nghĩ là mình có quyền hưởng thụ sau những ngày tháng dài
chịu áp lực căng thẳng từ kỳ thi nhưng dần dẫn đến mất thăng bằng, không
bắt nhịp được guồng quay học tập và bị bỏ lại phía sau.
Ảnh hưởng từ bạn bè
23
Có đôi khi bạn cảm thấy dằn vặt và tự hứa với bản thân là sẽ học hành
chăm chỉ nhưng lại vướng vào “chướng ngại vật” khó lòng vượt qua nổi, đó
là bạn bè.
Các hoạt động đi chơi, đi phượt, tình nguyện, buôn chuyện, rủ rê… làm
bạn rơi vào vòng quay của bận rộn và những lời mời hấp dẫn khiến bạn
Dường như bạn đang sống một cuộc sống mà mọi thứ đều liên quan đến
mạng xã hội và bạn lao mình vào đó như một con thiêu thân.
Tâm lý “trẻ không chơi, già đổ đốn”
Các bạn luôn nghĩ mình là người trẻ, mình nên trải nghiệm, nên dấn thân
vào những cuộc vui để sau này còn có… kỷ niệm để mà nhớ. Với tâm lý đó,
bạn thoải mái tham gia vào các hoạt động của tập thể, của bạn bè mà quên
dành thời gian học tập. “Trẻ không chơi, già đổ đốn” nhưng trẻ không học
thì chỉ vài năm sau thôi, lúc bạn chưa kịp già thì bạn đã thực sự rơi vào bế
tắc và đổ đốn sớm hơn bạn tưởng rồi.
*Nguyên nhân sinh viên không đặt ra mục tiêu và kế hoạch học tập
Với tâm lý thời gian còn nhiều học được đến đâu hay đến đó, và khi nào
có đề cương học cũng không muộn lại còn tốn ít thời gian nên sinh viên
không đặt ra mục tiêu và kế hoạch để thực hiện mục tiêu, một số bộ phận thì
cho rằng đặt ra mục tiêu và lập kế hạch tốn thời gian nên không đặt ra mục
tiêu cũng như lập kế hoạch.
25