Tư tưởng hồ chí minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân và vận dụng vào công việc đổi mới nước ta hiện nay - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Tư tưởng và quan điểm của Người về nhà nước của dân, do dân, vì
dân vô cùng sâu sắc và là hạt nhân cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Nó
chứa đựng những giá trị to lớn về cả phương diện lý luận và thực tiễn
đối với cách mạng Việt Nam; là cẩm nang để thực hiện sự nghiệp đổi
mới- với trọng tâm là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
và mở rộng quan hệ quốc tế đi tới thành công.
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì
dân không những có ý nghĩa lịch sử mà còn cung cấp cho chúng ta
những kinh nghiệm quý báu để tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, xây
dựng đội ngũ cán bộ công chức thực sự là công bộc của dân, hoàn thiện
hệ thống pháp luật, đấu tranh loại bỏ những thói hư, tật xấy trong bộ
máy nhà nước, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ có hiệu quả
các quyền và lợi ích của nhân dân, đảm bảo cho nhà nước luôn giữ được
bản chất cách mạng, phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới.
Xây dựng nhà nước pháp quyền là xu hướng tất yếu khách quan,
nhưng đối với chúng ta đây là nhiệm vụ hết sức mới mẻ. Trên thế giới
cũng chưa có quốc gia, dân tộc nào khẳng định đã xây dựng thành công
nhà nước pháp quyền, mà chỉ đạt được một số thành tựu nhất định. Mặt
khác, không có một nhà nước pháp quyền với tư cách là khuôn mẫu
chung cho tất cả các quốc gia, dân tộc. Do vậy, cùng với việc tiếp thu
những giá trị có tính chất phổ biến về nhà nước pháp quyền mà nhân loại
đã đạt được, chúng ta cần nghiên cứu, kế thừa và vận dụng những giá trị
tư tưởng Hồ chí Minh về nhà nước và pháp luật để từng bước xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có những đặc trưng


riêng, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội , truyền thống văn
hoá và bản sắc dân tộc Việt Nam.
Trong ý nghĩa đó, việc thực hiện đề tài: "Tư tưởng Hồ Chí Minh

dung của luận văn gồm 2 chương.
Chương 1: Quá trình hình thành và những nội dung cơ bản của tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Chương 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân,
do dân, vì dân vào công cuộc đổi mới nước ta hiện nay.


CHƯƠNG I. CƠ SỞ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT
TRIỂN VÀ
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ
NƯỚC
CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN
1.

CƠ SỞ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
TƯ TƯỞNG

HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN
1.1. Cơ sở hình thành
1.1.1. Chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam là quốc gia có ngàn năm văn hiến. Quá trình dựng nước
và giữ nước đã hun đúc và phát triển ngày càng sâu sắc ý thức dân tộc về
độc lập tự do. Tinh thần yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc trở thành động
lực, sức mạnh truyền thống, đạo lý làm người, niềm tự hào và là nhân tố
hàng đầu trong hệ giá trị tinh thần Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước của
dân tộc có đặc điểm nổi bật là Tinh thần độc lập, tự chủ được hình thành
sớm và Tư tưởng gần dân, thân dân, nước gắn liền với nhà- làng- xã,
nước gắn liền với dân đậm nét. Gữi làng- giữ nước cũng là dựng làng dựng nước. Dòng chủ lưu này là sợi chỉ đỏ xuyên suốt các thời kỳ lịch
sử.
Từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên, Việt Nam bị các triều đại

Trước cảnh nước mắt nhà tan đau thương của dân tộc, Nguyễn Ái
Quốc nhận lấy trách nhiệm của lịch sử, ra đi tìm đường cứu nước. Sau
này, Người viết:“Lúc đầu, chính chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ
nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.
Có thể nói rằng, chủ nghĩa yêu nước truyền thống dân tộc và sự bế tắc
về tư tưởng, đường lối cứu nước của các phong trào cuối thế kỷ XIX và
đầu thế kỷ XX đã thôi thúc Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước,
cứu dân, cũng có nghĩa là thôi thúc Người ra đi tìm một mô hình Nhà
nước, một mô hình xã hội mới cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam,
phù hợp với xu thế thời đại và có thể phúc đáp được lợi ích của cả dân
tộc.Sự tìm kiếm ấy là bước khởi đầu cho quá tình hình thành và phát
triển tư tưởng về một Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
ở Việt Nam.
Kế thừa truyền thống của dân tộc, Hồ Chí Minh đã phát triển chủ
nghĩa yêu nước truyền thống lên một tầm cao mới trên nền tảng của chủ
nghĩa Mác Lênin, làm nên triết lý của Người anh hùng giải phóng dân
tộc, danh nhân văn hoá thế giới.
1.1.2. Tinh hoa văn hoa văn hoá nhân loại
1.1.2.1. Tinh hoa văn hoá phương Đông
Trên hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiếp xúc,
thâu thái và tổng hợp nhiều yếu tố văn hoá của phương Đông và phương
Tây, tiếp xúc, thâu lược những tinh hoa văn hoá của dân tộc và thời đại.
- Khổng Tử dậy “dân là gốc của xã hội”. Mạnh Tử cho rằng, trong
nước dân là quý nhất, tiếp theo là xã tắc, vua là nhẹ, nên ai được lòng


dân thì được làm thiên tử: “ Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh.
Thị cố đắc hồ khuư vi dân nhi Thiên Tử “
Hồ Chí Minh kế thừa và khai thác những yếu tố tích cực, hợp lý
trong tư tưởng chính trị của Nho gia, như triết lý nhân sinh lấy tu thân

Cách mạng Tháng Tám là điển hình của việc nắm bắt, lợi dụng tiến
trình, thời cơ trong việc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Hồ Chí Minh cũng kế thừa, tiếp thu những yếu tố tích cực của Phật
giáo như tư tưởng Từ bi bác ái, thương người như thể thương thân,
khuyến thiện, trừ ác, tinh thần bình đẳng, dân chủ, chống lại mọi sự phân
biệt đẳng cấp, đề cao lao động, chống luời biếng. Nguời viết :” Không
được báo thù báo oán. Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào
ta cần phải chính sách khoan hồng “.
Về cách mạng Tân Hợi và Tư tưởng Tôn Trung Sơn.
Tư tưởng Tam dân:Dân tộc độc lập - Dân quyền tự do -Dân sinh hạnh
phúc của Tôn Trung Sơn còn nhiều hạn chế và phong trào thất bại,
nhưng Hồ Chí Minh nhận thấy bài học về cách mạng và tư tưởng “Thân
Nga thân cộng, phù trợ công nông”là tư tưởng tiến bộ, có thể vận dụng
vào cách mạng Việt Nam.


Những tinh hoa Nho giáo của Khổng tử, Kiêm ái của Mạc gia,
Thuận theo tự nhiên của Lão tử, Từ bi bác ái của Phật giáo,…đã góp
phần tích gộp, hình thành trong tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước
vì con người, giải phóng con người. Nhà nước ra đời từ trong lòng nhân
dân, phục vụ và bảo vệ nhân dân, vì ấm no hạnh phúc của nhân dân.
1.1.2.2 Tinh hoa văn hoá Phương Tây
Hồ Chí Minh tiếp nhận những giá trị văn hoá Pháp, văn hoá
phương Tây qua lăng kính đoàn kết với các dân tộc thuộc địa và giải
phóng. Xuất phát từ lợi ích dân tộc, Nguyễn Ái Quốc dần dần mở rộng
tầm nhìn về thế giới, về tiếp biến văn hoá, văn minh tư sản. Người tìm
thấy điểm chung trong các dòng văn hoá đó là sự mưu cầu hạnh phúc
cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Người chắt lọc tư tưởng,
học thuyết đã có sắn theo phương thức kế thừa cái tốt, cái hợp lý và phát
triển sáng tạo, hiện thực hoá lên một tầm cao hơn về chất trong thực tiễn.

thể hiện một cách sinh động: “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng
và trong số những quyền không thể tước đoạt đó có quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Học thuyết của các nhà tư tưởng tư sản về tổ chức nhà nước và bộ
máy Nhà nước, về chính thể Cộng hoà Tổng thống ở Mỹ, chính thể


Cộng hoà đại nghị ở Pháp là những mô hình được Hồ Chí Minh khảo sát
kỹ lưỡng để thâu thái những mặt mạnh mỗi thiết chế mà sáng tạo trong
việc xây dựng mô hình Nhà nước hợp lý ở Việt Nam và phù hợp tiến bộ
thời đại.
Vận dụng tư tưởng Tuyên ngôn của Mỹ và Pháp, trong áng hùng
văn “Tuyên ngôn Độc lập “ khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà, Hồ Chí Minh đã trích dẫn câu hai nổi tiếng trong Tuyên ngôn Độc
lập của Mỹ và Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp, trước hết
là để khẳng định cơ sở pháp lý và chính nghĩa của Tuyên ngôn độc lập
Việt Nam, nhân quyền về dân quyền, những tư tưởng lớn của thời đại,
cao đẹp, là vấn đề chung của con người, của loài người, và dân quyền
cùng nhân quyền của Việt Nam cũng không nằm ngoài vấn đề chung đó.
Từ đó, quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng, và quyền tự do
của Việt Nam và các dân tộc trên thế giới phải được tôn trọng, thừa nhận
và bảo vệ.
Sự chắt lọc và phát triển sáng tạo có thể thấy chế định Chủ tịch nước
trong Hiến pháp 1946 có một số điểm giống chế định Tổng thống trong
Hiến Pháp Mỹ. Khẩu hiệu:“ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” mà Hồ Chí
Minh đề ra năm 1945 là đỉnh cao của sự chung đúc từ khát vọng muôn
đời của dân tộc, cũng là sự phát triển những tư tưởng “Tự do - Bình
đẳng - Bác ái” của cách mạng tư sản Pháp, tuyên ngôn Độc lập Mỹ, tư
tưởng Tam dân của Tôn Trung Sơn lên một trình độ mới mang tính giai
cấp, tính dân tộc và tính nhân dân trong tiến trình cách mạng xã hội chủ

( 2)

, “Người dùng

các phạm trù chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lênin, để chỉ trào lưu chân
chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất trong các trào lưư tư tưởng
mácxít trên thế giới; đồng thời để thông qua các phạm trù đó, Người chỉ


ra tính vận động và tính liên tục, không liên tục của nội dung và phương
pháp tiếp cận đối với các quan điểm, học thuyết của chủ nghĩa Mác, để
không mắc phải bệnh giáo điều vốn thường nẩy sinh trong các loại chủ
nghĩa, tư tưởng. Và chính nhờ thế, Người cũng tiếp cận, tiếp biến nó
trong mối liên hệ với tinh hoa văn hoá Đông – Tây” (3)..
Minh triết và sáng tạo, về mô hình xấy dựng Nhà nước, “Hồ Chí Minh
đã tiếp biến và tổng hợp chính sách “ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc “của
chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và Tư tuởng “ tự do, bình đẳng,
bác ái” của cách mạng tư sản Pháp, Mỹ, đặc biệt tiếp biến tư tưởng
chính quyền công nông của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản của Chủ nghĩa Lênin, để xây dựng nền dân chủ, cộng
hoà ở Việt Nam. “

(4)

(1, 2, 3,4 : PGS.TS. Phạm Ngọc Anh, Triết lý phát

triển Hồ Chí Minh - Giá trị lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia,
Hn, 2009, tr 68, 69, 70, 73)
1.1.4 Nhân tố chủ quan
Trước hết, đó là minh triết trí tuệ và trái tim quảng đại tình yêu

dòng cháy văn hoá dân tộc mấy ngàn năm tích tụ bừng nở một sinh lực
mới, một sức mạnh tự thân. Vận nước bắt đàu từ ngày Nguyến Tất
Thành -Người con ưu tú, dũng cảm dân tộc rời bến Nhà Rồng đi tìm
đường cứu nước


a)Thời kỳ 1911-1930 : Phủ nhận nhà nước thực dân phong
kiến- đến Tư tưởng thành lập nhà nước công nông binh
- Năm 1911, Giải bài toán thế kỷ của dân tộc, Nguyễn Tất Thành
rời Tổ quốc sang phương Tây tìm đưòng cứu nước. Việc ra đi của Người
không chỉ thể hiện lòng yêu nước thương dân , hoài bão cứu nước mà
còn là thái độ phủ nhận chính quyền thuộc địa Pháp phi pháp, bất hợp
hiến Việt Nam. Nơi đầu tiên Người đến là Pháp với quyết tâm tìm câu
trả lời ngay trên đất Pháp. Người cần biết cặn kẽ: Đằng sau ba chữ
Pháp: “Tự do- Bình đẳng- Bắc ái” của chính thể Cộng hoà Pháp ở chính
quốc là gì? Làm gì, con đuờng cách mạng nào để nhân dân Việt Nam
“những người nông dân bị nhấn chìm trong bóng đêm hết sức tối tăm”,
“thân phận người An Nam chỉ là những thân phận nông nô” được giải
phóng?
Rời Pháp sang Anh, rồi qua nhiều nước châu Phi, Châu Mỹ La
tinh, đến nhiều nước châu Âu, sống và làm việc với các phong trào công
nhân ở chính quốc, với những người dân bị áp bức phương Đông và
những người làm thuê ở các nước phương Tây, Người nhận thức rõ bản
chất bóc lột, bất công của chế độ tư sản dẫn đến những mâu thuẫn sâu
sắc không chỉ giữa chủ nghĩa đế quốc với chủ nghĩa đế quốc, giữa giai
cấp tư sản chính quốc với phong trào công nhân các nước thuộc địa mà
cả giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản ở chính quốc và ở đâu, nhân
dân cũng mong thoát khỏi áp bức bóc lột. Từ lòng yêu thương đồng bào
mình đến đồng cảm với những người cùng cảnh ngộ trên toàn thế giới,


cách mạng của Người. Từ đây, Người đã:Từ chủ nghĩa yêu nước đến với
chủ nghĩa cộng sản, đi theo con đường cách mạng Tháng Mười, đứng
hẳn về Chủ nghĩa Mác-Lênin và Quốc tế Cộng sản, và nhận ra con
đường cứư nước mới cho dân tộc - Con đường cách mạng vô sản: “ Hỡi
đồng bào bị đoạ đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là
con đường giải phóng chúng ta”.
Với Việt Nam thì hành động lịch sử đó của Nguyễn ái Quốc chính
là một ánh chớp giữa đêm đông, là “Túi khôn” để cả dân tộc thức tỉnh
tin theo Người, theo Chủ nghĩa Mác Lênin – chủ nghĩa chân chính nhất,
cách mạng nhất, đỉnh cao của tư tưởng thời đại “rũ bùn đứng dậy sáng
loà”.Sau này, Người nói :” Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa
nghiên cứu lý lụân Mác Lênin, vừa làm công tác thực tế, dân dần tôi
hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải
phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới
khỏi ách nô lệ”. “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con
đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Nguyễn Ái Quốc khởi đầu hoạt động đấu tranh cách mạng của
mình bằng việc tố cáo những tội ác man rợ của bọn thực dân ở thuộc địa,
nhằm làm cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới biết được sự thật về
cái gọi là” chính sách khai hoá “ của bọn thực dân, gây phẩn nộ xã hội,


từ đó kêu gọi “ thức tỉnh”. Người viết:” Mọi chế độ thực dân đế quốc
đều tiêu diệt hết giống nòi bản xứ, và muốn cữu vãn những nòi giống
này, ta phải lật đổ chủ nghĩa đế quốc.
Năm 1925 Nguyễn Ái Quốc viết “ Bản án chế độ thực dân Pháp”
nhằm tố cáo tội ác của chế độ thực dân “ăn cướp”, “giết người” và bằng
mọi thủ đoạn, chúng bắt “dân bản xứ “phải đóng thuế máu cho chính
quốc để “phơi thây trên chiến trường Châu Âu”, “đầy đoạ phụ nữ, trẻ em
thuộc địa”, các thống sứ, quan lại thực dân độc ác như một bầy thú dữ

mạng.
Tại đại hội V Quốc tế cộng sản, trước tình trạng phong trào cộng
sản quốc tế chỉ coi trọng vai trò quyết định của cách mạng vô sản ở
chính quốc, mà coi nhẹ hoặc đặt cách mạng giải phóng dân tộc ở địa vị
phụ thuộc, bằng lập luận thuyết phục, Hồ Chí Minh đã “thức tỉnh“các
đồng chí cộng sản châu Âu về tầm quan trọng của cách mạng thuộc địa,
rằng: vận mệnh của giai cấp vô sản các nước đi xâm lược thuộc địa gắn
chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa”, rằng “nọc độc
và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tâp trung ở các thuộc
địa hơn là ở chính quốc…Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng,
các đồng chí lại khinh thường thuộc địa… trong lúc chủ nghĩa tư bản lại
dựa vào nó để tự bảo vệ và chống lại các đồng chí ”


Trong cuộc đấu tranh giải phóng, sự ủng hộ giúp đỡ của quốc tế là
quan trọng, song nhân tố quyết định vẫn là sự nỗ lực của bản than nhân
dân các nước thuộc địa. Người viết: “Vận dụng công thức của Các Mác,
chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có
thể thực hiện được bằng việc nỗ lực của bản thân anh em”.
Nhằm chuẩn bị về tổ chức cho sự ra đời của Đảng cộng sản ở Việt
Nam mà trước hết là sự chuẩn bị về tư tưởng và truyền bá chủ nghĩa
Mác- Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt
Nam, năm 1924 Nguyến Ái Quốc từ Nga trở về Quảng Châu - Trung
Quốc, thành lập “ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên “ – tổ chức cách
mạng của những người Việt Nam yêu nước trong và ngoài nước có tôn
chỉ, mục đích “làm cuộc cách mạng dân tộc (đập tan bọn Pháp và giành
lại độc lập cho xứ sở), sau đó làm cách mạng thế giới ( lật đổ chủ nghĩa
đế quốc và thực hiện Chủ nghĩa cộng sản ) ( Hồ Chí Minh – Tiểu sử,
Nxb Chính trị quốc gia, Hn, 2010, tr 183) và trực tiếp huấn luyện cho tổ
chức này về Chủ nghĩa Mác- Lênin, về những vấn đề cơ bản của đường

cánh sinh, “ Đường Cách mệnh cũng nêu những bài học kinh nghiệm từ
các cuộc cách mạng tiêu biểu của thế giới lúc bấy giờ, từ cách mạng Mỹ
(1776), Cách mạng Pháp (1789), đến cách mạng Nga (1917). Người
nhận xét :“ Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách


mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ
thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”,
Người khẳng định chỉ có Cách mạng tháng Mười Nga là triệt để: “Trong
thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công
đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng
thật”. Từ so sánh các cuộc cách mạng (tư bản, dân tộc, giai cấp), Nguyễn
Ái Quốc đi đến kết luận:“Chúng ta đã hy sinh làm cách mạng, thì nên
làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mạng rồi thì quyền giao cho dân
chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy
sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”.
Như vậy, đến “Đường Cách Mệnh”, cùng với việc xác định những
vấn đề cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam, định hướng chính trị
về một nhà nước, sự thống nhất về mục tiêu giữa chính trị và nhà nước
của số đông nhân dân lao động đã được hình thành. Nguyễn Ái Quốc
tiếp tục phát triển những định hướng tư tưởng pháp quyền trên cơ sở
thực hiện cuộc đấu tranh dân tộc phù hợp với xu thế cách mạng trên thế
giới, từng bước đề ra chủ trương về tạo lập một nhà nước của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam,
Ba năm sau, Mùa xuân 1930, tại Quảng Châu -Trung Quốc, với
trách nhiệm chủ trì và hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam, Nguyễn
Ái Quốc đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mở bước ngoặt vĩ đại
của cách mạng Việt Nam. Từ đây, xã hội Việt Nam chấm dứt khủng
hoảng chính trị và đường lối cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí
Minh, giai cấp công dân Việt Nam có chính Đảng tiền phong của giai

công nông binh như đã đề ra năm 1930. Chính quyền cách mạng của
nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào
mà là của chung của toàn thể dân tộc: “ Chính phủ nước Viẹt Nam dân
chủ cộng hoà lấy ngọn cờ đỏ ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh làm lá
cờ toàn quốc và do “Quốc dân cử lên” (Đảng cộng sản Việt Nam, Văn
kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2000 Tập 7, tr 114)
Chủ truơng thay đổi chiến lược của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp
hành Trung ương Đảng tháng 5/1941 dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Hồ
Chí Minh có ý nghĩa quyết định đến chiều hướng phát triển thắng lợi của
cuộc vận động giải phóng dân tộc từ 1941- 1945.
Tháng 10/1944, trong bối cảnh chiến tranh thế giới sắp bước vào
giai đoạn kết thúc, thắng lợi sẽ thuộc về các lực lượng dân chủ chống
phát xít, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho quốc dân đồng bào thông báo chủ
trương triệu tập Đại hội đại biểu dân để bầu ra một cơ cấu đại biểu cho
sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân Việt
Nam trước vận hội mới của đất nước.“Một cơ cấu như thế mới đủ lực
lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc,
ngoài thì giao thiếp với hữu bang”. (Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính
trị quốc gia, H, 1995, tập 3, tr 505).
Như vậy, từ Chính phủ công nông binh chuyển sang thành lập
Chính phủ nhân dân của Nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà là một bước


chuyển đổi mang tính cách mạng trong tư tưởng của Nguyễn ái Quốc về
Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
1.2.2. Thời kỳ 1945 – 1954
Tháng 3 - 8/1945: Xây dựng các tổ chức chính quyền tiền thân –
cơ sở cho chế độ dân chủ cộng hoà: Uỷ ban dân tộc giải phóng - Uỷ
ban dân tộc giải phóng Việt Nam - Chính phủ lâm thời nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status