HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ THẾ KỈ XVIII – NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX
MỞ ĐẦU
“Chị em tôi tỏa nắng vàng lịch sử
Nắng cho đời nên cũng nắng cho thơ”
Từ lâu hình ảnh người phụ nữ đã rất tự nhiên bước vào văn học như một định mệnh
nghệ thuật tất yếu. Hình ảnh của một “nửa thế giới” ấy đã sớm phập phồng trong trái tim
của người nghệ sĩ, hiện diện khắp nơi trong đứa con tinh thần của họ.Từ buổi hồng hoang
của lịch sử với văn học dân gian cho đến khi văn học viết ra đời, nguồn mạch đó tựa dòng
thủy lưu chưa bao giờ đứt mạch. Đến với đề tài hôm nay, xin được hòa mình vào hứng
cảm bất tận ấy để tìm hiểu về những cuộc đời, những số phận mà hình tượng người phụ
nữ trong văn học giai đoạn thế kỉ XVIII-XIX mang lại.
CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
THẾ KỈ XVIII – NỬA ĐẦU THẾ KỈXIX
1.1 Cơ sở lý luận về hình tượng nghệ thuật
Hình tượng là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuật dưới hình thức
những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình,... Nhân vật ấy phải có những nét chung
nhất của tầng lớp, giai cấp... mà mình đại diện vào một thời điểm lịch sử nhất định.
Hình tượng nhân vật trong văn học là nhân vật điển hình trong tác phẩm văn học, mang
đậm nét khái quát của tầng lớp, giai cấp của nhân vật ấy, đồng thời là nhân vật có những
nét riêng đặc biệt, xuất hiện trong bối cảnh điển hình mà tác phẩm văn học ấy thể hiện.
1.2. Bối cảnh ra đời hình tượng người phụ nữ thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉXIX
1.2.1. Bối cảnh xã hội
1.2.1.1. Thời đại đầy biến động
Nước Việt đi vào một trong những thời kì đen tối nhất của lịch sử.
- Vua chúa chỉ mải mê trong giấc mộng quyền quý mà quên đi trách nhiệm với nhân dân
của mình.
- Thuế cao sưu nặng, mất mùa hạn hán, đời sống nhân dân vô cùng cơ cực
- Số phận con người mỏng mang chao đảo như một trò tạp kĩ trên không giữa lằn ranh của
sống-chết.
1.2.2. Bối cảnh nền văn học
1.2.2.1. Sự phát triển của đề tài người phụ nữ
Đề tài người phụ nữ là đề tài lớn trong văn học Việt Nam. Nó đã từng xuất hiện nhưng
chưa trở thành đối tượng trọng tâm của văn học mà chỉ xuất hiện lẻ tẻ trong văn xuôi lịch
sử, trong thần phả, điếu vịnh, văn học dân gian…
Đến XVI, đặc biệt là thế kỉ XVIII, phụ nữ đã trở thành một trong những đề tài lớn của văn
học, người phụ nữ hiện lên một cách khá đầy đủ và toàn diện trên nhiều bình diện. Về
Truyện Nôm có “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, “Hoa tiên” của Nguyễn Huy Tự,…Thơ
ca viết về về phụ nữ là thơ của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, “Chinh phụ ngâm khúc”
của Đặng Trần Côn, bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm hay “Cung oán ngâm” của
Nguyễn Gia Thiều…
1.2.2.2. Sự phát triển của chủ nghĩa nhân đạo
Tư tưởng này xuyên suốt chảy cùng năm tháng như một mạch nước ngầm trong văn học.
Chỉ cho đến khi đến với thế kỉ XVIII-XIX với những yếu tố nhất định thúc đẩy tư tưởng
này đã được nâng cao, phát triển thành chủ nghĩa nhân đạo với đầy đủ các biểu hiện của
nó. Đó là sự xót thương đồng cảm với số phận con người,lên án, đả phá những thế lực
làm hại con người, và đặt niềm tin đồng thời khẳng định giá trị tốt đẹp của con người.
1.2.2.3. Sự phát triển về mặt thi pháp của thể loại, ngôn ngữ của nền văn học
Văn học trung đại thế kỉ XVIII –nửa đầu thế kỉXIX có sự phát triển về các thể loại văn
học.
- Sự góp mặt đầy đủ của trữ tình, tự sự và ca vũ nhạc kịch trong đời sống văn học.
- Về mỗi thể loại, ta có thể nhận thấy sự phát triển về thi pháp được biểu hiện cụ thể ở cấu
tứ, nhịp điệu, hình ảnh, sự lựa chọn đề tài,…Vốn từ ngữ được phong phú hóa từ nguồn
chữ Nôm.Ý thức làm mới thể loại văn học bằng màu sắc dân tộc đã kích thích sức sáng
tạo của lực lượng sáng tác tạo nên sức đột phát mới, khẳng định giá trị riêng biệt của văn
chương Việt.
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG PHẢN ÁNH TRONG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
THẾ KỈ XVIII – NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX
Một lạch đào nguyên suối chửa thông”.
Quả là một vẻ đẹp đầy tự nhiên mà tạo hóa vốn đã ban tặng cho người phụ nữ!
2.1.1.2.Về tài năng
Hình tượng người phụ nữ không chỉ được khắc họa qua nhan sắc bề ngoài mà còn gắn với
tài năng hơn người. Đúng chuẩn phong kiến món nghề tài nghệ của người bậc nữ nhân
gồm bốn mặt sau đây: cầm (đàn), kì (cờ), thi (thơ), họa (vẽ). Và Thúy Kiều xứng đáng với
danh hiệu kì nữ khi thông làu tất cả các lĩnh vực ấy nhất là chơi đàn. Tiếng đàn của nàng
làm cho Kim trọng phải “ngơ ngẩn sầu”, làm cho Thúc Sinh “cũng tan nát lòng” và làm
cho Hồ Tôn Hiến “nhăn mày, rơi châu
Cung thường làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương!”
Thanh âm vi diệu ấy của tài nữ đánh đàn cũng có lần Nguyễn Du nhắc đến trong “Long
Thành cầm giả ca”:
(Học được trong cung triều xưa khúc Cung Phụng
Tưởng như trên trời dưới thế tuyệt vời âm thanh)
Bên cạnh đó tài văn không còn là đặc hữu của đấng tu mi nam tử, nó đã trở thành một tài
năng các ả hồng quần.Tài văn chương tuyệt vời dường như thiên phú như trong “Phương
Hoa tân truyện”. Lúc bình thường các cô chăm chỉ “công dung ngôn hạnh”, nhưng khi
cần thiết, các cô rất tự tin, sẵn sàng trổ tài nhả ngọc phun châu.
Sử kinh làu giở hôm mai,
Văn chương phú lục mọi bài làu thông”
Phun châu nhả ngọc nức lòng
Đã tường kinh sử, lại thông truyện ngoài.
2.1.2. Vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ
Trong không khí của trào lưu nhân văn chủ nghĩa, người nghệ sĩ đã quan tâm đặc biệt đến
hình ảnh người phụ nữ. Đó không chỉ là chút hời hợt cho tài sắc bên ngoài mà với một cái
nhìn thấu suốt, văn thi nhân còn ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn với những phẩm chất tốt đẹp.
2.1.2.1. Những phẩm chất tốt đẹp
Kiều là người luôn luôn chủ động.
Bắt đầu từ giây phút ban đầu lưu luyến cho đến khi chàng Kim lên ngựa rồi nàng Kiều
“còn ghé theo”, nhìn hút bóng chàng… rồi gót chân nàng thoăn thoắt “Xăm xăm băng
nẻo vườn khuya một mình”. Từ góc nhìn nhân văn đối với tình yêu, có thể nói đây không
phải là hành vi nàng Kiều tự hủy nhân cách mình mà đó là một sự khẳng định sức mạnh
tình yêu của mình.
Tận đến những năm 70-80 của thế kỷ XX, nhân loại mới nhận thức rõ hơn vai trò trung
tâm của phụ nữ trong tình yêu và hôn nhân, vậy mà ở thế kỷ XVIII Nguyễn Du thông qua
quá trình tái hiện tâm lý nhân vật Kim – Kiều trong cuộc tình nồng thắm yêu đương đã
cấp cho nữ giới cái quyền được quyết định việc lựa chọn giữa đồng ý/ không đồng ý trong
chuyện ái ân. Và phải chăng hôn nhân muốn có tình yêu và giữ gìn được tình yêu vĩnh
cửu thì sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa đàn ông và đàn bà đòi hỏi phải được xây
dựng hài hòa trên cả yếu tố tinh thần và thể xác?
Kim Trọng đối với Kiều là một mối tình trong sáng, thánh thiện. Nhưng chúng ta cũng
không thể phủ nhận tình yêu giữa Kiều và Thúc Sinh. Kiều còn bảo Thúc Sinh về hỏi vợ
chính trước khi cùng kết duyên tức là nàng luôn khao khát có được một tình yêu, một
cuộc hôn nhân đích thực. Ta cũng càng không thể phủ nhận mối tình giữa Từ Hải và
Kiều, một mối tình không chỉ là tình yêu mà còn là ân nghĩa. Khát vọng về một hạnh
phúc trọn vẹn, về một tình yêu chân thành không bao giờ bị vùi lấp trong Kiều nên nàng
không ngừng kiếm tìm và trân trọng những mối tình đã qua dù kết cục có như thế nào.
Người cung nữ bị thất sủng, phải đối mặt với một thực tại chua xót, bẽ bàng, đối mặt với
bao nhiêu đau khổ, bao nhiêu uất ức đã bắt đầu phản tỉnh. Nàng hiểu ra rằng hạnh phúc
không phải được tạo nên từ lầu vàng điện ngọc, từ phù phiếm, xa hoa. Hạnh phúc chỉ đến
từ tình yêu chân thành, chung thủy. Cuộc sống êm đẹp nhất là cuộc sống vui vẻ sum vầy,
có chồng có vợ.
“Kìa điểu thú là loài vạn vật
Dẫu vô tri cũng biết đèo bòng
Có âm dương có vợ chồng
Kiều luôn có những phản ứng quyết liệt nhất để có thể thoát khỏi lầu xanh. Hễ thấy có hy
vọng, dù là một con đường rất mong manh, nàng cũng cố bấu víu. Ngay khi vào lầu Lâm
– Tri, nàng đã biết mình bị lừa gạt nên đã cố tìm đến cái chết nhưng không thành. Kiều đi
cùng Thúc Sinh để mong có được một cuộc sống yên ổn, chấp nhận là vợ bé thì lại bị
Hoạn Thư đánh đập. Nàng làm vợ Từ Hải cũng là từ khát khao thoát khỏi lầu xanh. Lúc
nào nàng cũng muốn thoát khỏi cái nơi ấy, khỏi cái nghề ấy.
Người cung nữ trong “Cung oán ngâm” đã rất mạnh mẽ muốn bứt thoát để sống là chính
mình, khẳng định giá trị của cá nhân mình:
Đang tay muốn dứt tơ hồng,
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!
2.2. Hình tượng người phụ nữ - những mảnh đời bất hạnh
Cái đẹp của người phụ nữ cũng là cái mong manh phút chốc khi trót hiện sinh trong một
xã hội vốn đầy rẫy những định kiến, luật lệ hà khắc phong kiến, những hủ tục bất công
như thế kỉ XVIII-XIX. Nhiều tấn bi kịch xót xa đã can tâm giáng xuống đôi vai bé nhỏ
của người phụ nữ khiến những con người thấp cổ bé họng chịu cảnh đắng cay muôn
phần...
2.2.1. Bi kịch tình yêu – hôn nhân
Có lẽ những câu chuyện tình dang dở sẽ để lại vết thương lòng khôn nguôi đối với bất cứ
một ai.Và với tâm hồn nhạy cảm của mỗi người phụ nữ thì ắt hẳn đó là nỗi đớn đau bội
phần. Đọc bài thơ “Tự tình 2” ta nghe rõ tiếng lòng thở than, ngao ngán không thể kìm
giữ mà trực tiếp lên tiếng.
Câu phá đề ứng với nỗi đau chợt vỡ oà, tức tưởi. Câu thừa đề nhấn mạnh sự khuyết thiếu
người tri âm. Nỗi xót xa buồn tủi không thể giấu được.Nụ cười ngạo nghễ thách thức ẩn
đi, nhường chỗ cho giọt nước mắt đầy vơi. Cả câu thơ dâng đầy niềm cô quạnh. Câu thơ
thứ ba tê tái và thấm thía hơn. Cuộc say ngắn ngủi, giấc mộng tan mau, con người muốn
trốn chạy hiện thực phũ phàng rốt cuộc vẫn phải đối mặt với nó, sống trong nó. Chén
rượu không đủ nồng nàn; hương rượu ở đâu thoảng lại, người thơ chuếnh choáng chốc lát.
Thế là cuộc trốn chạy kia đứt gẫy dở dang.
lại.
Nỗi buồn- cảm xúc trữ tình của bài thơ vì thế càng thấm đẫm, mọi không gian dù hướng
đến mọi chiều kích nào cũng đều quay về cái tâm duy nhất là khát khao hạnh phúc lứa đôi
của người thiếu phụ.
2.2.2. Bi kịch tâm hồn - nhân phẩm bị vùi dập
Tài sắc mà chi mà nên nỗi bạc mệnh, những Thúy Kiều, những Tiểu Thanh phải chịu kiếp
đời bạc bẽo. Người ta truy vấn ở thiên mệnh và thế gian hai chữ công bằng nhưng mãi
không tìm được lời đáp giải. Như người cung nữ trong “Cung oán ngâm” kia cũng ý thức
lắm giá trị của bản thân nhưng rồi đổi lại họ được những gì ngoài sự thờ ơ phũ phàng.
Đọc hai chữ cung oán ta thấy được nỗi ngậm ngùi của cung tần mỹ nữ mà mỗi khi được
tiến cử vào cung vua. Sự hiến dâng đó có được trọng đãi dài lâu hay chỉ một cuộc giải
quyết nhất thời của đấng quân vương và rồi đây hóa thân kiếp đời chim lồng cá chậu ở
cửu trùng?
“Hoa này bướm nỡ thờ ơ,
Để gầy bông thắm để xơ nhụy vàng”
Chữ trinh của Kiều được đem ra mua bán cân đo, tài năng được sử dụng để mua vui, một
tình yêu cao đẹp bị chà đạp cho đến tàn tạ. Để rồi Nguyễn Du phải xót xa, không chỉ vì
thiên mệnh mà cũng vì nhân thế, vì cái xã hội đã đẻ ra bao nhiêu cái bất công để con
người sống không bằng sống khi thiếu đi cái quyền căn bản nhất: quyền làm chủ chính
mình:
“Ngẫm hay muôn sự tại Trời.
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần, phải phong trần,
Cho thanh cao, mới được phần thanh cao.”
Còn biết bao nhiêu mảnh đời với những số phận khác nhau, trên đây xin đươc khái lược
một số bi kịch điển hình để từ đó góp mình trong việc khắc họa hình tượng người phụ nữ
trong văn học giai đoạn này.
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ THẾ
Với sự vận dụng khéo léo các điển tích, điển cố, bản dịch Chinh phụ ngâm đã để lại
những câu thơ thấm thía , gây xúc động về hình tượng người chinh phu.Điều này cũng
diễn ra tương tự với nàng Kiều trong Nguyễn Du. Bên cạnh đó Nguyễn Du khẳng định
giá trị của mình qua cách sử dụng ngôn ngữ đến mức điêu luyện.Có những câu thơ chỉ có
vài từ hay chỉ một từ tác giả đã thể hiện được cái thần của cảnh vật, cái hồn sự vật sự
việc.Và với Hồ Xuân Hương “bà chúa thơ Nôm” nàng đã ghi dấu ấn bằng cách sử dụng
ngôn ngữ một cách hiểm hóc, cánh nói lái, nói ỡm ờ. Điều này có sức tạo nên một nhân
vật trữ tình nữ trong thơ Xuân Hương có sức sống riêng biệt, khẳng khái thể hiện ý thức
cá nhân của mình.
3.3. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật
Văn học ý thức được người phụ nữ là hiện thân của cái đẹp.Và, để thể hiện vẻ đẹp của
người phụ nữ, bút pháp chủ yếu của văn học trung đại là bút pháp ước lệ, song ta cũng
không phủ nhận những biểu hiện manh nha của bút pháp tả thực. Ta có thể thấy tính ước
lệ thể hiện ở phương diện “tính uyên bác, cách điệu hóa cao độ”. Giai đoạn này các nhà
trí thức Hán học thường dùng sáo ngữ, công thức trong trần thuật, miêu tả, định danh, sử
dụng chất liệu ngôn ngữ cao quý, đầy hoán dụ, ví von.
Lấy thiên nhiên làm thước đo chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người là một trong biểu hiện
rõ nhất của tính ước lệ. Điều này được thể hiện rõ qua cách Nguyễn Du miêu tả vẻ đẹp chị
em Thúy Kiều. Ta thấy có sự lặp đi lặp của những hình ảnh thiên nhiên nhất đinh như hoa
mai, lan, cúc, trúc, liễu, hoa phù dung, mây, trăng. Mai sẽ biểu hiện cho cốt cách, liễu sẽ
biểu hiện cho sự yểu điệu, nữ tính, mặt trăng sẽ biểu hiện cho khuôn mặt, hoa biểu hiện
nét tươi tắn hay nụ cười,....
Ngoài ra tính chất ước lệ còn được tác giả thể hiện qua việc tác giả sử dụng nhiều điển
tích, điển cố. Như miêu tả vẻ đẹp của Thúy Kiều Nguyễn Du sử dụng điển tích “nghiêng
nước, nghiêng thành”, miêu tả nhan sắc người cung nữ tác giả cũng nhắc đến những nhân
vật quen thuộc trong điển tích, điển cố như Tây Thi hay Hằng Nga: “Tây Thi mất vía
Hằng Nga giật mình”.
Bút pháp tả thực ở giai đoạn XVIII-XIX được đề cao và xuât hiện với tần suất dày hơn
thấy được những lời tự thoại đậm màu sắc trữ tình qua chùm thơ tự tình của Hồ Xuân
Hương. Còn đối với Truyện Nôm thì tác phẩm có “tự thoại” là phải nhắc đến “Truyện
Kiều” của Nguyễn Du. Lời tự thoại trong thể loại tự sự bằng thơ không chỉ giúp người
đọc đồng cảm mà còn kích thích khả năng hóa thân thành nhân vật trong truyện một cách
vô thức.
Giữa cảnh nhơ nhớt trong thanh lâu, chúng ta thấy rõ phẩm giá và sực hịu đựng đáng
thương của Kiều qua cái "giật mình" đầy nhân bản:
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình mình lại thương mình xót xa.
(Truyện Kiều)
Điệp từ “mình’’ lặp lại ba lần trong một câu thơ như tiếng nấc nghẹn ngào, tha thiết của
Thúy Kiều ý thức được về phẩm giá, nhân cách, quyền sống bản thân đó cũng là ý thức cá
nhân và quyền sống của con người trong lịch sử phong kiến mà Nguyễn Du muốn truyền
tải đến người đọc.
Về cách miêu tả nội tâm gián tiếp, các tác giả thường đặt để nội tâm người phụ nữ đằng
sau thời gian và không gian nghệ thuật, đằng sau những bức tranh tả cảnh thiên nhiên,
tạo vật.
Ở “Chinh phụ ngâm”, sự xa vời cách trở của chinh phu- chinh phụ được đo bằng chiều
kích của không gian vũ trụ bao la rộng lớn. Đó là hình ảnh của mây, của núi:……………
Theo quy luật tâm lí, không gian của sự xa cách càng lớn thì tâm tình của con người li
biệt cũng theo đó mà càng đau đáu khắc khoải. Hình ảnh mây thể hiện chiều cao của
không gian, còn núi thì biểu thị độ xa. Một không gian ngút ngàn bất tận hiện ra khiến
cho người chinh phụ chỉ còn biết “nhìn”, “trông” mà dậy lên bao nỗi xót xa.
Ở giai đoạn trước, thời gian trong thơ thường có cả quá khứ-hiện tại-tương lai. Tuy nhiên
trung tâm của tác phẩm vẫn là quãng thời gian hiện tại, lúc con người đối diện với chính
lòng mình, đang tự “độc bạch”.
Như ta đã nói trong vòng tuần hoàn thời gian thể hiện nỗi buồn triền miên của người
chinh phụ là thời gian buổi chiều và ban đêm.Trong hơn 400 câu thơ của Chinh phụngâm,
Còn văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XVII, các tác phẩm mà nhân vật nữ xuất
hiện ở vị trí trung tâm thường rất ít. Có Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi) và Truyền kì mạn
lục (Nguyễn Dữ).
Từ những người phụ nữ đó cho đến người chinh phụ, cung phi, Thúy Kiều, Thúy Vân,
Đạm Tiên, người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương,… đều là những hiện thân cho cái
đẹp từ ngoại hình, tâm hồn đến tài năng nhưng lại có một số phận đầy bi kịch, bất hạnh.
Trong những tác phẩm xuất hiện nữ nhi xuất hiện trước thì được nói đến một cách rất mơ
hồ, ngầm ẩn hoặc chỉ là những điển tích, điển cố, hoặc là những motif quen thuộc trong
dân gian kết hợp với kiểu mẫu điển hình của Nho gia nhằm mục đích giáo dục đạo đức.
Các nhân vật nữ đơn điệu về phương diện loại hình và sự miêu tả cũng còn nghèo nàn,
công thức, đơn giản hóa. Các nhân vật nữ thời kì này chưa thoát ra khỏi những khái niệm
công thức của Nho giáo của một thời kì lịch sử gắn với vấn đề “tề gia, trị quốc, bình thiên
hạ” của đáng nam nhi, chưa có được đời sống riêng về măt tâm lí.
Đến thế kỉ XVIII, hình tượng người phụ nữ hiện lên một cách khá đầy đủ và toàn diện
trên nhiều bình diện.
Vấn đề người phụ nữ ý thức về con người cá nhân như ý thức khẳng định vẻ đẹp và tài
năng của mình, nhu cầu bộc lộ tình cảm riêng tư, tâm sự u ẩn, con người với khát vọng tự
do, bình đẳng, khát vọng tình yêu và hạnh phúc, cảm hứng hành lạc và khát vọng nhu cầu
trần thế đã manh nha từ văn học những thế kỉ trước. Công chúa Tiên Dung bất chấp luật
lệnh của vua cha, tự ý kết duyên cùng chàng đánh cá Chử Đồng Tử nghèo khó không một
mảnh khố che thân. Nguyễn Dữ dù đã để những nhân vật nữ của mình (đặc biệt là những
ma nữ) có những hành động, phát ngôn vi phạm đến những vùng “cấm kị” của Nho giáo,
xây dựng họ với những nét khá tự do và phóng túng, mang tính nổi loạn và táo bạo nhưng
không có ý định xây dựng họ với những nét của con người cá nhân, cáng không cố ý xúy
cho những phát ngôn chống lại sự “tu thân khắc kỷ”.
Đến giai đoạn này, nó mới thật sự phát triển mạnh mẽ và rộng khắp. Nhiều nhân vật nữ
trong giai đoạn này mạnh mẽ thể hiện sự phản kháng, sự tố cáo xã hội cũ, nêu lên nhiều
suy nghĩ, nhiều quan điểm chống đối lại quan điểm của xã hội phong kiến (tiêu biểu hơn
Càng đẹp, số phận càng bi thảm và bộ mặt của cái xã hội ấy càng lồ lộ ra một cách tòan
diện
4.2.2. Gíá trị nhân đạo
Viết về hình tượng người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy rẫy sự bất công này, các tác
giả trong văn học thế kỉ XVIII – đầu XIX đã bước đầu xâu dựng được tiếng nói nhân đạo
trong các tác phẩm của mình. Mà không chỉ có một mà rất nhiều tác giả, không chỉ viết
mà còn viết rất hay về hình tượng này thì nó đã dần trở thành nội dung chủ yếu của chủ
nghĩa nhân đạo trong văn học giai đoạn này.
Cũng qua hình tượng này mà các tác giả đã thể hiện được cái nhìn và tấm lòng đầy nhân
đạo của mình và còn làm lay động được cả trái tim của bạn đọc. Không chỉ phản ánh,
miêu tả mà các tác giả còn bày tỏ lỏng cảm thương cho số phận của người phụ nữ; trân
trọng, khẳng định và đề cao những vẻ đẹp của họ, mạnh mẽ lên án, tố cáo, đả kích các thế
lực xã hội tàn bạo, hắc ám. Đặc biệt, cũng nhờ hình tượng người phụ nữ này mà các tác
giả đả có cơ hội đề cao, khẳng định tiếng nói cá nhân, lòng khát khao tình yêu tự do và
quyền sống một cách chính đáng, đáng được hường sự công bằng và hạnh phúc của một
con người. Nếu con người ấy là phụ nữ, là một bộ phận vốn bị xã hội trọng nam, khinh nữ
đương thời quên lãng, chà đạp, nay lên tiếng phản kháng, vươn lên thì tiếng nói cá nhân,
khát vọng chân chính đó càng đáng được quan tâm, trân quý hơn.
4.2.3. Gíá trị thẩm mỹ
Giá trị thẩm mĩ là khả năng của văn học có thể đem đến cho con người những rung động
trước cái đẹp (cái đẹp của cuộc sống và cái đẹp của chính tác phẩm). Hình tượng người
phụ nữ trong văn học giai đoạn này không chỉ được tôn lên đến mức “thẩm mĩ” nhờ
những vẻ đẹp nội tại của họ mà cái đẹp đó còn liên quan chặt chẽ đến cái bi, đến vẻ đẹp
trong nghệ thuật xây dựng hình tượng người phụ nữ.
Người phụ nữ hiện lên với một vẻ đẹp hoàn hảo về cả ngoại hình, tài năng và tâm hồn. Nó
không chỉ là hình tượng được xây dựng nên để gửi gắm một tư tưởng quan điểm nào đó
mà còn trở thành “thần tượng”, một mẫu hình đẹp mà người phụ nữ xưa và nay đều phấn
đấu học hỏi, rèn giũa mình. Dù họ có đau khổ, bất hạnh nhưng cái đau khổ, bất hạnh đó