Quan điểm của phranxi bêcơn về vai trò của tri thức khoa học và vấn đề phát triển kinh tế tri thức trong thời đại hiện nay - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ HUYỀN

QUAN ĐIỂM CỦA PHRANXI BÊCƠN
VỀ VAI TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC
VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
TRONG THỜI ĐẠI HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH – Năm 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ HUYỀN

QUAN ĐIỂM CỦA PHRANXI BÊCƠN
VỀ VAI TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC
VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
TRONG THỜI ĐẠI HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lịch sử triết học
Mã số: 62.22.80.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS Đinh Ngọc Thạch
2. PGS.TS Nguyễn Thanh
Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa


Chương 2. NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA PHRANXI BÊCƠN
VỀ VAI TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC TRONG ĐỜI SỐNG
XÃ HỘI ......................................................................................................... 53
2.1. DỰ ÁN “ĐẠI PHỤC HỒI KHOA HỌC” – CƯƠNG LĨNH CỦA PHRANXI BÊCƠN
VỀ VAI TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC...................................................................... 53

2.1.1 Kết cấu, nội dung và ý nghĩa của Dự án "Đại phục hồi khoa học" .......... 53
2.1.2. Phân loại khoa học theo tinh thần đề cao vai trò của khoa học
tự nhiên thực nghiệm ........................................................................................ 69
2.2. PHÊ PHÁN TRI THỨC KINH VIỆN VÀ CÁC “NGẪU TƯỢNG” CỦA NHẬN
THỨC, XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC .................................................. 81

2.2.1. Phê phán tri thức kinh viện và những “ngẫu tượng” của nhận thức ....... 81
2.2.2. Xây dựng phương pháp qui nạp khoa học............................................... 88
2.3. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUAN ĐIỂM PHRANXI BÊCƠN VỀ VAI
TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI .................................. 95

2.3.1. Vai trò của tri thức khoa học trong việc “thắp lên một ngọn đuốc”,
hay vai trò khai mở trí tuệ, “thanh tẩy” lý trí..................................................... 95


2.3.2. Vai trò hàng đầu của tri thức khoa học trong việc góp phần phát triển
lực lượng sản xuất, thúc đẩy nhanh nhịp độ của tiến bộ xã hội ...................... 102
2.3.3. Vai trò to lớn của tri thức khoa học trong quản lý xã hội ..................... 108
2.3.4. Vai trò của khoa học trở thành một thiết chế xã hội ............................. 119
Chương 3. VAI TRỊ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC – TỪ THỜI ĐẠI
PHRANXI BÊCƠN ĐẾN KINH TẾ TRI THỨC TRONG THỜI ĐẠI
NGÀY NAY .................................................................................................... 129
3.1. THUYẾT KỸ TRỊ VÀ THUYẾT HỘI TỤ – NHỮNG CÁCH TIẾP CẬN


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phranxi Bêcơn (Francis Bacon, 1561 – 1626) là nhà triết học duy vật
Anh, người sáng lập chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh và đồng thời là bố
đẻ của khoa học thực nghiệm tự nhiên hiện đại. Các Mác viết: “Người bố đẻ
chính tông của chủ nghĩa duy vật Anh và của toàn bộ khoa học thực nghiệm
hiện đại là Bêcơn” (63, 195). Là đại biểu tiêu biểu của nền triết học Tây Âu
cận đại, Phranxi Bêcơn được xem là người đồng sáng lập tinh thần triết học
mới cùng với nhà triết học người Pháp, Rơnê Đềcáctơ (René Descartes, 1596
– 1650). Phranxi Bêcơn thực sự để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử triết học
nói riêng và lịch sử tư tưởng nói chung với phong cách tư duy mới, thể hiện
bước phát triển tất yếu của tư duy con người trước những biến đổi lớn lao của
thực tiễn. Nước Anh, cũng như toàn thể châu Âu ở thế kỷ XVI – XVII, diễn
ra những sự thay đổi bước ngoặt trong phương thức sản xuất, dẫn đến những
sự biến chuyển trong đời sống tinh thần xã hội. Đó là thời đại nối tiếp tinh
thần văn hoá Phục hưng, đấu tranh chống chế độ chuyên chế phong kiến và
giáo hội, từng bước hình thành phương thức sản xuất mới với vai trò lịch sử
của giai cấp tư sản, đêm trước của các cuộc cách mạng tư sản. Phranxi Bêcơn,
từ đỉnh cao của một nhà chính trị, vị thế của một nhà tư tưởng, triết gia, bằng
vốn sống và kinh nghiệm của mình, bằng năng lực nhạy bén và sáng suốt của
mình, đã thâu tóm được những biến đổi của thời đại và đưa ra những phương
án cải cách đáp ứng nhu cầu thực tiễn của cuộc sống.
Ông là người đầu tiên lên tiếng đòi trả lại phẩm giá cho khoa học đã bị
chìm lấp trong đêm trường trung cổ bởi thần học. Ngay từ rất sớm, (1592),
khi đang còn ở nấc thang danh vọng của sự nghiệp chính trị, Phranxi Bêcơn
đã đưa ra một lời hứa, được coi là mục đích của cuộc đời ông, đó chính là




3

con người trước tự nhiên. Với vai trò mở đường cho tinh thần triết học mới,
Phranxi Bêcơn đã tạo ra một thời đại sôi động và cách mạng trong triết học,
trở thành ngọn cờ tư tưởng của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống lại
trật tự phong kiến và giáo hội và những uy quyền tư tưởng trung cổ.
Khẳng định của Phranxi Bêcơn về vai trò của tri thức khoa học trong đời
sống xã hội suốt mấy thế kỷ qua vẫn tiếp tục được triển khai bởi các trào lưu
triết học ở phương Tây. Thuyết kỹ trị, thuyết hội tụ như hệ quả tất yếu của sự
phát triển tư tưởng của nhân loại trong việc đề cao tri thức khoa học, trí tuệ
con người. Sự phát triển xã hội gắn liền với những thành tựu to lớn của khoa
học kỹ thuật và công nghệ thể hiện năng lực tư duy và sức sáng tạo vô tận của
con người. Sau gần 400 năm, tinh thần triết học Phranxi Bêcơn được chứng
minh một cách trọn vẹn ở thời đại của chúng ta – thời đại kinh tế tri thức. Vào
thập niên năm mươi của thế kỷ XX, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và
công nghệ đã khẳng định một thời đại mới, thời đại mà khoa học thực sự trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp, góp phần to lớn vào sự phát triển của xã
hội. Làn sóng văn minh, trí tuệ đang lan toả toàn cầu, kéo theo nó là sự ra đời
nền kinh tế tri thức. Điều đó càng chứng tỏ giá trị bền vững của tư tưởng
Phranxi Bêcơn về vai trò của tri thức khoa học. Tri thức khoa học đang dường
như trở thành một thứ quyền lực tối thượng trong xã hội ngày nay. Vì thế,
việc tìm hiểu quan điểm của Phranxi Bêcơn về vai trò của tri thức khoa học
trong đời sống xã hội hết sức có ý nghĩa đối với chúng ta trong bối cảnh xây
dựng và phát triển kinh tế tri thức. Trên cơ sở kế thừa, chọn lọc những giá trị
tư tưởng của nhân loại theo tinh thần của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chúng ta nghiên cứu tư tưởng của Phranxi Bêcơn với mục đích làm rõ quan
điểm của ông về tri thức khoa học và vai trò – sức mạnh của nó trong thực
tiễn cải tạo tự nhiên và phát triển xã hội. Qua đó, chúng ta làm rõ được ý

của tri thức khoa học nói riêng, được tìm hiểu theo hai hướng. Hướng thứ
nhất, công bố rộng rãi các tác phẩm nguyên bản kèm theo giới thiệu một


5

cách tổng thể, khái quát và súc tích nội dung, giá trị và hạn chế lịch sử của
triết học Phranxi Bêcơn; Hướng thứ hai, thực hiện các chuyên khảo về
Phranxi Bêcơn, phân tích từng vấn đề trong học thuyết của Phranxi Bêcơn.
Hai hướng nghiên cứu này về Phranxi Bêcơn diễn ra song song với nhau từ
trước tới nay trên thế giới.
Trước hết, có thể kể đến một số công trình về Phranxi Bêcơn của các tác
giả ngoài nước như Fulton H. Anderson với tác phẩm Francis Bacon – His
career and his thought, (Los Angeles, University of Southern California
Press, 1962), tác giả Loren Eiseley (1973) với The Man Who Saw Through
Time, (New York, Scribners), tác giả B.Farrington (1999) với Francis Bacon
– Philosopher of Industrial Science, (New York), tác giả J.Fourastié (1957)
với A.Laleuf. Revolution ql’Quest, Pari, tác giả Stephen Gaukroger (2001) với
Francis Bacon and the Transformation of Early-morden Philosophy,
(Cambridge, U.K, New York, Cambridge University Press), tác giả Paolo
Rossi (1968) với Francis Bacon: from Magic to Science, (Trans, Sacha
Rabinovitch, Chicago, University of Chicago Press), tác giả Brian Vikers
(1978) với Francis Bacon, (Harlow, UK, Longman Group), Vikers, Brian, Ed
(1996) với Francis Bacon, (New York, Oxford University Press), Charles
Whitney (1986) với Francis Bacon and Mordenity, New Haven, CN, Yale
University Press…
Trong cuốn Francis Bacon – Philosopher of Industrial Science, (New
York), tác giả B.Farrington đã giải thích mục đích chính của Phranxi Bêcơn
chủ yếu là vấn đề thực tiễn và khoa học công nghiệp, thể hiện giá trị to lớn của
tư tưởng triết học của Phranxi Bêcơn trong vấn đề phát triển xã hội. Fulton H.

phá, phát hoang để tìm đến những vùng đất mới, mà trước hết là sự thay đổi
về cách tư duy.
Charles Whitney (1986) với Francis Bacon and Mordenity đã có sự
nghiên cứu nhiều mặt về Phranxi Bêcơn một cách công phu mặc dầu vẫn


7

dừng lại ở mức độ khái quát những vấn đề mà Phranxi Bêcơn khởi xướng.
Tác giả nhận định Phranxi Bêcơn đã làm cuộc cách mạng trí tuệ, kết nối quá
khứ và hiện tại bằng bản lĩnh và tinh thần của một phong cách mới. Đây là
một tác phẩm có giá trị trong việc tiếp cận với tư tưởng của Phranxi Bêcơn.
Tác giả Will Durant, với lối viết theo phong cách kể chuyện, đã nhắc đến
Phranxi Bêcơn như một huyền thoại về lòng say mê khoa học, trong Câu
chuyện triết học (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2000).
Đặc biệt, Các Mác trong “Gia đình thần thánh” đã nhận định về Phranxi
Bêcơn với vai trò là người mở đường cho khoa học tự nhiên hiện đại, cho
thấy Phranxi Bêcơn là một triết gia có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của
khoa học và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Sau C.Mác, nhà tương lai học Anvin Tốphlơ (Anvil Toffler) là người ủng
hộ, cổ súy cho những quan điểm tích cực, tiên phong mang tính thực tiễn của
Phranxi Bêcơn. Ông nhiều lần nhắc đi nhắc lại tinh thần triết học của Phranxi
Bêcơn “Tri thức là sức mạnh”. Trong tác phẩm “Thăng trầm quyền lực” tác
giả Anvin Tốphlơ cũng đã nhiều lần nhắc đến mối liên hệ lịch sử giữa Phranxi
Bêcơn và thời đại ngày nay - thời đại kinh tế tri thức. Tương tự, trong tác
phẩm “Cú sốc tương lai”, Anvin Tốphlơ đã trích dẫn câu nói được xem như
tuyên ngôn của Phranxi Bêcơn “Tri thức là sức mạnh” và nhấn mạnh đặc tính
thời đại của tri thức “Tri thức là biến đổi”.
Tác giả cũng đã tiếp cận những tác phẩm gốc tiếng Anh quan trọng chứa
đựng nguyên tác của Phranxi Bêcơn đóng vai trò nền tảng cho luận án gồm :

hành năm 2004, tư tưởng triết học Phranxi Bêcơn được xem như điểm xuất
phát cho công cuộc cải tổ môi trường tri thức ở Anh đêm trước của cách mạng
tư sản 1640 – 1642.
Trong cuốn “Đại cương lịch sử triết học phương Tây” (Nxb. Tổng hợp
Tp. Hồ Chí Minh), PGS.TS Đỗ Minh Hợp và PGS.TS Nguyễn Thanh cùng
TS. Nguyễn Anh Tuấn bằng cách tiếp cận lôgíc – lịch sử đã phân tích tư


9

tưởng triết học Phranxi Bêcơn trong mối liên hệ với thời đại tư bản chủ nghĩa,
đồng thời nhấn mạnh dấu ấn Phranxi Bêcơn trong tư tưởng hiện đại.
Trước đó, vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước, vai trò của Phranxi
Bêcơn, Rơné Đềcáctơ và nhiều nhà tư tưởng cận đại được nhắc đến, chẳng
hạn trong cuốn “Lịch sử triết học – triết học thời kỳ tiền tư bản chủ nghĩa”
(Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1960).
Những nghiên cứu của PGS.TS Đinh Ngọc Thạch về lịch sử triết học
phương Tây trong cuốn “Đại cương lịch sử triết học phương Tây” (Đại học
Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 1993) và các chuyên đề triết học sau đại học
chuyên triết góp phần nhìn nhận Phranxi Bêcơn không chỉ từ góc độ người
sáng lập triết học cận đại, mà còn từ góc độ sâu xa của thuyết kỹ trị hiện đại.
Bên cạnh những tác phẩm bàn về tư tưởng triết học Phranxi Bêcơn là
những tài liệu nghiên cứu về kinh tế tri thức của rất nhiều tác giả trong nước
và trên thế giới. Có thể kể đến những báo cáo tranh luận tại các Hội thảo về
kinh tế tri thức, những bài viết đăng trên các tạp chí khoa học, diễn đàn,
Internet…và các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học… Trong đó, ở
Việt Nam đã có rất nhiều tác giả có uy tín nghiên cứu về kinh tế tri thức, như
GS Đặng Hữu với cuốn “Kinh tế tri thức – Thời cơ và thách thức đối với sự
phát triển của Việt Nam”, Đặng Hữu (2002), “Phát triển kinh tế tri thức rút
ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Cộng sản; Hoàng Thu

của Phranxi Bêcơn trong dòng chảy tư tưởng của nhân loại và sự phát triển
kinh tế tri thức trong thời đại ngày nay, làm rõ tính tất yếu và những vấn đề
cơ bản về kinh tế tri thức, phân tích và trình bày những điều kiện, tiền đề,
thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời, tác giả sử dụng
hệ thống các phương pháp nghiên cứu khoa học, bao gồm phương pháp phân


11

tích và tổng hợp, diễn dịch và qui nạp, lôgíc và lịch sử, hệ thống và cấu trúc,
so sánh, đối chiếu, lý luận thống nhất với thực tiễn…
5. Đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, với sự nghiên cứu các tác phẩm gốc của Phranxi Bêcơn bằng
tiếng Anh và tiếng Nga, luận án đã góp phần giới thiệu tư tưởng của Phranxi
Bêcơn nói chung và hệ thống hoá toàn bộ tư tưởng của ông về vai trò của tri
thức khoa học và làm rõ quan điểm nổi tiếng “Tri thức là sức mạnh” của
Phranxi Bêcơn.
Thứ hai, thông qua trình bày, phân tích toàn bộ tư tưởng của Phranxi
Bêcơn về vai trò của tri thức khoa học, luận án đã chỉ ra được giá trị, ảnh
hưởng và ý nghĩa của tư tưởng Phranxi Bêcơn về vai trò của tri thức khoa học
đối với sự phát triển xã hội, đặc biệt là đối với sự phát triển kinh tế tri thức
trong thời đại ngày nay.
Thứ ba, từ luận giải về tính tất yếu của phát triển kinh tế tri thức trên thế
giới và ở Việt Nam, luận án đã góp phần làm rõ những điều kiện, tiền đề, thực
trạng và các giải pháp cho vấn đề phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Thứ tư, qua phương pháp nghiên cứu lôgíc – lịch sử, luận án đã chỉ rõ
dòng chảy tư tưởng xuyên suốt về vai trò của của tri thức khoa học đối với sự


13

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ
HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHRANXI BÊCƠN

1.1. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ
TƯỞNG TRIẾT HỌC PHRANXI BÊCƠN

Quá trình phát triển của lịch sử triết học xét đến cùng là do những
điều kiện kinh tế – xã hội qui định và phụ thuộc vào trình độ tri thức của
từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Các dòng triết học trong lịch sử, dù là
triết học phương Đông hay phương Tây, đều luôn có mối liên hệ nội tại
khách quan. Triết học phương Tây trong lịch sử phát triển của mình thể
hiện tính qui luật kế thừa và phát triển một cách đa dạng và đặc sắc. Từ sự
phát triển rực rỡ của triết học thời kỳ Hy Lạp – La Mã, đến sự thống trị uy
quyền của thần học trung cổ, sự trở về với những giá trị văn hoá cổ đại của
triết học Phục hưng, hay tinh thần tiên phong, khám phá của triết học cận
đại, cho đến các trào lưu triết học hiện đại sau này, tất cả đều để lại những
dấu ấn đậm nét và ảnh hưởng đến sự phát triển của đời sống văn hoá tinh
thần nói riêng và xã hội nói chung.
Ở thời kỳ của Phranxi Bêcơn, nước Anh đang trong quá trình chuyển
biến từ trung cổ sang cận đại, nghĩa là trong đời sống xã hội đang diễn ra quá
trình tích luỹ nguyên thuỷ tư bản. Tuy nhiên, trong trường học, triết học trung
cổ vẫn đang ngự trị làm nặng nề, khô cứng đời sống tư tưởng, tinh thần của
xã hội lúc bấy giờ. Thế giới quan triết học thống trị trong sự phát triển tinh
thần của xã hội phong kiến là chủ nghĩa kinh viện. Chủ nghĩa kinh viện mang
tính tôn giáo thần bí, các nhà triết học chủ yếu là các nhà thần học. Họ đều

thống trị. Sự ra đời của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa gắn với nhu cầu phát
triển khoa học, kỹ thuật, cải tiến công cụ sản xuất. Đồng hồ cơ khí và máy hơi


15

nước là hai chỉ số quan trọng của nền sản xuất, với vị trí phát triển hàng đầu
của cơ học. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với khả năng tạo ra thị
trường kinh tế thống nhất, đã làm tan rã những cát cứ phong kiến lâu đời thời
trung cổ, góp phần phá vỡ các quan hệ xã hội lỗi thời, làm đơn giản hoá môi
trường giao tiếp, kích thích tính sáng tạo của cá nhân, tạo nên hệ biến thái mới
trong đánh giá hoạt động của con người, xác lập những giá trị, những chuẩn
mực phù hợp với thời đại đang biến đổi nhanh chóng. Có thể khẳng định rằng
bằng việc thúc đẩy nhanh hơn tiến trình lịch sử – xã hội, thời đại tư bản trở
thành thời đại năng động nhất, biện chứng nhất so với các thời đại đã qua.
Cùng với sự biến đổi của phương thức sản xuất là quá trình hình thành các nhà
nước chuyên chế tập quyền, mở đường cho sự xác lập hàng loạt các quốc gia
tư sản hiện đại sau này, góp phần thúc đẩy quá trình giao lưu, hợp tác về kinh
tế, văn hóa giữa các dân tộc với hiệu quả cao hơn trước, đẩy mạnh khả năng
quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế mang tính chất tư bản chủ nghĩa.
Về kinh tế, nước Anh cũng không nằm ngoài xu hướng vận động đó. Tại
Anh, từ cuối thế kỷ XV đã xuất hiện bước chuyển biến mở đường cho quan
hệ tư bản chủ nghĩa, mà điển hình là phong trào khoanh chiếm đất. Phong
trào này đến cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII càng diễn ra quyết liệt. Điều
đó xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu: thứ nhất, cuối thế kỷ XVI, công
nghiệp đã có những phát triển nhất định, làm cho nhu cầu đối với các sản
phẩm nông nghiệp ngày càng gia tăng, dẫn đến giá cả các loại nguyên liệu và
lương thực tăng cao; thứ hai, đến đầu thế kỷ XVII, giữa địa tô theo tập quán
phong kiến và địa tô tư bản chủ nghĩa có sự chênh lệch ngày càng lớn. Các
địa chủ thấy rằng, đem ruộng đất cho các nhà tư bản nông nghiệp thuê, có lợi

nghiệp, tầng lớp quí tộc mới cũng tỏ ra ưu thế hơn, vì hầu hết đều được giữ
các vị trí quan chức tại địa phương. Ruộng đất của tầng lớp quí tộc mới
không còn mang tính phong kiến, mà chuyển dần sang tính chất tư sản. Kinh
tế của các nhà quí tộc mới luôn hỗ tương thích hợp với công nghiệp tư bản


17

chủ nghĩa, vì quyền lợi của họ hoàn toàn nhất trí với quyền lợi của giai cấp tư
sản. Vì có những thành phần quí tộc mới kiêm nhiệm việc kinh doanh công
thương nghiệp, cũng như vì thành phần những quí tộc mới luôn được bổ sung
từ giới thương gia, cho nên giữa quí tộc mới và giai cấp tư sản đã trở thành
khối đồng minh. Những nghị viên quốc hội thuộc thành phần quí tộc mới ở
Hạ viện lúc bấy giờ cũng là người phát ngôn đại biểu cho giai cấp tư sản.
Trong sự liên minh giữa giai cấp tư sản và quí tộc mới, địa vị của giới quí tộc
mới bao giờ cũng hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, những quí tộc phong kiến
không tham gia phong trào khoanh chiếm đất vẫn tiếp tục kinh doanh theo
kiểu phong kiến, tức là dựa vào sự bóc lột phong kiến đối với nông dân. Mặc
dù về kinh tế, những quí tộc cũ này bị suy sụp, nhưng về mặt chính trị họ vẫn
là người trong giai cấp thống trị. Số phận của họ luôn gắn chặt với chế độ
phong kiến. Do vậy, cùng với tầng lớp tăng lữ trong giáo hội quốc giáo, họ
thuộc tập đoàn phản động nhất nước Anh.
Trước tình trạng bóc lột của giai cấp địa chủ, đời sống của những người
nông dân hết sức khốn khó. Yêu cầu bức xúc của họ là huỷ bỏ ngay chế độ
phong kiến và nhận lại đất đai đã bị khoanh chiếm. Những công nhân làm
thuê trong các công trường thủ công sống nghèo khó và người lao động ở
thành thị cũng luôn bị áp bức về mặt chính trị của chế độ chuyên chế. Vì thế,
các cuộc đấu tranh của người lao động liên tiếp nổ ra. Trong khi đó, giai cấp
tư sản Anh ngày càng lớn mạnh, mà trước hết là những nhà tư bản nông
nghiệp và những nhà tư bản công thương thành phố. Theo đà phát triển của

phái còn lại thì chủ trương mỗi đoàn thể tôn giáo đều phải đứng độc lập ngoài
quyền lực của quốc gia và quyền lực của giáo hội, mỗi tín đồ không cần phải
phục tùng giáo hoàng và nhà vua cũng như các trưởng lão và các hội nghị tôn
giáo. Vì thế, phái này gọi là “Phái độc lập”, gồm những người thuộc giai cấp
tư sản và quí tộc mới bậc trung và một số nông dân, bình dân thành thị.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status