VẤN ĐỀ SỞ HỮU CHÉO VÀ ĐẦU TƯ CHÉO TRONG
QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
TẠI VIỆT NAM60
Đinh Tuấn Minh
1. Dẫn nhập
Trong những năm gần đây hiện tượng sở hữu chéo liên quan đến
hệ thống tín dụng của Việt Nam đã trở thành một đề tài nóng, thu hút sự
chú ý của giới chuyên gia và hoạch định chính sách. Sở hữu chéo được
xem như là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến nợ xấu
và nguy cơ thao túng các hoạt động kinh doanh tài chính.
Mặc dù tác giả của bài viết này đồng ý với luận điểm trên (xem
Đinh Tuấn Minh, 2012), nhưng chúng tôi cho rằng để tìm ra được giải
pháp phù hợp để giảm hoặc hạn chế các tác hại của quan hệ sở hữu chéo
trong nền kinh tế nói chung và liên quan đến hệ thống tín dụng nói riêng
cho tổng thể nền kinh tế thì trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu lợi ích
của hiện tượng này, chí ít là cho những công ty tham gia vào hình thành
quan hệ sở hữu chéo. Nếu không có lợi ích kinh tế thì hiện tượng này
không thể tồn tài lâu dài. Việc tìm hiểu các lợi ích song song với tác hại
của sở hữu chéo sẽ cho ta một bức tranh đầy đủ hơn về các thuận lợi và
khó khăn của quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam khi có
sự hiện diện của quan hệ sở hữu chéo.
Bài viết này có cấu trúc như sau. Trong phần tiếp theo, chúng tôi sẽ
xem xét lợi ích và tác hại của sở hữu chéo nói chung và liên quan đến
hệ thống tín dụng nói riêng từ góc độ lý thuyết và kinh nghiệm quốc
tế. Trong phần 3 chúng tôi sẽ đánh giá tình trạng sở hữu chéo trong hệ
60Một phần nội dung của bài viết đã được trình bày tại Hội thảo “Rủi ro sở hữu chéo và đầu tư
chéo: thực trạng và giải pháp cho thị trường tài chính Việt Nam” 31/7/2013, Trung tâm Hội nghị
Quốc tế, Hà Nội, Việt Nam. Bài viết mới ở dạng thô, đề nghị không trích dẫn.
227
các công ty đại chúng niêm yết vào năm 1989 và con số này đã giảm
xuống còn khoảng 40% vào năm 1998. Các tập đoàn lớn như Mitsui,
Mitsubishi, Sumitomo, Fuji, Sanwa, Dai-Ichi Kangyo, DKB… đều sở
hữu những ngân hàng lớn (Scher, 2001).
228
Mô hình ngân hàng nắm giữ cổ phần tại các doanh nghiệp của Đức
và Nhật đã từng được xem như là một đối trọng so với mô hình truyền
thống Anh - Mỹ, nơi mà hệ thống ngân hàng hoạt động tương đối tách
biệt khỏi khu vực doanh nghiệp phi tài chính ngân hàng. Mô hình này đã
được áp dụng tại khác nhiều nước như Thụy Điển, Hàn Quốc, và nhiều
nước Đông Nam Á sau này như Thái Lan và Indonesia. Tuy nhiên, kể
từ sau khi Nhật Bản rơi vào duy thoái trong đầu thập niên 1990 và sau
khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1997, mô hình này đã không
còn được ưa thích nữa.
2.2 Lợi ích và tác hại của sở hữu chéo
Khi một doanh nghiệp sở hữu chéo một doanh nghiệp khác, đích
hướng đến của hành vi này không chỉ dừng lại ở việc đầu tư thông
thường nhằm hưởng cổ tức hay lãi vốn. Điều mà hành vi này hướng đến
là tăng quyền lực kiểm soát (control power). Kiểm soát quyền lực qua
sở hữu chéo mang lại lợi ích cho doanh nghiệp trên hai phương diện:
giảm chi phí giao dịch cho một số các hoạt động hợp tác giữa các bên
liên quan và có khả năng thao túng thị trường. Trong khi hành vi hợp
tác để giảm chi phí giao dịch và thúc đẩy hoạt động sáng tạo làm tăng
phúc lợi cho xã hội thì ngược lại, hành vi thao túng thị trường lại được
xem như là có hại cho phúc lợi xã hội.
Theo lý thuyết về chi phí giao dịch (Williamson, 1996), các công
ty sẽ chọn mô thức quản chế giao dịch khác nhau (thị trường, cấu trúc
thứ bậc hãng, và các hình thức lai hợp) với mỗi loại giao dịch tùy thuộc
chứng khoán. Nhờ được đảm bảo về vốn, doanh nghiệp có thể yên tâm
đầu tư vào các dự án nghiên cứu và phát triển thường khá rủi ro và mất
khá nhiều thời gian.
Lợi ích của sở hữu chéo đối với hoạt động sáng tạo đổi mới đã
được ghi nhận bởi Cơ quan Hoạch định Chính sách kinh tế Nhật Bản
(Japan Economic Planning Agency - 1992) và nhiều nghiên cứu học
thuật, tiêu biểu là O’Sullivan (2001). Trong công trình này O’Sullivan
đã chỉ ra rằng mô hình quản trị doanh nghiệp kiểu Đức và Nhật cho
phép các doanh nghiệp nước này có điều kiện tốt hơn các doanh nghiệp
của Anh - Mỹ trên khía cạnh sáng tạo đổi mới. Đấy chính là điều đã làm
nên sự phát triển thần kỳ của Đức và Nhật sau Thế chiến thứ II.
Mặc dù có những lợi ích như thế nhưng sở hữu chéo luôn bị giới
học giả theo trường phái Ănglê-Sacxông phản đối bởi sở hữu chéo có
thể dẫn đến khả năng thao túng thị trường. Khi một doanh nghiệp A
230
nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp B, dù là trực tiếp hay gián tiếp, thì
A vẫn có thể kiểm soát tốt hơn các dự án/ hợp đồng hợp tác với B hoặc
thậm chí tác động vào việc định giá hay sản lượng cung ra thị trường
của B. Không những thế, nếu bản thân A cũng kinh doanh trong lĩnh
vực của B thì A cũng sẽ cân nhắc về việc định giá và cung ứng sản
lượng của chính mình để sao cho không ảnh hướng xấu đến lợi nhuận
của B. Hay nói cách khác, khi tồn tại quan hệ sở hữu chéo, ắt sẽ dẫn
đến sự kiểm soát điều hành hay cấu kết giữa các doanh nghiệp có quan
hệ sở hữu trong cùng ngành để hưởng lợi nhuận từ việc tác động/ thao
túng thị trường. Mặc dù điều này có lợi cho các doanh nghiệp liên quan
nhưng xét tổng thể nền kinh tế thì sẽ làm kìm hãm cạnh tranh và giảm
tính sáng tạo của nền kinh tế.
Đa phần các nghiên cứu thực nghiệm gần đây chỉ ra sự tồn tại của
tế khi chi phí thị trường lớn. Tuy nhiên, sự tồn tại của sở hữu chéo lại
khiến cho thị trường bị tổn hại, không phát triển được. Kết hợp hai luận
điểm này ta có thể đưa ra nhận định rằng trong ngắn hạn sở hữu chéo
mang lại một số hữu dụng nhưng về dài hạn, sở hữu chéo tạo ra cơ chế
củng cố sự bền vững của chính nó với cái giá phải trả là sự tổn hại của
thị trường. Hàm ý chính sách dựa trên lý thuyết tổng quát về sở hữu
chéo ở đây là: chính sách giảm sở hữu chéo là điều nên làm, nhưng
giảm sở hữu chéo được đến đâu trên thực tế lại phụ thuộc vào việc xây
dựng thị trường hiệu quả đến mức độ nào.
2.3 Sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng: lợi ích và tác hại
Trong các mối quan hệ sở hữu chéo, sở hữu chéo trong hệ thống tín
dụng ngân hàng bị giới học giả phê phán nhiều hơn cả. Bên cạnh lý do
về cấu kết ngầm, sở hữu chéo trong hệ thống tín dụng ngân hàng tạo ra
rủi ro hệ thống do đặc thù của lĩnh vực này.
Có thể phân sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng thành hai loại: (i)
sở hữu giữa doanh nghiệp và ngân hàng, theo đó doanh nghiệp sở hữu cổ
phần của ngân hàng hoặc ngân hàng sở hữu cổ phần của doanh nghiệp;
và (ii) các ngân hàng nắm cổ phần của nhau. Với loại sở hữu chéo thứ
nhất, việc duy trì sở hữu chéo giúp cho ngân hàng có thể bán được các
sản phẩm (tín dụng doanh nghiệp, tín dụng cá nhân, các dịch vụ thanh
toán v.v.) cho các doanh nghiệp liên quan. Ngược lại, khi doanh nghiệp
có mối quan hệ sở hữu chéo với ngân hàng có thể dể dàng tiếp cận vốn
hơn và với chi phí hợp lý hơn cho các dự án trung và dài hạn hay có tính
rủi ro cao (như các dự án phát triển sản phẩm mới hoặc thị trường mới).
Tuy nhiên, hệ quả của sở hữu chéo giữa doanh nghiệp và ngân hàng là
232
nguy cơ tạo ra các khoản vay thiếu cẩn trọng và việc sử dụng vốn kém
hiệu quả từ phía doanh nghiệp. Đây là mầm mống dẫn đến các khoản nợ
233
lộ những bất cập và được điều chỉnh mạnh theo hướng giảm quan hệ
sở hữu chéo giữa hệ thống ngân hàng và khu vực doanh nghiệp từ cuối
thập niên 1980. Còn nghiên cứu của Donnato và Tiscini (2009) về sở
hữu chéo giữa ngân hàng và doanh nghiệp tại Italia cho thấy mối quan
hệ này khiến cho doanh nghiệp phải chịu chi phí về lãi vay cao hơn so
với trường hợp không tham gia vào sở hữu chéo chứ không phải theo
chiều ngược lại.
3. Sở hữu chéo và đầu tư chéo trong hệ thống ngân hàng Việt
Nam
3.1 Các dạng sở hữu chéo ở Việt Nam
Tại Việt Nam, tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống tín dụng ngân
hàng đã ở mức báo động. Các mối quan hệ sở hữu chéo được hình
thành chằng chịt giữa các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN),
ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), ngân hàng thương mại
nước ngoài (NHTMNNg), các quỹ tài chính, doanh nghiệp nhà nước
(DNNN), và doanh nghiệp tư nhân. Trên cơ sở phân chia sở hữu chéo
thành hai nhóm giữa doanh nghiệp với tổ chức tín dụng và giữa các tổ
chức tín dụng với nhau, ta có thể chia thành các nhóm nhỏ sau:
1. Sở hữu của các NHTMNN và NHTMNNg tại các ngân hàng
liên doanh: Hiện tại có sáu ngân hàng liên doanh trong hệ thống các tổ
chức tín dụng của Việt Nam. Thông thường một ngân hàng liên doanh
được sở hữu bởi một ngân hàng nước ngoài và một ngân hàng trong
nước. Chẳng hạn ngân hàng Việt Thái là ngân hàng liên doanh giữa ba
đối tác lớn - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
(NHNo&PTNT), Ngân hàng Thương mại Siam của Thái Lan và Tập
đoàn Charoen Pokphand (CP) của Thái Lan với tỷ lệ vốn góp tương
ứng là 34%, 33% và 33%; Ngân hàng Việt Nga là liên doanh giữa Ngân
nhân: trong giai đoạn bùng nổ các NHTMCP và quỹ đầu tư tài chính,
rất nhiều tập đoàn và tổng công ty nhà nước đã tham gia góp vốn hình
thành các tổ chức tín dụng này. Đến thời điểm cuối 2011 có khoảng gần
40 các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân có sở hữu trên 5% tại các
NHTMCP. Hơn nữa, hầu hết các tập đoàn nhà nước đều có các công ty
tài chính. Mối quan hệ giữa NHTMCP với các tập đoàn tư nhân ngày
càng trở nên phức tạp. Nhiều ngân hàng có thể được sở hữu bởi rất
nhiều công ty gia đình hoặc các thành viên gia đình vốn đồng thời lãnh
đạo ở các doanh nghiệp khác.
235
7. Ngân hàng sở hữu các công ty chứng khoán, đầu tư tài chính,
bảo hiểm, bất động sản: trong giai đoạn từ 2007 trở lại đây nhiều ngân
hàng có xu hướng chuyển sang mô hình tập đoàn tài chính. Trong mô
hình này, các ngân hàng sẽ tham gia góp vốn thành lập các công ty con
kinh doanh trong các lĩnh vực bất động sản, môi giới chứng khoán,
quản lý quĩ, bảo hiểm v.v... Thông tin thu thập từ bốn NHTMNN và tám
NHTMCP lớn nhất cho thấy 11/12 ngân hàng có công ty chứng khoán
là công ty con hoặc công ty liên kết, 8/12 ngân hàng có công ty quản lý
quỹ, đầu tư tài chính, 9/12 ngân hàng có công ty con hoặc công ty liên
kết đầu tư bất động sản, và 5/12 ngân hàng có vốn góp tại các công ty
bảo hiểm.
Bảng 1. Tình trạng sở hữu các công ty chứng khoán, tài chinh, bảo hiểm, và bất
động sản của 12 ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam
Tên ngân hàng
VCB
BIDV
CTG
AGRIBANK
X
-
Công ty đầu tư
bất động sản
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Công ty bảo
hiểm
X
X
X
X
X
-
Nguồn: Tác giả thu thập từ website và báo cáo tài chính các công ty. (Thông
tin cập nhật đến 30/8/2013)
Tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống tín dụng ngân hàng của Việt
Nam trở nên nghiêm trọng khi các mối quan hệ này đã trở thành quan
hệ sở hữu vòng. Các NMTM hoặc những người đứng đầu các NHTM
hàng được duy trì ở mức thấp tương ứng, từ 7-8,5% trong giai đoạn này.
Đây chính là nguyên nhân khiến cho tín dụng của nền kinh tế bùng nổ.
Tốc độ tăng trưởng cung tiền, tín dụng và huy động bình quân hàng năm
trong giai đoạn 2006-2010 lần lượt là 32,5%, 35,5%, và 34,6%.
Tăng trưởng tín dụng nóng khiến cho các doanh nghiệp khó tiếp
cận vốn ngân hàng. Để có thể đáp ứng được nhu cầu tín dụng qui mô
lớn, các doanh nghiệp cần liên kết hoặc sở hữu ngân hàng để đảm bảo
việc cung ứng vốn không bị gián đoạn. Tương tự, các ngân hàng cũng
237
chịu áp lực tăng trưởng tín dụng nên thường có xu hướng cho các doanh
nghiệp thân quen vay để giảm thời gian đánh giá và thẩm định hồ sơ.
Khi nhu cầu tín dụng của một nhóm doanh nghiệp quá lớn, việc sở hữu
một ngân hàng sẽ khó đáp ứng đủ nhu cầu, dẫn đến các ngân hàng phải
liên kết với nhau thành nhóm và ràng buộc bởi quan hệ sở hữu. Từ đây,
mối quan hệ sở hữu chằng chịt giữa ngân hàng với ngân hàng, ngân
hàng với doanh nghiệp, ngân hàng và doanh nghiệp với nhà đầu tư cá
nhân xuất hiện. Nói cách khác, tăng trưởng tín dụng nóng là môi trường
thích hợp nhất để dung dưỡng và thúc đẩy sở hữu chéo trong hệ thống
ngân hàng.
Một nguyên nhân khác dẫn đến mối quan hệ sở hữu chéo của Việt
Nam trở nên nghiêm trọng là quyết định chuyển đổi 13 ngân hàng nông
thôn thành ngân hàng thành thị trong giai đoạn 2005-2007. Các ngân
hàng này trước khi chuyển đổi, vốn điều lệ chỉ có khoảng vài chục đến
vài trăm tỷ đồng. Tuy nhiên, theo yêu cầu vốn điều lệ tối thiểu 3000 tỷ
vào năm 2011, các NHTM này đã buộc phải tăng vốn chủ sở hữu lên
10-20 lần chỉ trong vòng chỉ năm năm. Hậu quả của việc phải phát triển
với tốc độ cực nhanh của nhóm các ngân hàng này là chúng phải tăng
trưởng tài sản bằng mọi giá để tương ứng với lượng vốn chủ sở hữu
khiến cho rất nhiều doanh nghiệp khó có thể tiếp cận ngân hàng. Đây là
mảnh đất màu mỡ để quan hệ sở hữu chéo nảy sinh. Một khi có quan hệ
sở hữu chéo, ngân hàng nắm được tình hình của doanh nghiệp dễ dàng
hơn và nhờ vậy việc cấp vốn cũng thông thoáng hơn.
3.3 Đánh giá về lợi ích và tác hại của sở hữu chéo trong hệ thống
tín dụng Việt Nam
Trước khi xem xét các tác hại mà sở hữu chéo trong hệ thống tín
dụng Việt Nam gây ra cho nền kinh tế chúng ta cũng nên ghi nhận
những mặt tích cực của quan hệ này.
Trong bối cảnh năng lực quản trị của các NHTMCP của Việt Nam
còn yếu và quan hệ giữa các ngân hàng trong nước với các doanh nghiệp
nước ngoài còn khó khăn thì các hình thức sở hữu chéo dưới dạng liên
doanh, các định chế tài chính nước ngoài là cổ đông lớn, hay quỹ đầu tư
góp vốn sẽ mang lại những lợi ích nhất định cho những ngân hàng này.
Đặc biết trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống ngân hàng như hiện nay, do
nguồn vốn trong nước hạn hẹp, việc tìm kiếm nguồn vốn từ các định
chế tài chính nước ngoài sẽ góp phần làm tăng hệ số an toàn vốn của các
NHTMCP nhỏ và yếu trong nước.
239
Hình thức sở hữu chéo giữa các NHTM và doanh nghiệp trong
thời gian qua cũng mang lại những lợi ích nhất định cho khu vực doanh
nghiệp trên khía giúp các doanh nghiệp này có thể huy động và tập
trung vốn với qui mô lớn trong thời gian ngắn để mở rộng sản xuất và
thị trường. Nhờ thế nhiều tập đoàn tư nhân lớn đã xuất hiện. Có thể
quan sát qua các hiện tượng Tập đoàn Tân Tạo (thông qua ngân hàng
Nam Việt và ngân hàng Phương Tây), Tập đoàn Masan (thông qua liên
kết với Techcombank), Tập đoàn BRG (qua Sea Bank), FPT và Doji
(qua Tien Phong Bank), T & T (qua SHB), Vạn Thịnh Phát (qua SCB),
quả chính sách đầu tư của nhà nước.
Sở hữu chéo giữa các tổ chức tín dụng của Việt Nam có thể dẫn đến
hiện tượng lũng đoạn thị trường tài chính ngân hàng. Mặc dù điều này
tuy chưa được xác nhận nhưng một số vụ án trong lĩnh vực tài chính
ngân hàng trong năm 2012 có vẻ như minh chứng cho điều này.
4. Những vấn đề cần giải quyết trong sở hữu chéo và đầu tư
chéo trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam
4.1 Các nội dung chính trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân
hàng Việt Nam
Theo đề án tái cơ cấu hệ thống tín dụng ngân hàng mà NHNN trình
Chính phủ thì mục đích của quá trình này là nhằm để giải quyết các vấn
đề sau:
• Hỗ trợ khả năng thanh toán (solvency) cho các ngân hàng yếu
kém. Đây là bước đầu tiên của quá trình tái cơ cấu. Hành động
ở đây chủ yếu được thực hiện thông qua các hình thức sáp
nhập hoặc giải thể các tổ chức tín dụng yếu kém và tái cấp vốn
cho các tổ chức tín dụng có độ an toàn vốn thấp. Cho tới nay,
NHNN đã thực thi bước này thông qua việc thực hiện sáp nhập
8/9 ngân hàng yếu kém vào với nhau hoặc với tổ chức tài chính
mạnh hơn. Ngoài ra, NHNN cũng thực hiện các hành động tái
cấp vốn cho một số ngân hàng có sức khoẻ tài chính yếu. Có
thể nói, cho đến nay, khả năng thanh toán của các tổ chức tín
dụng đã được cải thiện rất nhiều so với giai đoạn cuối 2011 và
đầu 2012.
• Bước tiếp theo là xử lý nợ xấu có tính hệ thống để cải thiện
thanh khoản hệ thống (liquidity). NHNN đã thực hiện một số
chính sách để xử lý nợ xấu như yêu cầu các ngân hàng tăng
trích lập dự phòng, cơ cấu lại kỳ hạn nợ và đặc biệt là việc ra
241
vốn mới để giải quyết nợ xấu. Trong trường hợp này, gánh nặng xử lý
nợ xấu sẽ đặt lên vai VAMC sẽ lớn hơn.
242
Giải pháp cho vấn đề sụt giảm giá vốn khi loại bỏ sở hữu chéo tuỳ
thuộc vào mối quan hệ sở hữu chéo này là gì. Nếu A và B đều là các
TCTD thì giải pháp tốt nhất là sáp nhập với nhau và ghi nhận thua lỗ và
sụt giảm vốn chủ sở hữu. NHNN hỗ trợ khả năng thanh toán trong giai
đoạn đầu hoặc bằng tái cấp vốn hoặc bằng góp vốn. Trong trường hợp
nếu B là ngân hàng và A là doanh nghiệp phi tài chính thì cách tốt nhất
là A bán lại cho tổ chức tài chính nước ngoài có năng lực tài chính tốt và
cho phép tổ chức tài chính nước ngoài nắm cổ phần chi phối bằng cách
yêu cầu bơm thêm vốn. Và cuối cùng nếu A là ngân hàng và B là doanh
nghiệp phi tài chính thì ngân hàng có thể phải dùng vốn chủ sở hữu để
ghi nhận thua lỗ và xin hỗ trợ tái cấp vốn từ NHNN.
4.3 Vấn đề ngưng trệ đầu tư
Một vấn đề khác nảy sinh khi xoá bỏ sở hữu chéo giữa doanh
nghiệp và ngân hàng là doanh nghiệp có thể sẽ bị mất nguồn cung ứng
tín dụng cho các dự án có tính trung và dài hạn. Bởi doanh nghiệp đã
đầu tư nhiều vào một dự án, nay không còn được cung ứng vốn đề
hoàn thành thì ắt sẽ khiến cho dòng tiền bị ngưng trệ và doanh nghiệp
có thể mất khả năng thanh toán cho các khoản đầu tư trước đây. Điều
này khiến cho nợ xấu tại ngân hàng có quan hệ sở hữu chéo trước đây
tăng lên. Trong trường hợp các dự án được tài trợ vốn có tính trung và
dài hạn là các dự án tốt và phải bị ngưng lại vì không còn tiếp tục được
cung ứng vốn thì sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng chung của nền kinh tế
ở một mức độ nào đó.
Để giải quyết hiện tượng này các bên cần có những cam kết tiếp
tục đảm bảo cung ứng tín dụng ngắn hạn cho phía doanh nghiệp khi mối
đánh giá.
Một nguyên nhân nữa dẫn đến hiện tượng sở hữu chéo là quan hệ
gia đình trong quản lý doanh nghiệp của Việt Nam vẫn còn nặng nề.
Đây là vấn đề văn hoá không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước châu
Á khác. Nhà nước và xã hội cần có những chương trình vận động và tư
vấn để các chủ doanh nghiệp, đặc biệt là những người liên quan đến hệ
thống tài chính ngân hàng, nhận ra rằng việc thuê nhà quản lý chuyên
nghiệp điều hành sẽ sinh lợi cho gia sản của mình nhiều hơn. Đây là
điều đã xảy ra ở các nước phát triển đi trước bởi các hoạt động kinh
doanh phức tạp thì cần đòi hỏi nhiều hơn các tính toán duy lý thay vì là
quan hệ dựa trên tình cảm.
244
Tài liệu tham khảo
Donato, F. và R. Tiscini (2009). “Cross ownership and interlocking
directorates between banks and listed firms: an empirical analysis of the
effects on debt leverage and cost of debt in the Italian case”, Corporate
Ownership and Control, 6(3), pp. 473-481.
Fohlin, C. (2005). “The History of Corporate Ownership and Control
in Germany”, trong Morck, R.K., A History of Corporate Governance
around the World: Family Business Groups to Professional Managers,
University of Chicago Press.
Japan Economic Planning Agency [1992] White Paper: Economic
Survey of Japan, 1991-92. Tokyo.
Nguyễn Xuân Thành và Đỗ Thiên Anh Tuấn (2013). Nhận diện
thực trạng và đánh giá ảnh hưởng của sở hữu chéo trong hệ thống tài
chính. Thuyết trình tại Hội thảo “Rủi ro sở hữu chéo và đầu tư chéo:
thực trạng và giải pháp cho thị trường tài chính Việt Nam” do NFSC tổ