TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
---------***--------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
Họ và tên sinh viên
Mã sinh viên
Lớp
Khóa
Người hướng dẫn khoa học
: Hoàng Đức Trung
: 1111110647
: Anh 6 – Khối 2 KT
: 50
: ThS. Vũ Minh Phương
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
MỤC LỤC
2
2
2
Investment Promotion Agency
Organization for Economic
Co-operation and Development
PCI
Provincial Competitiveness Index
PPP
Public-Private Partnership
TPP
Trans-Pacific Partnership
UNCTAD
United Nations Conference on Trade
and Development
UNESCAP
United Nations Economic and Social
Commission for Asia and the Pacific
USD
VA
WTO
4
4
DANH MỤC BẢNG
A
Bảng
1.1
B
C
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả FDI
1
9
Bảng 2.1
Số dự án, VĐK, VTH của cả nước và Nghệ An giai đoạn 19922000
3
3
Bảng 2.2
Số dự án, VĐK, VTH của cả nước và Nghệ An giai đoạn 20012005
0
Bảng 2.7
Thu NSNN từ khu vực FDI tại Nghệ An giai đoạn 2012-2013
4
3
Bảng 2.8
GTXK khu vực FDI tại Nghệ An giai đoạn 2000-2013
4
5
Bảng 2.9
Lao động trong khu vực FDI tại Nghệ An giai đoạn 2000-2013
4
7
Năng suất lao động khu vực FDI tại Nghệ An giai đoạn 2000-2013
4
9
Mục tiêu phát triển kinh tế của Nghệ An tầm nhìn đến năm 2020
9
2
9
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu dự án FDI tại Nghệ An theo hình thức đầu tư
3
8
Biểu đồ 2.4 Cơ cấu dự án FDI tại Nghệ An theo địa điểm đầu tư
3
8
Biểu đồ 2.5
Biểu đồ 2.6
Đóng góp của khu vực FDI vào GRDP Nghệ An
giai đoạn 2002-2013
Tốc độ tăng VA khu vực FDI và tăng trưởng GRDP Nghệ An
giai đoạn 2001-2013
4
1
4
2
Biểu đồ 2.7 Tỷ lệ thu NSNN trên vốn thực hiện khu vực FDI
4
quốc tế. Tất cả những lợi ích này đều là nguồn động lực lớn cho sự nghiệp công
nghiệp hóa – hiện đại hóa, công cuộc xóa đói giảm nghèo tại các quốc gia còn gặp
nhiều khó khăn này.
Với vị thế của một nước đang phát triển, Việt Nam gặp nhiều thuận lợi khi nằm
trong khu vực có hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra sôi nổi nhất trên thế giới – khu
vực Châu Á Thái Bình Dương. Theo Báo cáo Thương mại và Đầu tư năm 2013 của
Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc (UNESCAP),
nhóm những nước đang phát triển của khu vực này đã thu hút tới 33% lượng FDI trên
toàn thế giới. Việt Nam đã khai thác, phát huy tốt lợi thế địa chính trị này để tăng
cường thu hút FDI. Bên cạnh những lợi ích và vai trò cơ bản, khu vực FDI đã góp
phần đưa Việt Nam từng bước gia nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đến nay, Việt
Nam đã trở thành điểm đến của nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới như BP, Samsung,
Intel, Unilever, Canon, Toyota…với những sản phẩm đạt chất lượng quốc tế, qua đó
góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ khu vực và thế giới.
Nghệ An là một địa phương giàu tiềm năng của Việt Nam, được kỳ vọng sẽ trở
thành đầu tàu của vùng Bắc Trung bộ. Cũng như nhiều tỉnh thành khác trên toàn
quốc, để thực hiện các mục tiêu về tăng trưởng và tiến bộ, trở ngại lớn nhất mà Nghệ
An gặp phải là khả năng tích lũy vốn nội bộ của địa phương còn hạn chế, nguồn vốn
Trung ương cấp hàng năm không đủ để hỗ trợ nhu cầu phát triển. Đứng trước thách
thức đó, địa phương đã xác định vốn đầu tư nước ngoài sẽ là động lực tăng trưởng
quan trọng nhất và công tác thu hút vốn đầu tư nước ngoài sẽ là nhiệm vụ cấp thiết
nhất. Quán triệt tư tưởng đó, trong những năm vừa qua, Nghệ An đã không ngừng cải
6
7
7
thiện môi trường đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính, đào tạo
Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận của hoạt động thu hút và sử dụng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại địa phương;
•
Phân tích thực trạng tình hình thu hút và hiệu quả sử dụng FDI trên địa bàn tỉnh
Nghệ An;
• Đề xuất các giải pháp và đưa ra kiến nghị nhằm tăng cường thu hút và nâng cao hiệu
quả sử dụng FDI tại Nghệ An trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tình hình thu hút và
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Nghệ An. FDI
7
8
8
được xét đến là chỉ tiêu tổng hợp, bao hàm mọi loại hình FDI với tất cả hình thức đầu
-
tư hay lĩnh vực đầu tư.
Thời gian: từ năm 1992 đến năm 2013, với xuất phát là năm tỉnh Nghệ An đón nhận
dự án FDI đầu tiên trong lịch sử và kết thúc là năm gần với thời điểm hiện tại nhất mà
số liệu được tổng hợp, công bố đầy đủ, qua đó đảm bảo được cả hai tiêu chí: tính cập
nhật và sự chi tiết của thông tin.
•
quan giá trị của các chỉ tiêu, xác định tỷ trọng của chỉ tiêu trong một chỉ tiêu lớn hơn.
8
9
9
Khóa luận cũng sử dụng các phương pháp như tổng hợp, diễn dịch, quy nạp…
với công dụng khái quát hóa, giải thích, rút ra kết luận…nhằm giúp bài làm trở nên
đầy đủ về nội dung cũng như hoàn thiện về hình thức.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời mở đầu, lời kết, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính
của khóa luận được trình bày theo kết cấu 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài và hiệu quả sử dụng
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương 2: Thực trạng thu hút và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị nhằm tăng cường thu hút và nâng cao hiệu
quả sử dụng FDI trên địa bàn tỉnh Nghệ An
9
10
10
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản
10
11
11
hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”, trong đó “nhà đầu tư nước ngoài là tổ
chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam”
Như vậy, từ các quan điểm nêu trên, có thể hiểu FDI là một hình thức đầu tư
quốc tế trong đó nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn hay bất cứ tài sản hợp pháp nào
khác vào một doanh nghiệp ở nước khác đồng thời giành quyền kiểm soát doanh
nghiệp với mục đích thu được lợi ích kinh tế trên lãnh thổ nước nhận đầu tư.
1.1.2. Đặc điểm
Thứ nhất, FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi
nhuận. Theo tài liệu và luật pháp ở nhiều quốc gia, FDI là đầu tư tư nhân. Tuy nhiên,
một số nước (trong đó có Việt Nam) lại quy định trong trường hợp đặc biệt, Nhà
nước vẫn được phép là chủ thể tham gia góp vốn vào dự án FDI. Nhưng chủ thể đầu
tư dù là tư nhân hay Nhà nước thì cũng cần khẳng định ưu tiên số một của FDI là tìm
kiếm lợi nhuận. Các nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển, phải
lưu ý xây dựng hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để
hướng FDI vào phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của nước mình, tránh tình
trạng FDI chỉ phục vụ mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận của chủ đầu tư, gây ra tổn thất
ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia (Vũ Chí Lộc, 2012, tr.114).
Thứ hai, chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tổi thiểu trong vốn
pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền
kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Tỷ lệ góp vốn của các
chủ đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, lợi nhuận và rủi ro cũng được
phân chia theo tỷ lệ nêu trên. OECD (2008, tr.7) đề xuất tỷ lệ này là 10% các cổ
triển cần nhanh chóng tiếp cận với các kỹ thuật mới. Tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể,
mỗi nước có phương pháp riêng để nâng cao trình độ công nghệ, nhưng thông qua
FDI là cách tiếp cận nhanh, trực tiếp và thuận lợi. Để thực hiện dự án FDI, chủ đầu tư
phải chuyển giao công nghệ cho nước nhận đầu tư bằng việc việc đưa máy móc, thiết
bị, bằng phát minh, sáng chế, bí quyết kỹ thuật… vào nước nhận đầu tư. Tuy nhiên,
việc chuyển giao công nghệ phải được quản lý chặt chẽ, nước nhận đầu tư phải chuẩn
bị nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận và làm chủ công nghệ mới, nếu không,
những quốc gia này sẽ rơi vào tình trạng “nhập siêu” công nghệ lạc hậu, trở thành
“bãi rác công nghệ” của thế giới (Vũ Chí Lộc, 2012, tr.115).
1.1.3. Phân loại
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại FDI; các hình thức FDI, bên cạnh
những nét cơ bản chung, sẽ mang những đặc điểm riêng biệt, mang tính tương thích
với các môi trường đầu tư khác nhau, từ đó đáp ứng tốt hơn yêu cầu đa dạng của chủ
đầu tư và định hướng của nước tiếp nhận đầu tư.
12
13
13
a. Theo cách thức xâm nhập
Theo tiêu chí này, FDI được chia thành hai hình thức:
-
Đầu tư mới (Greenfield investment): hoạt động góp vốn để xây dựng một cơ sở sản
xuất, kinh doanh hoàn toàn mới tại nước ngoài. Với loại hình này, nhà đầu tư nước
ngoài phải bỏ nhiều chi phí cho công tác nghiên cứu thị trường cũng như gặp khá
nhiều rủi ro. Tuy nhiên, các nước nhận đầu tư lại thường đánh giá cao đầu tư mới vì
-
FDI theo chiều ngang.
FDI hỗn hợp (conglomerate FDI) là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài mà doanh
nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư hoạt động trong các ngành nghề,
lĩnh vực khác nhau, thường nhằm mục đích đa dạng hóa. Loại hình này ít xảy ra hơn
13
14
14
so với FDI theo chiều dọc và FDI theo chiều ngang do chủ đầu tư phải cùng lúc vượt
qua hai rào cản: rào cản thị trường mới và rào cản ngành mới.
c. Theo định hướng của nước nhận đầu tư
Theo tiêu chí này, FDI được chia thành ba hình thức:
-
FDI thay thế nhập khẩu: Hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất và cung ứng
cho thị trường nước nhận đầu tư các sản phẩm mà trước đây nước này phải nhập
khẩu. Hiệu quả của hình thức FDI này chịu nhiều tác động từ dung lượng thị trường,
-
các rào cản thương mại của nước nhận đầu tư và chi phí vận tải.
FDI tăng cường xuất khẩu: Thị trường mà hoạt động đầu tư này nhắm tới không
phải hoặc không chỉ dừng lại tại nước nhận đầu tư mà là các thị trường rộng lớn hơn
trên toàn thế giới và có thể là thị trường nước chủ đầu tư. Yếu tố quyết định tới dòng
vốn FDI tăng cường xuất khẩu thường là khả năng cung ứng đầu vào với giá rẻ của
e.Theo hình thức pháp lý
Tùy theo điều kiện và bối cảnh của từng nước, FDI có thể được thực hiện dưới
những hình thức pháp lý khác nhau. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, FDI
được thực hiện dưới ba hình thức: hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên
doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
-
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức liên doanh liên kết giữa một bên là đối
tác trong nước với bên còn lại là các nhà đầu tư nước ngoài mà không thành lập pháp
nhân mới. Loại hợp đồng này được áp dụng nhiều nhất trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm
-
dò dầu khí và các tài nguyên khác.
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập và có tư cách pháp nhân
theo pháp luật của nước sở tại. Các bên tham gia có quốc tịch khác nhau phối hợp
kinh doanh trên cơ sở cùng nhau góp vốn, cùng quản lý, cùng chia sẻ rủi ro, cùng
phân phối lợi nhuận. Loại hình FDI này đòi hỏi các bên từ phía nước tiếp nhận
đầu tư có khả năng góp vốn, có đủ trình độ tham gia quản lý với đối tác nước
-
ngoài.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu toàn
phần của nhà đầu tư nước ngoài, chủ đầu tư tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả
kinh doanh. Một số trở ngại đối với loại hình FDI này là sự chưa am hiểu về môi
trường kinh doanh, luật pháp, tập quán của nước nhận đầu tư.
(Vũ Chí Lộc, 2012, tr.115-119)
1.1.4. Tác động của FDI đến nước nhận đầu tư
Thứ ba, FDI góp phần phát triển nguồn nhân lực. Xét về chiều rộng, các nước
đang phát triển thường có nguồn lao động dồi dào nhưng lại không tạo ra đủ việc làm
tương ứng, sự có mặt của FDI đã và đang giải quyết rất tốt vấn đề này. FDI tạo ra các
doanh nghiệp mới hoặc tăng quy mô các doanh nghiệp sẵn có, từ đó tạo ra công ăn
việc làm cho rất nhiều lao động. Xét về chiều sâu, FDI góp phần đào tạo và nâng cao
trình độ người lao động. Các doanh nghiệp FDI thường tổ chức các khóa đào tạo và
huấn luyện nghiệp vụ cho người lao động, trong đó có nhiều người được cử đi lao
động ở nước ngoài. Đối với cấp quản lý, những cán bộ bản địa khi tham gia dự án sẽ
được tiếp cận và học hỏi nhiều kinh nghiệm và mô hình quản trị tiên tiến, sẽ nâng cao
năng lực quản lý để thích nghi với nền sản xuất hiện đại.
Thứ tư, FDI góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ổn định kinh
tế vĩ mô. FDI thường được thực hiện bởi các tập đoàn xuyên quốc gia và thường tập
trung vào các ngành công nghiệp và dịch vụ, vì vậy FDI đáp ứng được nhu cầu công
nghiệp hóa – hiện đại hóa của các nước đang phát triển. Bên cạnh đó, FDI tham gia
ổn định kinh tế vĩ mô bằng việc cải thiện các cân đối lớn của nền kinh tế. Đối với
cung cầu hàng hóa trong nước, khu vực FDI tạo ra nguồn sản phẩm lớn, xoa dịu căng
thẳng cung – cầu, làm giảm sự phụ thuộc vào hàng nhập khẩu. Đối với xuất nhập
khẩu, FDI đang hỗ trợ các nước đang phát triển giải quyết tình trạng nhập siêu, cân
16
17
17
bằng cán cân thương mại. Nguồn ngoại tệ thu về từ hoạt động xuất khẩu của khu vực
FDI giúp thay đổi cơ cấu nhập khẩu theo chiều hướng tích cực (tăng tỷ trọng hàng
máy móc thiết bị, công cụ sản xuất …) cũng như tác động tích cực đến cán cân vãng
lai và cán cân thanh toán.
Thứ năm, FDI củng cố và mở trộng quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy nhanh tiến
18
bảo trợ phù hợp từ nhà nước, các doanh nghiệp nội địa luôn đứng trước nguy cơ
phá sản.
Thứ ba, FDI gây ra những tiêu cực về môi trường. Lợi dụng những kẽ hở
pháp lý và sự quản lý lỏng lẻo của chính quyền nước nhận đầu tư, một số doanh
nghiệp FDI có hành vi né tránh hoặc vi phạm các quy định về đảm bảo vệ sinh và bảo
vệ môi trường. Để cắt giảm chi phí sản xuất, các chủ đầu tư nước ngoài thường bỏ
qua hoặc thực hiện nhưng rất hời hợt quy trình xử lý chất thải. Không những vậy, xảy
ra trường hợp những công nghệ nhập khẩu từ dự án FDI đã lỗi thời, khi vận hành
phải tiêu hao rất nhiều nhiên liệu và xả thải vượt mức cho phép, gây ảnh hưởng xấu
đến môi trường. Bên cạnh đó, có nhiều dự án FDI khai thác quá đà nguồn tài nguyên
thiên nhiên tại nước sở tại, đặc biệt là các tài nguyên không tái tạo được như than đá,
dầu mỏ. Sự triển khai của các dự án FDI cũng đồng nghĩa với diện tích rừng bị thu
hẹp, hệ sinh thái bị xáo trộn, đa dạng sinh học bị suy giảm nặng nề.
Thứ tư, hiện tượng “chuyển giá” trong đầu tư trực tiếp nước ngoài làm thất
thu ngân sách nhà nước. Để chuyển tối đa lợi nhuận về nước, các nhà đầu tư nước
ngoài thường thực hiện hành vi “chuyển giá” dưới các hình thức tăng giá các yếu tố
đầu vào, hạ thấp mức giá đầu ra, nâng giá trị góp vốn và chuyển giao công nghệ, điều
chỉnh cơ cấu trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu và dịch vụ đi kèm... Những hành vi
chuyển giá có tác động xấu đến nền kinh tế, gây thất thu ngân sách nhà nước, bóp
méo môi trường kinh doanh, khiến những nhà đầu tư chấp hành tốt pháp luật gặp phải
thiệt thòi.
(Đặng Thành Cương, 2012, tr.28-33; Nguyễn Thị Hà Giang, 2012)
1.2.
Thu hút FDI vào địa phương
1Khái niệm
Đối với các nước đang phát triển, thu hút FDI là ưu tiên hàng đầu, là nhiệm vụ
lợi cho các doanh nghiệp FDI. Đặc biệt, những dự án FDI có quy mô lớn thường ưu
tiên địa điểm ở trong KKT và KCN do yêu cầu về mặt bằng lớn và hệ thống hạ tầng
hoàn chỉnh. Bên cạnh đó, việc tập trung các dự án FDI vào các KKT và KCN còn cho
phép chính quyền địa phương tiếp nhận đầu tư thuận tiện tiến hành công tác thanh
kiểm tra và giám sát tiến độ thực hiện các dự án FDI.
Thứ hai, địa phương đã trở nên tích cực và chủ động hơn trong việc thu hút
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bên cạnh tuân thủ và áp dụng các đề án được ban
hành từ trung ương, lãnh đạo cấp tỉnh, thành cũng tự chủ đưa ra những chính sách ưu
đãi và hỗ trợ đầu tư, các đề án phát triển kinh tế, cải cách hành chính…nhằm tạo ra
môi trường đầu tư minh bạch, rõ ràng, hấp dẫn, đáng tin cậy. Sự chủ động trong việc
thu hút FDI cấp địa phương còn được thể hiện ở sự chọn lọc dự án FDI để cấp phép
đầu tư. Trong công tác thu hút FDI, sự gia tăng về số lượng các dự án, về vốn đăng
ký, vốn thực hiện… là những chỉ tiêu rất quan trọng. Tuy nhiên, chính quyền địa
phương đang dần cảnh giác và tránh xa tư tưởng chạy theo quy mô, tốc độ, thu hút dự
19
20
20
án FDI bằng mọi giá. Hay nói cách khác, tăng cường thu hút nhưng không thu hút
bằng mọi giá, thu hút cũng phải có chọn lọc.
Thứ ba, sự cạnh tranh giữa các địa phương để thu hút FDI ngày càng quyết
liệt. Mỗi địa phương có điểm mạnh cũng như điểm yếu riêng trong việc thu hút nhà
đầu tư nước ngoài. Vị trí địa lý, diện tích đất đai, nguồn tài nguyên thiên nhiên, cơ sở
hạ tầng, lao động tay nghề cao…đều là những yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết
định của nhà đầu tư trong việc lựa chọn địa phương này thay vì địa phương khác. Do
đó, để thu hút được nhiều dự án FDI, địa phương phải nỗ lực cải thiện môi trường
kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh so với các vùng miền khác.
20
21
-
21
Chính sách về lao động: Nguồn lao động dồi dào và trẻ trung chính là điểm hấp dẫn
nhất tại các nước đang phát triển đối với nhà đầu tư nước ngoài. Vì thế, muốn thúc
đẩy thu hút FDI, địa phương phải chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của
nhà đầu tư cả về kỹ năng chuyên môn lẫn tác phong và ý thức làm việc. Cần có
những hoạt động đào tạo, bồi dưỡng tay nghề cho lao động địa phương. Bên cạnh đó,
yếu tố giá cả của lao động cũng cần được quan tâm, phải đảm bảo mức giá cả đủ để
hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài, nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi cho người lao động
(Nguyễn Thị Hà Giang, 2012).
1.3.
Hiệu quả sử dụng FDI tại địa phương
1.3.1. Khái niệm
Hiệu quả là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được của một hành động với
nguồn lực phải bỏ ra để thực hiện hành động đó. Có thể biểu diễn hiệu quả theo công
thức:
Trong đó:
H là hiệu quả của hành động
K là kết quả đạt được từ hành động
N là nguồn lực để thực hiện hành động
phí hoặc nguồn lực tương ứng” (Nguyễn Trọng Hải, 2008).
1.3.2. Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng FDI
Hiệu quả sử dụng FDI là yếu tố cần được theo dõi thường xuyên trong công
tác cấp phép và quản lý các dự án FDI. Cần có tính toán cụ thể bằng phương pháp
định lượng để những nhận xét về tính hiệu quả đó được rút ra một cách có căn cứ,
đáng tin cậy. Nói cách khác, muốn nhận dạng được hiệu quả sử dụng FDI, một hệ
thống chỉ tiêu cần được xác lập.
Hệ thống chỉ tiêu là biểu hiệu của căn cứ khoa học cho công tác đánh giá, đối
chiếu, so sánh… Kết quả tính toán các chỉ tiêu sẽ cung cấp các thông tin định lượng
rõ ràng, có sự kiểm nghiệm thông qua yếu tố không gian và thời gian. Việc kết hợp
các chỉ tiêu định lượng với các nhận xét định tính sẽ giúp việc đánh giá hiệu quả sử
dụng FDI trở nên chính xác và mang giá trị tham khảo cao.
Trên cơ sở lý luận đó, khóa luận sẽ sử dụng phương pháp bộ chỉ số
(Indicators) để đánh giá hiệu quả sử dụng FDI tại địa phương. Phát triển trên nền tảng
công thức cơ bản về tính hiệu quả (công thức (1)), các chỉ số sẽ đánh giá tương quan
giữa nguồn lực đầu vào và đóng góp cho nền kinh tế của khu vực FDI. Phương pháp
sử dụng bộ chỉ số, hay hệ thống chỉ tiêu, mang nhiều đặc điểm phù hợp và có khả
năng đáp ứng được yêu cầu của khóa luận:
o Đối tượng áp dụng: phương pháp có thể sử dụng để đo lường tác động cả trực
tiếp lẫn gián tiếp của FDI đối với nền kinh tế.
o Cơ sở dữ liệu: có thể sử dụng tất cả các loại dữ liệu, theo chuỗi thời gian hoặc
từng thời điểm thông qua khảo sát hàng năm.
22
23
23
o Ưu điểm: phương pháp khá đơn giản, dễ tính và dễ hiểu; có thể so sánh, đối
chiếu sự thay đổi theo thời gian để nắm bắt xu hướng thay đổi của đối tượng
LF: lao động khu vực FDI
VAF: giá trị gia tăng khu vực FDI
tế
Bảng 1.1: Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả FDI
CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ KINH
TẾ
1. ICOR
2. Tỷ lệ đóng góp vào GDP
3. Tốc độ tăng trưởng VA
4. Tỷ lệ đóng góp vào NSNN
5. Tốc độ tăng thu NSNN
6. Nộp NSNN trên VĐT
7. Tỷ lệ đóng góp vào GTXK
23
CÔNG THỨC
x 100%
= x100%
= x100%
= x100%
=
= x100%
24
24
= x100%
=
=
CÔNG THỨC
25
1.4.
25
Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút và sử dụng có hiệu quả FDI
1.4.1. Các nhân tố liên quan đến nước tiếp nhận đầu tư
a. Sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô
“Rủi ro” là yếu tố mà mọi cá nhân tham gia vào hoạt động kinh tế luôn dè
chừng. Một môi trường kinh doanh chứa đầy bất trắc sẽ gây ra sự thiếu thiện cảm cho
nhà đầu tư, trong khi đó, một nền kinh tế vững chắc được bổ trợ bởi hệ thống chính
trị lành mạnh, đời sống xã hội ổn định… sẽ là nền móng vững chắc cho các nhà đầu
tư thực hiện sản xuất – kinh doanh.
Đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài, tính ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô
càng mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Với vốn đầu tư thường rất lớn, thời gian hoạt
động của dự án FDI thường dài, môi trường kinh doanh lại mới mẻ, chủ đầu tư cần
được đảm bảo rằng quá trình thực hiện dự án sẽ không bị gián đoạn bởi bất kỳ biến
cố tiêu cực nào. Ổn định kinh tế vĩ mô không những giúp nhà đầu tư nước ngoài
mạnh dạn rót vốn vào một quốc gia mà còn tạo tâm lý an tâm cho doanh nghiệp FDI
đó tiến hành sản xuất, nhờ đó sẽ đạt được hiệu quả cao và đúng tiến độ (IMF, 2010).
b. Độ mở của nước tiếp nhận đầu tư
Xu hướng toàn cầu hóa khiến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày
càng sâu sắc và toàn diện. Hợp tác để cùng tồn tại và phát triển là xu hướng tất yếu
của kinh tế quốc tế thời kỳ mở cửa. Tham gia mạng lưới hợp tác, các nước có cơ hội