1
MỞ ðẦU
1. Tính cấp thiết của ðề tài nghiên cứu
Kiểm toán ñóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát hành BCTC
có chất lượng cao. Tuy nhiên, vụ phá sản của Tập ñoàn Năng lượng Enron, một trong
những tập ñoàn năng lượng hàng ñầu nước Mỹ năm 2001, liên quan ñến sự sụp ñổ của
Hãng Kiểm toán hàng ñầu thế giới Arthur Andersen năm 2002, sau khi Hãng này phải
chịu mức án phạt nửa triệu USD, ñồng thời chấp nhận phá sản do không còn uy tín trên
thị trường kiểm toán, ñã làm tăng lên sự lo ngại về chất lượng kiểm toán [33]. Tiếp sau
sự sụp ñổ của Arthur Andersen, hàng loạt các bê bối khác về chất lượng kiểm toán của
các công ty kiểm toán ñộc lập ñã ñược phanh phui liên quan ñến việc ñưa ra ý kiến
không xác ñáng về BCTC, như trường hợp phá sản của Tập ñoàn Viễn thông
Worldcom (do Arthur Andersen kiểm toán) [32] hay của Tập ñoàn bán lẻ lớn thứ hai
nước Mỹ Kmart (do PricewaterhouseCoopers kiểm toán) [41]... Gần ñây nhất vào
tháng 4/2013, Ngân hàng hàng ñầu thế giới Deutsche Bank, tiết lộ con số tài sản trị giá
395,5 tỉ Euro, tương ñương 19% tổng tài sản trị giá 2,03 nghìn tỉ Euro của Ngân hàng
này, ñã bị che giấu từ năm 2008 ñến nay, nhằm tạo cái nhìn sai lệch của các nhà ñầu tư
về rủi ro trong bảng cân ñối ít hơn so với thực tế [36].
Những sai lệch trong BCTC như vậy có liên quan tới trách nhiệm của các
KTV/công ty kiểm toán hay không vẫn ñang là vấn ñề gây tranh cãi và chưa có kết
luận cuối cùng. Hãng kiểm toán KPMG cũng ñang phải ñối mặt kiện tụng liên quan
tới hai Ngân hàng JP Morgan và Bank of New York trong việc “ñể cho” nhà tài
chính hàng ñầu nước Mỹ Bernard Madoff thực hiện các phi vụ lừa ñảo [38]. Mới
ñây vào tháng 6/2013, khối Dịch vụ Tư vấn của Hãng kiểm toán Deloitte ñã phải
nhận án phạt 10 triệu ñôla Mỹ và phải tạm dừng hoạt ñộng một năm do không hoàn
thành ñúng vai trò tư vấn ñộc lập ñối với Ngân hàng Standard Chartered [35].
Các vụ việc liên tiếp xảy ra như vậy ñã khiến lòng tin của các nhà ñầu tư vào
hoạt ñộng kiểm toán với chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến ngày càng giảm dần.
Nhiều câu hỏi ñược ñặt ra ñể tìm hiểu các nhân tố dẫn ñến chất lượng kiểm toán ñã
không ñược ñảm bảo: Nhân tố về tính ñộc lập, ñạo ñức nghề nghiệp, tính chuyên
các BCTC ñã ñược kiểm toán trở nên không ñáng tin cậy.
Trên thị trường chứng khoán, BCTC của các doanh nghiệp niêm yết ñược
quan tâm từ nhiều nhóm ñối tượng khác nhau và khá phức tạp, không chỉ là các nhà
quản lý doanh nghiệp, mà BCTC còn ñược quan tâm ñặc biệt từ các nhà ñầu tư, các
3
chuyên gia phân tích, tư vấn ñầu tư, các cơ quan quản lý. Trong các ñối tượng ñó,
nhóm quan tâm phổ biến và nhạy cảm nhất ñối với các BCTC là các nhà ñầu tư cá
nhân và tổ chức (quĩ ñầu tư, công ty ñầu tư và công ty chứng khoán). Khác biệt với
các loại hình doanh nghiệp khác như liên doanh, doanh nghiệp ñược sở hữu bởi số ít
cổ ñông, công ty TNHH hay doanh nghiệp tư nhân, BCTC chỉ ñược quan tâm từ
một vài thành viên và ñối tác.
BCTC là hệ thống báo cáo ñược lập theo chuẩn mực và chế ñộ kế toán hiện
hành, phản ánh các thông tin kinh tế tài chính tổng hợp về tình hình tài chính, kết
quả kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp. ðồng thời, số liệu trên
BCTC nhiều khả năng có thể bị xuyên tạc vì lợi ích của các nhà quản lý doanh
nghiệp và những người lập BCTC mà không phải vì mục ñích của các nhà ñầu tư.
KTV và các công ty kiểm toán ñộc lập, với trách nhiệm xác minh ñộ tin cậy của các
BCTC, sẽ ñưa ra ý kiến về BCTC ñã ñược kiểm toán và cho rằng BCTC không còn
chứa ñựng các sai sót trọng yếu, hoặc nếu có thì chúng ñều ñã ñược phát hiện và
báo cáo. Khả năng ñảm bảo này của KTV thể hiện chất lượng kiểm toán.
Tuy nhiên, chất lượng kiểm toán không dễ dàng ñánh giá và nhận biết. Các
thước ño kết quả kiểm toán có thể cho biết chất lượng dịch vụ kiểm toán nhưng lại
không cho biết nhân tố nào khiến cho chất lượng ñạt ñược như vậy và quan trọng
hơn là không cho biết cơ sở ñể nâng cao chất lượng kiểm toán. Do ñó, chỉ có thể
hiểu rõ, nắm vững và kiểm soát ñược các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng mới
giúp nhà quản lý, công ty kiểm toán xác ñịnh ñược phương hướng nâng cao chất
lượng kiểm toán. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán có thể xuất hiện
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước
Tính ñến nay, các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm
toán là không nhiều, chủ yếu là do các nhà nghiên cứu nước ngoài thực hiện. Theo
tìm hiểu của tác giả, trong nước chưa có một nghiên cứu chính thức nào về chủ ñề
này, mà chỉ ñược ñề cập trong các nghiên cứu về kiểm toán BCTC và các vấn ñề có
liên quan.
Trong các nghiên cứu từ nước ngoài, với quan ñiểm chất lượng kiểm toán
ñược hiểu là khả năng KTV phát hiện và báo cáo về những sai phạm trọng yếu
trong việc trình bày và công bố các BCTC của các khách hàng ñược kiểm toán
(quan ñiểm của DeAgelo (1981) [80], Palmrose, Z. (1988) [95], Bradshaw (2001)
[78] và ña số các nghiên cứu khoa học về kiểm toán). Theo ñó, khi ñánh giá về các
5
nhân tố ảnh hưởng ñến chất lượng kiểm toán, kết quả chỉ ra rằng, khả năng các
KTV phát hiện ñược các sai phạm trọng yếu phụ thuộc vào nhiều nhân tố, ñặc biệt
là năng lực nghề nghiệp của KTV; còn khả năng báo cáo sai phạm phụ thuộc vào
tính ñộc lập của KTV (trong ñó có sức ép từ phía khách hàng ñược kiểm toán…)
(Lam and Chang, 1994) [90].
Nhiều nghiên cứu ñiển hình khác ở nước ngoài về các nhân tố ảnh hưởng tới
chất lượng kiểm toán ñược thực hiện bởi Mock & Samet (1982); Schroeder và cộng
sự (1986); Sutton & Lampe (1990); Carcello và cộng sự (1992), Aldhizer và cộng
sự (1995); Davis (1995); Behn và cộng sự (1997); Sucher và cộng sự (1998); Behn
và cộng sự (1999); Pandit (1999); Chen và cộng sự (2001); Francis, 2004; Augus
Duff, (2004); Kym Boon (2007), Kym Boon và cộng sự (2008) [28], [75], [76],
[83]… cũng ñưa ra các kết luận về các nhân tố riêng rẽ hoặc từng nhóm nhân tố ảnh
hưởng ñến chất lượng kiểm toán. Trong các kết quả nghiên cứu, các nhân tố ñược
xác ñịnh có thể mang tính kế thừa và phát triển mới, và mức ñộ quan trọng của các
2008,…) [76], [84] và việc ñảm bảo chất lượng kiểm toán không chỉ phụ thuộc vào các
nhân tố của công ty kiểm toán, mà quan trọng hơn là phụ thuộc vào chính các KTVnhững người trực tiếp thực hiện các cuộc kiểm toán tại công ty khách hàng.
Trong kết quả nghiên cứu “Dimentions of audit quality” của Angus Duff,
University of Paisley (2004), các nhân tố quyết ñịnh tới chất lượng kiểm toán
BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK ñược xem xét theo khía cạnh
chuyên môn (technical) và dịch vụ (service) [83]. Kết quả chỉ ra rằng, các nhân tố
thuộc các KTV/nhóm kiểm toán (như tính ñộc lập, năng lực, kinh nghiệm) và các
nhân tố thuộc về công ty kiểm toán (như danh tiếng, qui mô, khả năng ñáp ứng, dịch
vụ phi kiểm toán) ñều có ảnh hưởng quan trọng tới chất lượng kiểm toán.
Nghiên cứu gần ñây nhất về các nhân tố ảnh hưởng ñến chất lượng kiểm
toán, của Kym Boon, ðại học Macquarie (2007), “Compulsory audit tendering and
audit quality evidence from Australian local government”, cùng một nghiên cứu mở
rộng của Kym Boon và cộng sự Jill McKinnon và Philip Ross (2008) “Audit service
quality in compulsorry audit tendering- Preparer perceptions and satisfaction” [75],
[76], ñã xác ñịnh 14 nhân tố thuộc về KTV và công ty kiểm toán như kinh nghiệm,
khả năng chuyên sâu, ý thức, cam kết chất lượng của công ty, qui mô công ty…,
ñồng thời ñánh giá mức ñộ ảnh hưởng của các nhân tố này tới chất lượng kiểm toán,
qua ñó ñưa ñến một kết luận quan trọng, nếu các nhân tố ảnh hưởng ñến chất lượng
kiểm toán ñược ñảm bảo thì cũng ñảm bảo sự hài lòng của người sử dụng ñối với
chất lượng kiểm toán.
7
Tóm lại, trong các nghiên cứu về chất lượng kiểm toán trên thế giới, các nhân
tố ảnh hưởng ñến chất lượng kiểm toán ñã ñược bàn luận và ñánh giá từ nhiều ñối
tượng khác nhau, như từ chính các kiểm toán viên (chủ thể kiểm toán), công ty khách
hàng ñược kiểm toán (khách thể kiểm toán) hoặc từ phía những người sử dụng kết
quả kiểm toán (những người quan tâm). Tuy nhiên, các nhân tố ñược xác ñịnh có ảnh
hưởng quan trọng tới chất lượng kiểm toán có thể ñược phân nhóm theo 2 cách.
máy kiểm toán, ví dụ, ñề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của GS.TS. ðoàn Xuân
Tiên (2008), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán ñộc lập ở
Việt Nam hiện nay”, hoặc bàn luận về qui trình kiểm toán BCTC ñối với từng lĩnh
vực/ngành nghề cụ thể, ví dụ Luận án tiến sĩ của Phạm Tiến Hưng (2009) “Hoàn
thiện kiểm toán BCTC các công ty xây lắp của các tổ chức kiểm toán ñộc lập”.
Riêng các nghiên cứu trong nước có liên quan ñến chất lượng kiểm toán, ñiển hình
có ðề tài khoa học cấp Bộ của GS.TS. Vương ðình Huệ (2001) “Hoàn thiện cơ chế
kiểm soát chất lượng hoạt ñộng kiểm toán ñộc lập ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ của
Ngô ðức Long (2002), “Những giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán ñộc lập ở
Việt Nam"; Nguyễn Thị Mỹ (2013) "Hoàn thiện kiểm toán báo cáo tài chính của các
công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam"; và ðề tài cấp ngành của
TS. Hà Thị Ngọc Hà cùng nhóm nghiên cứu (2011), "Các giải pháp hoàn thiện, tăng
cường kiểm soát chất lượng công tác kiểm toán báo cáo tài chính các ñơn vị có lợi
ích công chúng". Tuy nhiên, trong các nghiên cứu của các tác giả này, nhân tố ảnh
hưởng tới chất lượng kiểm toán BCTC không phải là ñối tượng và mục tiêu nghiên
cứu chính, mà chỉ là một phần hoặc ñược dùng cho các phân tích bình luận quan
trọng khác liên quan, do ñó các nhân tố ảnh hưởng chưa ñược hệ thống ñầy ñủ,
cũng như chưa ñánh giá mức ñộ ảnh hưởng của chúng tới chất lượng kiểm toán.
Dù vậy, trong các nghiên cứu trong nước, các tác giả cũng ñã nêu ra hoặc bàn luận
ñến các nhân tố ảnh hưởng ñến chất lượng kiểm toán, gồm:
Nhóm nhân tố bên ngoài: (1) Nhu cầu nền kinh tế (ðòi hỏi thị trường,
Trình ñộ Kinh tế-xã hội); (2) Cơ chế của nền kinh tế (gồm Mục tiêu kinh tế, Chính
sách kinh tế, Tổ chức quản lý chất lượng) (Ngô ðức Long, 2002);
Nhóm nhân tố thuộc KTV và CTKT gồm: Nhân tố con người (Chất lượng
KTV và các cấp quản lý); Nhân tố kỹ thuật (Qui trình kiểm toán); Nhân tố quản
lý; Nhân tố về ñiều kiện làm việc (Ngô ðức Long, 2002 và Nguyễn Thị Mỹ,
2013); Qui mô công ty kiểm toán; Mức ñộ chuyên sâu trong kiểm toán; Nhiệm kỳ
của KTV; Giá phí kiểm toán; Phạm vi của dịch vụ phi kiểm toán; Tính cách và
Jensen (1998); Chen và cộng sự (2001); Augus Duff (2004); Kym Boon (2007),
Kym Boon và cộng sự (2008). Các nhân tố thường ñược xác ñịnh có mức ñộ ảnh
10
hưởng quan trọng tới chất lượng là: Khả năng chuyên sâu, Kinh nghiệm, Tính ñộc
lập, Ý thức ñạo ñức nghề nghiệp, Tính chuyên nghiệp; Phí kiểm toán, Phương
pháp và công cụ kiểm toán, Kiểm soát chất lượng nội bộ.
(ii) ðánh giá mức ñộ hài lòng trên cơ sở ñánh giá các nhân tố: Nếu các
nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán ñược nhận thức là quan trọng càng
ñược ñảm bảo thì người sử dụng dịch vụ kiểm toán càng cảm thấy thỏa mãn (hài
lòng) với chất lượng kiểm toán. ðại diện là các nghiên cứu của Davis (1995);
Behn và cộng sự (1997); Sucher và cộng sự (1998); Pandit (1999); Augus Duff
(2004); Kym Boon (2007), Kym Boon và cộng sự (2008).
Như vậy, dựa trên các quan ñiểm khác nhau từ các công trình nghiên cứu
ñã thực hiện về các nhân tố ảnh hưởng ñến chất lượng kiểm toán BCTC nói
chung, cũng như ñể có cơ sở nâng cao chất lượng kiểm toán BCTC các DNNY
trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay, tác giả cho rằng, việc nghiên
cứu các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán BCTC của các DNNY là cần
thiết và thực hiện ñề tài này sẽ lấp khoảng trống mà các nghiên cứu khác tại Việt
Nam chưa thực hiện. Kết quả của nghiên cứu này sẽ làm phong phú thêm kiến
thức lý luận và thực tiễn về chất lượng kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng có liên
quan trong bối cảnh thực tế tại Việt Nam.
3. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của ðề tài
Mục tiêu tổng quát của ñề tài là xác ñịnh các nhân tố ảnh hưởng ñến chất
lượng kiểm toán và ñánh giá mức ñộ ảnh hưởng của từng nhân tố ñến chất lượng
kiểm toán BCTC của DNNY trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay,
làm cơ sở ñề xuất các giải pháp cần tập trung nhằm nâng cao chất lượng kiểm
toán BCTC của DNNY nói riêng và kiểm toán BCTC của các doanh nghiệp nói
toán ñộc lập ñối với BCTC của các DNNY trên TTCK. Doanh nghiệp niêm yết
ñược nghiên cứu trong ðề tài là loại hình công ty cổ phần có chứng khoán (cổ
phiếu và trái phiếu) ñược niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (gồm Sở
Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội).
Phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu
ðể ñạt ñược mục tiêu nghiên cứu, ðề tài tập trung nghiên cứu kiểm toán
BCTC của các DNNY (doanh nghiệp có lợi ích công chúng) trên TTCK trong mối
12
quan hệ với các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán do các công ty kiểm
toán ñộc lập thực hiện, cụ thể:
+ Khảo sát nhận thức và ñánh giá từ phía KTV thuộc các công ty kiểm toán
ñộc lập ñược chấp thuận kiểm toán BCTC các DNNY trên TTCK Việt Nam;
+ Phỏng vấn một số chuyên gia là ñại diện nhà quản lý, lãnh ñạo công ty
kiểm toán, ñại diện nhà ñầu tư tổ chức trong việc ñề xuất các giải pháp liên quan.
+ Thời gian thực hiện khảo sát và phỏng vấn từ năm 2011 ñến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu của ðề tài
ðề tài này ñược thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, là sự kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu ñịnh lượng
và ñịnh tính. Các phương pháp cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp thông tin
Phân tích và tổng hợp thông tin thứ cấp từ các nguồn tài liệu sẵn có trong
nước và quốc tế (chủ yếu từ quốc tế) về các nội dung liên quan ñến ñối tượng nghiên
cứu. Tác giả tiến hành thu thập, phân tích, so sánh và ñánh giá một số nghiên cứu về
các nhân tố ảnh hưởng ñến chất lượng kiểm toán BCTC của DNNY ñể hình thành
khung lý thuyết cơ bản của luận án. Qua ñó, kết hợp với phân tích thực trạng tại Việt
Nam ñể xác ñịnh các nhân tố/tiêu chí ño lường nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng
kiểm toán BCTC của các DNNY trên TTCK Việt Nam.
2009-2012 và các nguồn tham khảo khác từ các kết quả nghiên cứu trước ñây, hoặc
qua thông tin báo chí, website của UBCKNN, Sở Giao dịch chứng khoán, công ty
kiểm toán và từ các doanh nghiệp niêm yết.
6. Những ñóng góp mới của ðề tài
ðề tài này ñược thực hiện mang tính thời sự, có giá trị về mặt lý luận và thực
tiễn, ñược sự quan tâm của nhiều ñối tượng khác nhau. Theo ñó, các ñóng góp gồm:
- Xét về lý luận, ðề tài tổng hợp lý luận theo hướng ñi sâu vào hệ thống hóa
các nhóm nhân tố (tiêu chí ño lường nhân tố) ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán
BCTC của DNNY, những nhân tố nào cần ñược chú trọng về mặt lý thuyết nhằm
ñảm bảo chất lượng kiểm toán BCTC của các DNNY.
- Xét về thực tiễn, ðề tài xác ñịnh nhân tố (tiêu chí ño lường nhân tố) dựa
trên phân tích thực trạng tại Việt Nam, từ ñó ñánh giá mức ñộ ảnh hưởng của các
nhân tố tới chất lượng kiểm toán BCTC các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK
Việt Nam, dựa trên kết quả khảo sát các KTV tại các công ty kiểm toán ñộc lập
14
ñược chấp thuận kiểm toán DNNY và phỏng vấn một số chuyên gia, làm cơ sở ñề
xuất các giải pháp trọng tâm phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu hữu ích ñối với nhiều bên khác nhau như:
- Các nhà quản lý chất lượng kiểm toán BCTC nói chung và kiểm toán
BCTC DNNY nói riêng tại Việt Nam: Về hoàn thiện văn bản pháp lý, kiểm soát
chất lượng cũng như thiết lập các chế tài xử phạt;
- KTV và công ty kiểm toán trong việc ñảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm
toán BCTC DNNY, giúp nâng cao vai trò của kiểm toán ñộc lập trong nền kinh tế.
- Những người sử dụng BCTC ñược kiểm toán (DNNY, nhà ñầu tư tổ chức
và cá nhân), góp phần phát triển lành mạnh DNNY và TTCK, giúp nhà ñầu tư nâng
cao hiểu biết về vai trò của kiểm toán, những rủi ro cũng như quyền lợi sử dụng
BCTC ñã ñược kiểm toán.
toán báo cáo tài chính các
doanh nghiệp niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam
Trả lời câu hỏi nghiên cứu thứ 1:
Những nhân tố nào, cũng như tiêu
chí nào ño lường nhân tố, ñược xác
ñịnh là có ảnh hưởng quan trọng tới
chất lượng kiểm toán BCTC doanh
nghiệp niêm yết trên TTCK tại Việt
Nam hiện nay?
Trả lời câu hỏi nghiên cứu thứ 2:
Chương 3:
Nhân tố nào ñược ñánh giá là có
Kết quả nghiên cứu về các
nhân tố ảnh hưởng ñến chất
lượng kiểm toán báo cáo tài
chính các doanh nghiệp niêm
yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam
mức ñộ ảnh hưởng quan trọng nhất,
Chương 4:
Giải pháp và kiến nghị nhằm
nâng cao chất lượng kiểm toán
báo cáo tài chính các doanh
nghiệp niêm yết dưới góc nhìn kiểm toán trước khi nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng tới chất lượng kiểm toán BCTC doanh nghiệp niêm yết.
1.1.1. Thị trường chứng khoán
1.1.1.1. Lịch sử hình thành thị trường chứng khoán
Lịch sử của TTCK gắn liền với nền kinh tế hàng hóa. Ở Châu Âu, TTCK ñã
xuất hiện từ ñầu thế kỷ thứ XVI. Hoạt ñộng của TTCK rất sôi ñộng, nhạy cảm và có
tác ñộng mạnh tới toàn bộ hoạt ñộng ñời sống kinh tế- xã hội từ tầm vĩ mô tới vi
mô, không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu.
Trước khi xuất hiện loại hình công ty cổ phần, TTCK ñã manh nha xuất hiện
dưới hoạt ñộng trao ñổi tự phát giữa các thương gia về các giấy tờ có giá (các giấy
xác nhận nợ- debenture) tại các thành phố trung tâm buôn bán, các thương cảng lớn
của phương Tây (Frankfurt ở ðức, Amsterdam của Hà Lan, Lisbon của Bồ ðào
Nha) vào khoảng giữa thế kỷ thứ XV ñến ñầu thế kỷ thứ XVI [45, tr.23-27].
Các hoạt ñộng chuyển nhượng các giấy tờ có giá trị như vậy ñược gọi là các
hoạt ñộng mua bán chứng khoán ñầu tiên hình thành nên TTCK. Tuy nhiên, sau sự
ra ñời của các công ty cổ phần (khoảng cuối thế kỷ XVIII), giao dịch chứng khoán
ñã bùng nổ bởi sự hấp dẫn của các cổ phiếu (share) các công ty. Mặc dù TTCK là
nơi diễn ra các giao dịch của không chỉ các cổ phiếu mà gồm cả trái phiếu, thương
phiếu (gọi chung là chứng khoán), nhưng cổ phiếu công ty luôn chiếm tỷ trọng áp
17
ñảo trong các giao dịch mua bán tại TTCK. ðến nay, TTCK trở thành một thị
trường tài chính bậc cao, phát triển mạnh và luôn có sức hấp dẫn ñối với các NðT ở
cả các quốc gia ñang phát triển và ñã phát triển.
1.1.1.2. Khái niệm thị trường chứng khoán
Xét mối quan hệ trong thị trường tài chính, TTCK là một phần của thị trường
18
- Khuyến khích cạnh tranh: Giá cổ phiếu và trái phiếu của một công ty có thể
lên hoặc xuống tùy vào cung cầu thị trường. ðiều này thúc ñẩy các công ty có
chứng khoán niêm yết phải nỗ lực kinh doanh hiệu quả, liên tục ñổi mới công nghệ,
phát triển thương hiệu ñể chứng khoán của công ty hấp dẫn các NðT.
- Phản ánh sức khỏe của nền kinh tế: Chỉ số chứng khoán phản ánh giá
chứng khoán, ñược coi là phản ánh sức khỏe của nền kinh tế, cũng như của mỗi
ngành, mỗi doanh nghiệp.
- Công cụ hội nhập vào nền kinh tế thế giới: Nhờ vào công cụ di chuyển vốn
dễ dàng, TTCK là công cụ ñể các nền kinh tế ñang phát triển hội nhập nhanh chóng
với nền kinh tế thế giới.
ðể các chức năng của TTCK phát huy tác dụng, các nhà quản lý yêu cầu các
thông tin ñược công bố trên TTCK, trong ñó là các BCTC của DNNY phải ñược
cung cấp kịp thời, bảo ñảm tính minh mạch và ñộ tin cậy cao.
1.1.1.4. Phân loại thị trường chứng khoán
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, TTCK ñược phân loại khác nhau. Cụ thể:
- Căn cứ vào quá trình lưu thông chứng khoán, TTCK bao gồm thị trường sơ
cấp và thị trường thứ cấp. Thị trường sơ cấp là nơi chứng khoán ñược phát hành lần
ñầu ra công chúng, thị trường thứ cấp là nơi các chứng khoán ñược mua bán lại.
- Căn cứ vào phương thức giao dịch, TTCK bao gồm thị trường tập trung và
thị trường phi tập trung. Thị trường tập trung là thị trường chính thức, có tổ chức,
trong ñó các chứng khoán ñược niêm yết và giao dịch mua bán tại một nơi gọi là Sở
GDCK hay Trung tâm GDCK.
- Căn cứ vào kỳ hạn giao dịch, TTCK bao gồm thị trường trao ngay, thị
trường giao dịch kỳ hạn và thị trường giao dịch tương lai.
1.1.1.5. ðặc ñiểm của thị trường chứng khoán
- ðặc trưng của TTCK là hình thức tài chính trực tiếp, người cần vốn và
TTCK sơ cấp, sẽ ñược các NðT giao dịch, mua bán lại trên TTCK thứ cấp. Khi các
tổ chức phát hành tiến hành niêm yết chứng khoán là việc công bố chứng khoán ñủ
tiêu chuẩn giao dịch tại thị trường chính thức (sở GDCK hoặc trung tâm GDCK).
Tổ chức niêm yết là tổ chức phát hành có chứng khoán ñược niêm yết trên TTCK.
20
Tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và NðT ñược coi là những chủ thể tạo
nên sự sôi ñộng của TTCK. Trong ñó, các công ty cổ phần là tổ chức phát hành và
tổ chức niêm yết quan trọng, tạo ra nguồn hàng hóa (cổ phiếu, trái phiếu) có khối
lượng giao dịch áp ñảo trên thị trường.
1.1.2. Doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán
1.1.2.1. Khái niệm doanh nghiệp niêm yết
DNNY thực chất là các công ty cổ phần có chứng khoán (cổ phiếu và trái
phiếu) ñược niêm yết trên thị trường chứng khoán (gồm sở GDCK hoặc trung tâm
GDCK). ðể làm rõ khái niệm DNNY, có thể xét các khía cạnh sau:
Xét từ các chủ thể tham gia TTCK, DNNY trước hết là tổ chức phát hành và
có chứng khoán (bao gồm cổ phiếu và trái phiếu) ñược niêm yết trên thị trường
chứng khoán. Dưới góc nhìn này, DNNY thực chất là công ty cổ phần với tư cách
là tổ chức niêm yết. DNNY không bao hàm nói tới các tổ chức phát hành có chứng
khoán niêm yết khác như chính phủ (niêm yết tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc,
trái phiếu ñầu tư); chính quyền ñịa phương (niêm yết trái phiếu ñịa phương); các
doanh nghiệp Nhà nước và công ty TNHH (niêm yết trái phiếu doanh nghiệp); các
quĩ ñầu tư chứng khoán và công ty quản lý quĩ (niêm yết chứng chỉ ñầu tư).
ðể trở thành doanh nghiệp niêm yết trên TTCK phải ñáp ứng các tiêu chuẩn
ñịnh tính và ñịnh lượng theo qui ñịnh của từng sở hoặc trung tâm giao dịch. Các
tiêu chuẩn ñịnh tính như: Triển vọng phát triển, tính khả thi của phương án sử dụng
vốn từ ñợt phát hành, ý kiến của KTV về BCTC của doanh nghiệp, việc thực hiện
SGDCK hoặc Trung tâm GDCK,
chưa ñại chúng
Doanh nghiệp
tư nhân
- Công ty có cổ phiếu ñược ít nhất một
trăm NðT sở hữu, không kể NðT
chứng khoán chuyên nghiệp; và có vốn
ñiều lệ ñã góp từ 10 tỷ ñồng trở lên.
Công ty cổ phần niêm yết
- Là công ty cổ phần ñại chúng
Công ty cổ phần
không niêm yết
- Có cổ phiếu ñủ ñiều kiện niêm
yết, giao dịch trên TTCK
Sơ ñồ 1.2: Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế
Dưới góc nhìn kiểm toán, DNNY là ñơn vị có lợi ích công chúng. Theo quy
ñịnh của Luật Giám sát các CTKT của Hà Lan (năm 2006), các ñơn vị có lợi ích
công chúng có quy mô hoặc chức năng hoạt ñộng trong xã hội mà việc thực hiện
kiểm toán theo luật ñịnh không ñúng ñắn ñối với BCTC của các ñơn vị này có ảnh
hưởng nghiêm trọng ñến lòng tin của công chúng ñối với báo cáo kiểm toán [48].
Tại Việt Nam, theo ðiều 53, Luật Kiểm toán ñộc lập, ñơn vị có lợi ích công
- Cổ phiếu của DNNY ñược sở hữu bởi số lượng lớn cổ ñông và liên tục có
sự biến ñộng tùy thuộc vào quyết ñịnh của các NðT vào cổ phiếu của DNNY: ðây
là ñặc trưng cơ bản của DNNY so với doanh nghiệp không niêm yết, theo ñó, số
lượng và trình ñộ cổ ñông của các DNNY là rất lớn, phức tạp, có lợi ích trực tiếp và
quan tâm sâu tới kết quả hoạt ñộng kinh doanh của doanh nghiệp. ðặc ñiểm cổ
ñông của DNNY cũng khá ña dạng bao gồm cả tổ chức, cá nhân nước ngoài, cổ
ñông ñại diện cho phần vốn của nhà nước. Bên cạnh sự quan tâm của các cổ ñông,
23
DNNY cũng nhận ñược sự quan tâm của nhiều ñối tượng như ñối với doanh nghiệp nói
chung bao gồm nhà quản lý, ngân hàng, khách hàng, nhà cung cấp, các chuyên gia.
- DNNY thường có qui mô lớn và phạm vi hoạt ñộng rộng khắp: Mục ñích
chính của doanh nghiệp khi lựa chọn con ñường niêm yết là nhằm ñáp ứng nhu cầu
mở rộng vốn kinh doanh trên qui mô lớn thông qua thu hút vốn dài hạn từ các NðT,
bên cạnh ñó còn nhằm khẳng ñịnh thương hiệu và uy tín, do vậy DNNY thường là
các doanh nghiệp có qui mô lớn, phạm vi hoạt ñộng rộng và có các mối quan hệ tài
chính phức tạp hơn so với các doanh nghiệp không niêm yết.
- DNNY thường hoạt ñộng kinh doanh ña ngành nghề, tính chất phức tạp,
nhất là những ngành nghề nhiều rủi ro như ñầu tư tài chính, ngân hàng, bất ñộng
sản, xây dựng, sản xuất.
- Hoạt ñộng của DNNY ñược quản lý chặt chẽ bởi nhiều hệ thống pháp luật
trong và ngoài doanh nghiệp như Luật Doanh nghiệp (dành cho công ty cổ phần, kể
cả ñối với công ty cổ phần mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối trên 50%), Luật
Chứng khoán, Luật Kiểm toán ñộc lập (kiểm toán BCTC theo qui ñịnh) và các văn
bản pháp luật liên quan khác, trong ñó yêu cầu cao về tính minh bạch trong hoạt
ñộng và chịu sự qui ñịnh chặt chẽ việc công khai các thông tin trên BCTC.
Các ñặc ñiểm trên ñây của DNNY sẽ chi phối ñến ñặc ñiểm BCTC của
DNNY- thông tin tài chính nhận ñược sự quan tâm ñặc biệt của các chủ thể tham
cũng như ảnh hưởng lan tỏa tới sự phát triển an toàn, lành mạnh của TTCK.
Thứ hai, BCTC theo dõi và phản ánh nhiều chỉ tiêu ñặc thù: Xuất phát từ ñặc
ñiểm cổ phiếu của DNNY ñược sở hữu bởi số lượng lớn cổ ñông và liên tục có sự
biến ñộng, do vậy, BCTC của DNNY phải theo dõi và phản ánh các nghiệp vụ chi
tiết về vốn chủ sở hữu theo từng ñối tượng cổ ñông và theo từng thời ñiểm (cổ
phiếu phát hành thêm và cổ tức); dẫn ñến các chỉ tiêu chỉ xuất hiện trên BCTC của
công ty cổ phần nói chung và của DNNY nói riêng như “thặng dư vốn cổ phần”, “cổ
phiếu quĩ” trên bảng cân ñối kế toán; “lãi cơ bản trên một cổ phiếu” trên báo cáo kết
quả kinh doanh; hay “lợi ích của cổ ñông thiểu số” trên các BCTC hợp nhất; và
Thuyết minh BCTC là một bộ phận rất quan trọng của BCTC, trong khi ñối với các
loại hình doanh nghiệp khác không ñược quan tâm nhiều.
Thứ ba, BCTC phản ánh khối lượng nghiệp vụ lớn và phức tạp: ðặc ñiểm của
các DNNY thường có qui mô lớn và hoạt ñộng ña ngành nghề, gồm cả lĩnh vực nhiều
rủi ro, theo ñó, nếu là BCTC của công ty mẹ phải bao gồm BCTC hợp nhất từ các
công ty con, công ty liên kết, chứa ñựng các quan hệ tài chính phức tạp hơn như ñầu
tư công ty con, ñầu tư chéo, ñầu tư ra nước ngoài. Bên cạnh ñó, BCTC có nhiều chỉ
tiêu, nhiều khoản ước tính kế toán (dự phòng ñầu tư), thông tin trình bày cũng như
theo dõi các nghiệp vụ, khoản mục phức tạp theo ñặc thù ngành nghề kinh doanh của
DNNY như ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng, bất ñộng sản…
25
Thứ tư, BCTC của DNNY phải tuân thủ các qui ñịnh khắt khe hơn của
TTCK, trong ñó có yêu cầu bắt buộc phải kiểm toán: Hoạt ñộng của DNNY ñược
quản lý chặt chẽ bởi nhiều hệ thống pháp luật, trong ñó có qui ñịnh của luật chứng
khoán, do ñó, BCTC của DNNY phải tuân thủ các qui ñịnh khắt khe hơn về thời
gian công bố và bắt buộc phải ñược kiểm toán hàng năm. Về thời gian công bố
ñược qui ñịnh tại từng TTCK, nói chung, BCTC phải ñược công bố từng tháng, quí,
6 tháng, 1 năm và tuân thủ thời gian công bố thông tin nghiêm ngặt hơn so với các