HIỆU QUẢ KINH tế TRỒNG RỪNG sản XUẤT tại xã thủy bằng – thị xã hương thủy – tỉnh thừa thiên huế - Pdf 35

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN

∗∗∗∗∗

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
HIỆU QUẢ KINH TẾ TRỒNG TRỪNG SẢN XUẤT
CỦA XÃ THỦY BẰNG - THỊ XÃ HƯƠNG THỦY –
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Sinh viên thực hiên:

Giáo viên hướng dẫn:

Họ và tên: TRẦN PHONG

PGS.TS PHÙNG THỊ HỒNG HÀ

Lớp: K46A KTNN
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn
MSV: 1240110331
Niên khóa: 2012-2016


Huế, tháng 5/2016

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ
của các thầy cô giáo, các chú, các bác trong ban lãnh đạo xã Thủy Bằng , thị xã
Hương Thủy cùng toàn thể bà con nông dân. Qua đây, tôi xin phép bày tỏ lòng cảm ơn

BQ: Bình quân
LN: Lợi nhuận
TLSX: Tư liệu sản xuất
ĐVT: Đơn vị tính
HTX: Hợp tác xã
TLSX: Tư liệu sản xuất
VA: Giá trị gia tăng
MI: Thu nhập Hỗn Hợp
IC: Chi phí trung gian
HA: hecta
TRSX: Trồng rừng sản xuất
Trđ: Triệu đồng
NPK: Nitơ phốtpho kali


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU


ĐƠN VỊ QUY ĐỔI
1 sào = 500m2
1Ha = 10000m2
1 công lao động = 200000 đồng
1 công máy = 350000 dồng
1 cây giống = 1100 đồng
1kg NPK = 10000 đồng


TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn, nắm được tình hình hoạt động và đánh giá hiệu

gian qua đã nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân.
Kết quả và hiệu quả kinh tế của việc trồng rừng sản xuất tương đối cao. Hoạt động
trồng rừng sản xuất trên địa bàn xã đã tạo ra những tác động tích cực về mặt xã hội và
môi trường.
Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trồng rừng sản
xuất thuộc dự án phát triển ngành lâm nghiệp.


PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với xu thế phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu lâm sản gỗ cho sản xuất và tiêu
dùng ngày một tăng lên.Tình trạng khai thác gỗ rừng tự nhiên (RTN) quá mức là nguyên
nhân chủ yếu làm giảm độ che phủ của rừng gây xói mòn rữa trôi đất. Trong những năm
gần đây, diễn biến khí hậu toàn cầu thay đổi theo chiều hướng bất lợi, tình trạng hạn
hán, bão lụt và sạt lở đất xảy ra thường xuyên ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới.
Điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, đời sống của nhân dân, có nguy cơ đe dọa
sự sống của trái đất. Đứng trước nguy cơ suy thoái về tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp
như hiện nay, việc khuyến khích trồng rừng, chế biến và sử dụng gỗ rừng trồng được
xem là một giải pháp hữu hiệu làm giảm áp lực về lâm sản gỗ lên RTN phục vụ nhu cầu
phát triển.Vì vậy, việc phát triển trồng rừng sản xuất (TRSX) là một yêu cầu tất yếu
khách quan của sự vận động và phát triển kinh tế mang tính xã hội hóa cao.
Rừng tự nhiên hiện nay đã bị suy thoái nghiêm trọng, vì vậy việc cung cấp gỗ và
bảo vệ môi sinh rất bị hạn chế. Để đáp ứng nhu cầu về gỗ, nhiều nước trên thế giới
đang nhanh chóng phát triển trồng rừng cả về diện tích cũng như số lượng chủng loại
cây trồng. Xác định tầm quan trọng của việc TRSX, trong những năm qua Đảng và
Chính phủ Việt Nam đã rất quan tâm và có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích
phát triển. Sản lượng và chất lượng gỗ rừng trồng phục vụ công nghiệp dăm giấy, chế
biến mộc, mỹ nghệ phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu ngày càng tăng đưa lại nguồn thu
ngoại tệ lớn, góp phần thúc đẩy phát triển. Ngành lâm nghiệp Việt nam, những năm

phục vụ sản xuất còn khó khăn; trình độ lao động thấp, tập quán canh tác còn lạc hậu,
việc tiếp cận thị trường sản phẩm bị hạn chế, nhận thức của người dân còn thấp, chưa
thấy hết được giá trị kinh tế từ phát triển đồi rừng mang lại, chưa coi trọng hiệu quả,
giá trị của việc trồng rừng nên tỷ lệ cây trồng sống không cao, phụ thuộc nhiều vào
điều kiện tự nhiên, chưa dám đầu tư nhiều cho việc phát triển kinh tế đồi rừng, kinh tế
trang trại. Bên cạnh đó, công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành, triển khai các cơ chế
chính sách hỗ trợ phát triển trồng rừng tại một số cơ sở còn yếu... Cơ sở phục vụ cho
sản xuất Lâm nghiệp còn nhiều khó khăn. Đây cũng là vấn đề bức xúc đang đặt ra hiện
nay dẫn đến thu nhập của người trồng rừng thấp. Từ thực tế trên, nghiên cứu hiệu quả

9


trồng rừng keo, đề xuất với các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả là một nhu cầu cấp
bách của sản xuất, nhằm giảm sức ép về lâm sản lên rừng tự nhiên.
Xuất phát từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài: “HIỆU QUẢ KINH TẾ TRỒNG
RỪNG SẢN XUẤT tại xã Thủy Bằng – thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế”
để làm đề tài tốt nghiệp.

2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Việc nghiên cứu hiệu quả kinh tế trồng rừng sản xuất tại xã Thủy Bằng nhằm
mục đích đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt
động trồng rừng. Kết quả nghiên cứu có thể cung cấp thông tin hữu ích cho người sản
xuất và các nhà hoạch định chính sách trong việc phát triển sản xuất lâm nghiệp bền
vững, hiệu quả.

2.2. Mục tiêu cụ thể
• Hệ thống hóa và bổ sung những vấn đề lý luận về hiệu quả kinh tế đối với sản
xuất lâm nghiệp nói chung và rừng trồng nói riêng.

- Số liệu thứ cấp: dựa vào nguồn số liệu của các báo cáo, niên giám thống kê xã,
huyện năm 2015 và các tạp chí liên quan, từ sách báo, internet…

4.2. Phương pháp xử lý số liệu
- Phương pháp thống kê kinh tế: Dựa vào số liệu để phân tích, so sánh, số tuyệt
đối, số tương đối, làm rõ các vấn đề, đưa ra nhận xét.
- Phương pháp hạch toán kinh tế: Dưạ vào số liệu thu thập được để tính toán các
chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế như: giá trị sản xuất, tổng chi phí, thu nhập hỗn
hợp…

11


4.3. Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Tham khảo những nghiên cứu của một số nhà khoa học, ý kiến của cán bộ huyện,
xã, các trưởng thôn, nông dân, những chủ thu mua gỗ rừng trồng, những người am
hiểu, có kinh nghiệm trên địa bàn.

12


PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT CỦA XÃ THỦY BẰNG – THỊ XÃ HƯƠNG THỦY
– TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Lý luận chung của hiệu quả kinh tế
1.1.1. khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện và
mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong

chiều rộng là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất, tăng thêm vốn, bổ sung lao động
và kĩ thuật, mở mang thêm nhiều nghành nghề, xây dựng nhiều xí nghiệp tạo ra nhiều
mặt hàng mới. Phát triển theo chiều sâu là đẩy mạnh cách mạng khoa học và công
nghệ sản xuất, tiến nhanh lên hiện đại hóa, tăng cường chuyên môn hóa, nâng cao
cường độ sử dụng các nguồn lực, chú trọng chất lượng sản phẩm dịch vụ.
Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao lao động xã hội và tiết kiệm lao động
xã hội. Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả gắn với hai quy
luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật năng suất lao động và quy luật tiết
kiệm thời gian. Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh tế là đạt kết quả tối đa với chi
phí nhất định hoặc ngược lại, đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây
hiệu theo nghĩa rộng bao gồm các chi phí để tạo ra nguồn lực, đồng thời phải bao gồm
cả chi phí cơ hội.
Nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với yêu cầu tăng trưởng
và phát triển kinh tế nói riêng và phát triển xã hội nói chung. Một mặt tận dụng và tiết
kiệm các nguồn lực hiện có. Mặt khác thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, tiến
nhanh vào công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển kinh tế với tốc độ nhanh, nâng
cao đời sống vật chất cho người lao động.

14


1.1.2. Ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả kinh tế
Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và sản xuất nông nghiệp nói
riêng việc đánh giá hiệu quả kinh tế sau mỗi chu kì sản xuất là rất quan trọng và không
thể thiếu.
Khi đánh giá hiệu quả kinh tế chúng ta phải xem xét, đánh giá cả yếu tố đầu vào
lẫn đầu ra từ đó biết được mức độ sử dụng các nguồn lực đã đạt hiệu quả hay chưa,
biết được nguyên nhân làm hạn chế sản lượng đầu ra trên cơ sở đó đưa ra các biện
pháp khắc phục hợp lý. Đồng thời nó còn là căn cứ để xác định phương hướng đạt
tăng trưởng cao trong sản xuất. Một kết quả có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân tạo

∆Q
∆C

: Khối lượng sản phẩm tăng thêm

:Chi phí tăng thêm

Phương pháp này giúp chúng ta xác định được hiệu quả một đồng chi phí đầu tư
tăng thêm mang lại, phương pháp này được sử dụng trong nghiên cứu đầu tư chiều
sâu, đầu tư thâm canh, đầu tư tái sản xuất mở rộng.
∗ Các nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh tế
Nguyên tắc về mối quan hệ giữa các mục tiêu và tiêu chuẩn hiệu quả: theo
nguyên tắc này tiêu chuẩn hiệu quả được định ra trên cơ sở mục tiêu. Phân tích hiệu
quả của một phương án luôn dựa trên phân tích mục tiêu. Phương án có hiệu quả cao
nhất khi nó đóng góp nhiều nhất cho việc thực hiện mục tiêu đề ra với chi phí thấp
nhất.
Nguyên tắc về sự thống nhất lợi ích: Theo nguyên tắc này, một phương pháp
được xem là có hiệu quả khi nó kết hợp trong đó các loại lợi ích;
Nguyên tắc về tính chính xác, tính khoa học: Để đánh giá hiệu quả kinh tế của
phương án cần dựa trên hệ thống các chỉ tiêu có thể lượng hóa được và không lượng
hóa được, tức là phải kết hợp phân tích định lượng hiệu quả bằng phân tích định tính
khi phân tích định lượng chưa đủ đảm bảo tính chính xác, chưa cho phép phản ánh
được mọi lợi ích cũng như mọi chi phi mà chủ thể quan tâm.
Nguyên tắc này cũng đòi hỏi những căn cứ tính toán hiệu quả được xác định tính
chính xác, tránh chủ quan tùy tiện.
Nguyên tắc về đơn giản và thực tế: Theo nguyên tắc này những phương án tính
toán hiệu quả và hiệu quả kinh tế phải được dựa trên cơ sở số liệu thông tin thực, đơn

16




- MI/IC: Chỉ tiêu này cho biết cứ mỗi đồng chi phí trung gian bỏ ra trong năm sẽ
mang lại bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp.
1.2. Rừng trồng và một số đặc điểm về rừng
1.2.1. khái niệm về lâm nghiệp
Lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất độc lập với nền kinh tế quốc dân. Có chất
năng xây dựng rừng, quản lý và bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản
và phát huy chức năng phòng hộ rừng.
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động sản xuất lâm nghiệp
1.2.2.1. Chu kỳ sản xuất lâm nghiệp tương đối dài, đối tượng sản xuất là những cơ
thể sống
Nói đến lâm nghiệp là nói đến rừng, rừng là một quần thể sinh vật rất phong phú
và phức tạp, đó là những cơ thể sống có quy luật sinh trưởng và phát triển riêng phụ
thuộc vào đặc tính sinh học của chúng. Có những cây phát dục nhanh nên năng suất
sinh khối lớn, nhưng có cây phát dục và sinh trưởng chậm nên năng suất sinh khối
kém hơn. Tuy nhiên, dù cây rừng có khác nhau nhưng nhìn chung chu kỳ sinh trưởng
và phát triển của chúng tương đối dài từ hàng chục đến hàng trăm năm.
Với đặc điểm trên, sản xuất lâm nghiệp có mức đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn
chậm, việc bố trí các loại cây trồng phải phù hợp giữa các điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội của từng vùng với các đặc tính sinh học của từng loại cây rừng. Tuy nhiên, do
chu kỳ sản xuất của lâm nghiệp dài cho nên mức độ dao động về thời gian lớn hơn sản
xuất nông nghiệp. Vì vậy, người ta có thể lựa chọn thời điểm thích hợp để thu hoạch
sản phẩm nhằm thu lợi nhuận cao.
1.2.2.2. Quá trình tái sản xuất kinh tế và tái sản xuất tự nhiên xen kẽ với nhau,
trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên là chủ yếu và có tác dụng quyết định
Rừng có khả năng tái sinh và tăng trưởng. Đó là khả năng cây rừng tự thay thế
đời cây này bằng đời cây khác, rừng cây này bằng rừng cây khác. Đó cũng chính là

18

19


quan hệ chặt chẽ với điều kiện khí hậu, đất đai, sinh trưởng và phát triển tuân theo
những quy luật nhất định.
Sản xuất lâm nghiệp mang tính chất công nghiệp thể hiện ở quá trình khai thác,
vận chuyển và chế biến lâm sản, đối tượng sản xuất của quá trình này không phải là
cây rừng còn sống mà là cây gỗ đã chặt hạ.
1.2.2.5. Sản xuất lâm nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ giữa tái sinh rừng và khai
thác rừng
Tái sinh rừng là điều kiện để khai thác rừng, khai thác rừng là một trong các mục
đích của tái sinh rừng. Tuy nhiên, tái sinh rừng và khai thác rừng có sự ràng buộc lẫn
nhau hết sức chặt chẽ, chịu sự tác động của những yếu tố mâu thuẫn lẫn nhau như:
Khai thác rừng lớn do nhu cầu của các sản phẩm từ rừng của dân cư và nền kinh tế
ngày càng tăng, trong khi sự tăng trưởng tự nhiên của rừng phụ thuộc vào quy mô
rừng, điều kiện thời tiết, khí hậu và chủng loại cây rừng. Mức tăng trưởng của rừng
thường thấp hơn nhu cầu khai thác rừng, do chu kỳ tái sản xuất tài nguyên rừng rất
chậm và diễn ra trong thời gian dài.
Phương thức tái sinh rừng và nói chung là kỹ thuật trồng rừng phụ thuộc vào
phương thức khai thác. Nếu như áp dụng phương pháp khai thác chọn thì việc khai
thác gỗ có liên quan đến việc trồng rừng một cách chặt chẽ đến nỗi khó có thể xách
định được ở đâu là nơi kết thúc trồng rừng và ở đâu là nơi bắt đầu khai thác gỗ. Từ đây
đặt ra vấn đề, cần kết hợp chặt chẽ giữa khai thác và tái sinh rừng nhằm tạo điều kiện
cho rừng luôn tồn tại và phát triển.
1.2.2.6. Sản xuất lâm nghiệp có tác dụng nhiều mặt
Quá trình sản xuất lâm nghiệp tạo ra rừng. Rừng đến tuổi thành thục công nghệ
có tác dụng cung cấp lâm sản cho nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội. Rừng đang
ở giai đoại sinh trưởng và phát triển như: Rừng non, rừng khép tán có tác dụng phòng
hộ, bảo vệ môi trường sống, duy trì cân bằng sinh thái, chống gió bão, duy trì và điều
tiết nguồn nước chống xói mòn đất, giữ gìn và cải thiện lâm phần. Ngoài ra, có những


21


Tuy nhiên, chế độ mưa nhiệt đới ẩm gió mùa gây nên những hậu quả nghiêm
trọng đối với hoạt động sản xuất lâm nghiệp như: Cháy rừng, hạn hán, lũ lụt, sâu
bệnh…
1.2.3. Vai trò của rừng
1.2.3.1. Vai trò cung cấp lâm sản
Lâm nghiệp là ngành sản suất vật chất tham gia vào tái sản xuất tổng hợp sản
phẩm xã hội. Hàng năm, một phần trong tổng sản phẩm do ngành lâm nghiệp sản xuất
ra dưới dạng hàng hóa đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế quốc dân và đời
sống xã hội. Các sản phẩm của ngành lâm nghiệp có thể là sản phẩm tiêu dùng cuối
cùng cũng có thể là yếu tố đầu vào cho các ngành sản xuất khác. Trong đó gỗ là sản
phẩm cung cấp cho các ngành công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản, giao thông
vận tải và trong mỗi gia đình. Ngày nay hầu như tất cả các ngành đều phải dùng đến
gỗ, vì nó là nguyên liệu phổ biến, dễ gia công chế biến và nhiều tính năng ưu việt nên
được nhiều người ưa chuộng.
1.2.3.2. Tạo nguồn thu nhập và công ăn việc làm cho người trồng rừng
Rừng cung cấp gỗ và các lâm đặc sản khác cho tiêu dùng trong nước và xuất
khẩu cho nên đã tạo ra nguồn thu nhập về tài chính cho Ngân sách Trung ương và địa
phương, góp phần vào quá trình tích luỹ cho nền kinh tế quốc dân. Rừng cũng là
nguồn thu nhập chính của chư dân sống ven rừng. Lâm nghiệp thực hiện chính sách
giao đất giao rừng đến hộ gia đình và cộng đồng địa phương, đã thu hút cư dân tham
gia vào các hoạt động trồng rừng, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ rừng, khai thác và chế
biến lâm sản, góp phần vào việc tạo công ăn việc làm cho người lao động, giải quyết
vấn đề bức xúc hiện nay của vùng trung du và miền núi.
Rừng là nguồn thu nhập quan trọng của đồng bào các dân tộc miền núi, là cơ sở
quan trọng để phân bố dân cư, điều tiết lao động xã hội, tạo công ăn việc làm, góp
phần xóa đói giảm nghèo cho toàn xã hội.


23


1.2.4.2. Nhân tố đầu vào
Vốn: Là nhân tố quan trọng nhất trong việc thực hiện đầu tư vào sản xuất. Nó
biểu hiện quy mô, năng lực sản xuất kinh doanh và quyết định kết quả, hiệu quả sản
xuất kinh doanh. Do đó việc huy động vốn đúng lúc, đúng thời điểm là điều rất quan
trọng. Ngoài ra sự chủ động về vốn khiến cho người trồng rừng không bị ép giá trong
mua bán và tiêu thụ gỗ từ rừng trồng. Do đó vốn là yếu tố quan trọng, đầu tiên của họ
trong việc lựa chon quy mô, phương thức sản xuất.
Lao động: Thể hiện ở trình độ, phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm của hộ nông
dân. Lao động là yếu tố quyết định đến quá trình sản xuất kinh doanh vì không có một
ngành nào mà không cần đến lao động. Trong lĩnh vực lâm nghiệp cũng vậy. Rừng
trồng thường là những cây dài ngày, có thời gian sinh trưởng và phát triển dài, việc
chăm sóc, thu hoạch mang tính thời vụ cao, đòi hỏi lượng lao động lớn. Vì thế việc
đáp ứng nhu cầu có ý nghĩa lớn trong việc trồng rừng.
Giống: Là nhân tố quan trọng quyết định đến năng suất của rừng trồng. giống
phải có khả năng sinh trưởng nhanh, chất lượng gỗ tốt, chống chịu sâu bệnh và khả
năng thích nghi cao.
1.2.4.3. Nhân tố đầu ra
Thị trường tiêu thụ: Là nơi gặp nhau của người bán và người mua. Xác định đúng
thị trường luôn là vấn đề quan tâm của các nhà kinh tế vì công tác khai thác thị trường
sẻ giải đáp các câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai?
Đi kèm với yếu tố thị trường là yếu tố giá cả, đây là điều mà mọi người nông dân
thật sự quan tâm. Giá cả của các yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra có ý nghĩa quyết
định đến hiệu quả của việc trồng rừng. Thực tế cho thấy giá cả của sản phẩm lâm
nghiệp thường bấp bênh và chịu tác động của thị trường thế giới. Trong khi đó giá cả
của các yếu tố đầu vào thường ổn định và tăng lên hàng năm. Ngoài ra người nông dân
thường thiếu thông tin về thị trường nên hay bị ép giá, điều này ảnh hưởng không nhỏ

2.1.2. Khó khăn, thách thức
Tháng 8 năm 2015, Bộ nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) công bố: số
liệu hiện trạng rừng toàn quốc tính đến 31/12/2014 có 13.796.506 ha (bao gồm rừng tự
nhiên 10.100.186 ha và rừng trồng 3.696.320 ha).

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status