LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được dùng để bảo vệ
một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin được trích dẫn trong luận văn đều
được ghi rõ nguồn gốc.
Sinh viên
Lê Thị Phương
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã
nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các tập thể, các nhân
trong và ngoài trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, vì thế:
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các Thầy cô giáo trong khoa
Kinh tế và Phát triển nông thôn, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đặc biệt là
các Thầy cô trong bộ môn Phân tích định lượng, những người đã truyền đạt cho tôi
những kiến bổ ích và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận
này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo ThS. Đỗ
Trường Lâm, người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết và tận tình hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể, cán bộ trong UBND huyện Hải
Hậu – Nam Định, UBND các xã: Hải Giang, Hải Thanh, Hải Hà, Hải Trung và
người dân trên địa bàn xã cung cấp cho tôi những số liệu cần thiết và tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tại địa bàn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn
bên cạnh, động viên giúp đỡ tôi về mặt vật chất cũng như tinh thần để tôi có thể
IC
KHKTNN
LG
MI
MNTDPB
NBB
NBL
NS
NSX
NTD
NTG
SL
Trđ
VA
Vnđ
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
Người thu gom
Sản lượng
Triệu đồng
Giá trị gia tăng
Việt nam đồng
5
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết
Sản xuất lúa gạo đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế
nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Khoảng 80% trong số tổng số 11 triệu hộ
nông dân có tham gia sản xuất lúa gạo và chủ yếu dựa vào phương thức canh tác thủ
công truyền thống. Trong gần ba thập kỷ qua nhờ có sự đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế nên Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn trong sản xuất lúa gạo. Năm
2005, tổng sản lượng lúa của cả nước ước đạt khoảng 35.6 triệu tấn, tăng hơn
100.000 tấn so với năm 2004. Cũng vào năm này, Việt Nam đã xuất khẩu được
5254,8 triệu tấn gạo (Tổng cục thống kê, 2005), bình quân mỗi năm xuất khẩu từ 3
– 4 triệu tấn gạo.
Mặc dù sản xuất lúa gạo ngày càng phát triển, nông nghiệp ngày càng đi lên,
thế nhưng điều nghịch lý ở đây là đời sống của người nông dân vẫn chưa được cải
thiện nhiều. Theo tác giả Pham Quang Diệu (AGROINFO) “Chỉ có người nông dân
là gánh chịu rủi ro nhiều nhất, khi giá gạo tăng giá lúa không tăng cùng nhịp, không
được hưởng lợi một cách công bằng trong toàn bộ chuỗi giá trị, khi giá giảm thì giá
lúa giảm cùng nhịp, hàng tồn kho khó tiêu thụ, chịu lãi vay…” Như vậy khi giá lúa
gạo tăng hay giảm thì người nông dân lại là người chịu thiệt và chịu thiệt lớn nhất.
Người nông dân phải sống chật vật với nông nghiệp, phải họ rời bỏ quê để ra thành
thị làm thuê. Để nâng cao đời sống cho người nông dân sản xuất nông nghiệp nói
Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu các hoạt động, chi phí lợi nhuận của
các tác nhân tham gia trong chuỗi cung ứng gạo huyện Hải Hậu – Nam Định.
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
• Những tác nhân nào tham gia chuỗi cung ứng gạo
• Lợi ích (VA, việc làm) của các tác nhân như thế nào?
• Xác định giá bán, lượng hàng và thông tin giữa các tác nhân?
• Làm thế nào nhằm để phân phối lợi ích giữa các tác nhân tham gia trong
chuỗi cho phù hợp?
• Cần làm gì để giảm bớt chi phí không cần thiết trong chuỗi cung ứng?
• Những yếu tố nào ảnh hưởng hoạt động của chuỗi cung ứng?
1.5 Giả thuyết nghiên cứu
• Những tác nhân trung gian có khối lượng sản phẩm lớn và thông tin đầy đủ
sẽ thu được nhiều lợi nhuận trong chuỗi
• Giảm bớt chi phí trong chuỗi cung ứng làm giảm sự chênh lệch giá giữa
người sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng.
8
• Giảm bớt trung gian hoạt động kém hiệu quả trong chuỗi sẽ giảm chi phí
trong chuỗi cung ứng.
• Các dòng chảy sản phẩm, các dòng chảy thông tin nhanh, đầy đủ, chính xác;
các mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi chặt chẽ giúp cho chuỗi hoạt
động hiệu quả hơn.
9
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Một dây truyền cung ứng sản xuất tối thiểu gồm 3 yếu tố: nhà cung cấp, bản
thân đơn vị sản xuất và khách hàng.
Nhà cung cấp là các công ty bán sản phẩm, dịch vụ là nguyên liệu đầu vào
cần thết cho quá trình sản xuất, kinh doanh. Thông thường, nhà cung cấp được hiểu
là đơn vị cung cấp nguyên liệu trực tiếp như vật liệu thô, các chi tiết của sản phẩm,
bán thành phẩm.
Đơn vị sản xuất là nơi sử dụng nguyên liệu, dịch vụ đầu vào, áp dụng các
quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm cuối cùng. Các nghiệp vụ về quản lý sản xuất
được sử dụng tối đa tại đây nhằm tăng hiệu quả, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo
nên sự thông suốt của dây chuyền cung ứng.
Khách hàng là người sử dụng sản phẩm của đơn vị sản xuất.
c) Khái niệm chuỗi cung ứng
Nói đến chuỗi cung ứng là nói đến tất cả mạng lưới gồm các tổ chức có liên
quan, thông qua các mối liên kết phía trên và phía dưới, trong các quá trình và hoạt
động khác nhau, sản sinh ra giá trị dưới hình thức sản phẩm dịch vụ trong tay người
tiêu dùng cuối cùng. Đã có nhiều quan niệm khác nhau về chuỗi cung ứng.
Theo Lee & Billington (1995) thì chuỗi cung ứng là mạng lưới các phương
tiện phục vụ thu mua nguyên vật liệu thô, chuyển hóa chúng thành những sản phẩm
trung gian, tới sản phẩm cuối cùng và giao sản phẩm đó tới khách hàng thông qua
hệ thống phân phối. Chuỗi cung ứng được thể hiện theo sơ đồ sau:
Nhà cung ứng
Hàng tồn kho
Nhà sản
xuất
Khách hàng
Hàng tồn kho
Khách hàng
Hàng tồn kho
quan trực tiếp và gián tiếp tới những quy trình và hoạt động khác nhau nhằm
chuyển giá trị của sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng cuối cùng.
Chuỗi cung ứng là mạng lưới của các tổ chức, con người, công nghệ các
hoạt động, thông tin và nguồn lực tham gia vào việc di chuyển sản phẩm dịch vụ từ
các nhà cung cấp tới khách hàng (Từ điển bách khoa toàn thư).
Trong cuốn “The practice of supply chain management: where theory and
application convergy”, tác giả Terry P. Harrison đã định nghĩa chuỗi cung ứng như
sau:
“Chuỗi cung ứng là sự tạo lập chuỗi giá trị thông qua sự kết nối hoạt động
từ các nhà cung cấp của công ty tới những khách hàng của công ty. Cơ sở các hoạt
động của chuỗi cung ứng thể hiện:
Tiếp nhận đầu vào từ các nhà cung cấp → tạo lập giá trị → phân phối sản
phẩm, dịch vụ tới khách hàng”
Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia, một cách trực
tiếp hay gián tiếp trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng ( giáo trình quản trị chuỗi
cung ứng).
12
Như vậy, chuỗi cung ứng là một hệ thống phức tạp nhưng có mối liên kết
chặt chẽ giữa các thành viên trong việc tạo ra và phân phối các sản phẩm hoàn
chỉnh nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Do đó, nó trở thành chìa khóa tạo
nên sự khác biệt tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
2.1.2 Quản trị chuỗi cung ứng
Sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ và sẵn sàng cung ứng chúng cho khách
hàng đòi hỏi việc xây dựng những mối quan hệ không chỉ với khách hàng, mà còn
với cá nhà cung ứng và những nhà bán lại quan trọng trong chuỗi cung ứng của
công ty. Chuỗi cung ứng này bao gồm những những đối tác tuyến trước và tuyến
sau, bao gồm các nhà cung ứng, các trung gian và thậm chí các khách hàng của các
cùng, và phân phối sản phẩm đến khách hàng thông qua hệ thống phân phối.
Quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý cung và cầu, xác định nguồn nguyên
vật liệu và chi tiết, sản xuất và lắp ráp, kiểm tra kho hàng và tồn kho, tiếp nhận đơn
đặt hàng và quản lý đơn đặt hàng, phân phối qua các kênh và phân phối đến khách
hàng cuối cùng (Supply chain council).
Quản trị chuỗi cung ứng là tập hợp những phương thức sử dụng một cách
tích hợp và hiệu quả nhà cung cấp, người sản xuất, hệ thống kho bãi và cửa hàng
nhằm phân phối hàng hóa được sản xuất đúng địa điểm, đúng lúc và đúng yêu cầu
về chất lượng, với mục đích giảm thiểu chi phí toàn hệ thống trong khi vẫn thỏa
mãn những yêu cầu về mức độ phục vụ.
Như vậy, muốn quản trị chuỗi cung ứng thành công cần tiếp cận chuỗi cung
ứng như là một thực thể thống nhất, là tập hợp của các hoạt động khác nhau, của
các công ty khác nhau trong việc cung ứng các sản phẩm tới khách hàng.
Tóm lại, quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp các hoạt động trong chuỗi
cung ứng một cách hiệu quả trên toàn hệ thống trong việc thỏa mãn nhu cầu của
khách hàng.
2.1.3 Chuỗi giá trị
a) Chuỗi giá trị
Một chuỗi giá trị là một cách tiếp cận hệ thống đối với phát triển kinh tế.
Một chuỗi giá trị là một hệ thống kinh tế bao gồm các nhà vận hành chuỗi, các nhà
cung cấp dịch vụ vận hành và sự liên kết kinh doanh của họ ở các cấp độ vi mô,
đồng thời, bao gồm các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ ở cấp trung. Tất cả các nhà vận
hành đang tạo thêm giá trị cho một sản phẩm cụ thể nào đó trên thị trường theo cách
14
của họ - từ nguyên liệu thô cho đến khi sản phẩm tới tay người tiêu dùng cuối cùng
– đều được coi là một phần của chuỗi giá trị. Đường ranh giới hệ thống của chuỗi
giá trị được xác định bởi sản phẩm cuối cùng và bản thân chuỗi giá trị đã bao gồm
một sản phẩm cụ thể và được hình thành theo nhu cầu của thị trường. Nó là sự sắp
xếp có tổ chức, hợp tác và điều phối giữa người sản xuất, nhà chế biến, các thương
gia, và nhà phân phối liên quan đến một sản phẩm. Chuỗi giá trị là một mô hình thể
chế kinh tế trong đó kết hợp việc chọn lựa sản phẩm và công nghệ thích hợp cùng
với cách thức tổ chức các tác nhân liên quan đến tối ưu hóa giá trị. Như vậy chuỗi
giá trị là một dạng đặc biệt của ngành hàng hay chuỗi cung ứng và chú ý đến sự
phân phối lợi nhuận hợp lý giữa các tác nhân.
b) Phân biệt giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng
Khái niệm cơ bản của chuỗi cung cũng tương tự như chuỗi giá trị. Sự khác
biệt là ở chỗ chuỗi cung nói đến một loạt các chức năng sản xuất (đầu chuỗi) và
marketing (cuối chuỗi) của các doanh nghiệp tư nhân, chủ yếu là công ty đầu mối.
Do đó, quản lý chuỗi cung là một công cụ quản lý kinh doanh hơn là một phần khái
niệm phát triển. Chuỗi cung ứng quan tâm đến các vấn đề hậu cần hơn là việc phát
triển thị trường.
2.1.4 Đặc điểm của chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng được cấu tạo bởi 5 thành phần cơ bản, các thành phần này là
các nhóm chức năng khác nhau và cùng nằm trong dây chuyền cung ứng: Sản xuất,
vận chuyển, tồn kho, định vị, thông tin.
Sản xuất là khả năng tạo ra và lưu trữ sản phẩm của chuỗi cung ứng. Phần
xưởng, nhà kho là cơ sở vật chất, trang thiết bị chủ yếu của thành phần này. Trong
quá trình sản xuất, các nhà quản trị thường phải đối mặt với vấn đề cân bằng giữa
khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng và hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp.
Vận chuyển là bộ phận đảm nhiệm công việc vận chuyển nguyên vật liệu,
cũng như sản phẩm giữa các nơi trong dây chuyền cung ứng. Ở đây, sự cân bằng
giữa khả năng đáp ứng nhu cầu và hiệu quả công việc được biểu thị trong việc lựa
chọn phương thức vận chuyển.
Tồn kho là việc hàng hóa được sản xuất ra tiêu thụ như thế nào. Chính yếu tố
tồn kho sẽ quyết định doanh thu và lợi nhuận của công ty bạn. Nếu tồn kho ít tức là
sản phẩm của bạn được sản xuất ra bao nhiêu sẽ tiêu thụ hết bao nhiêu, từ đó chứng
Khách hàng
Sơ đồ 2.2: Chuỗi cung ứng giản đơn (Micheal Hugos, 2003)
Chuỗi cung ứng mở rộng ngoài ba thành viên trên còn có thêm bà thành viên
khác đó là nhà cung cấp của các nhà cung cấp, khách hàng của khách hàng, và toàn
bộ các công ty cung cấp dịch vụ cho các công ty trong chuỗi cung ứng. Các công ty
cung cấp dịch vụ này sẽ cung cấp dịch vụ hậu cần, tài chính, tìm hiểu thị trường,
17
thiết kế sản phẩm và công nghệ thông tin cho các công ty khác trong chuỗi cung
ứng.
Nhà cung
ứng chuỗi
Nhà sản
xuất
Công ty
Nhà cung cấp
dịch vụ
Khách
hàng
Khách
hàng cuối
dịch khuyến mại, các nhà phần phối còn thực hiện các chức năng như quản lý vận
18
hành các kho hàng, vận chuyển các sản phẩm, hỗ trợ khách hàng và dịch vụ khách
hàng.
Nhà bán lẻ: thực hiện chức năng dữ trữ sản phẩm và bán các sản phẩm với
lượng bán nhỏ hơn. Đây là thành viên gần gũi với khách hàng nhất (khách hàng
cuối cùng). Tổng hợp những thông tin về khách hàng từ nhà bán lẻ sẽ giúp những
nhà phân phối cũng như các công ty nắm bắt tốt hơn những nhu cầu của khách hàng
trên thị trường.
Khách hàng: Là những đối tượng mua các sản phẩm của công ty. Một khách
hàng có thể mua sản phẩm của công ty và bán cho khách hàng khác và sử dụng nó.
Nhà cung cấp dịch vụ: có chức năng cung cấp các dịch vụ cho các nhà sản
xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ, khách hàng. Sự xuất hiện của các nhà cung cấp
dịch vụ trên chuỗi cung ứng sẽ làm các hoạt động hiệu quả hơn bởi đôi khi những
dịch vụ mà những nhà cung cấp cung ứng có mức giá thấp hơn hẳn so với việc các
thành viên của chuỗi tự làm.
Như vậy, ranh giới của một chuỗi cung ứng rất linh hoạt, ranh giới của một
chuỗi cung ứng kéo dài từ nhà sản xuất (nhà sản xuất nguyên vật liệu) tới khách
hàng của khách hàng của họ.
Có ba dòng chảy xuyên suốt toàn chuỗi cung ứng. Đó là dòng chảy của sản
phẩm, của thông tin và tài chính. Các dòng chảy này tạo ra chi phí của chuỗi cung
ứng. Khách hàng là nguồn doanh thu duy nhất của chuỗi cung ứng.
Sự phối hợp chặt chẽ của dòng chảy sản phẩm, thông tin và tài chính là vô
cùng quan trọng trong chuỗi cung ứng. Đặc biệt là vai trò cầu nối của dòng chảy
thông tin bới nó ảnh hưởng lớn tới việc đáp ứng các nhu cầu khách hàng đúng lúc.
Tại một cửa hàng bán lẻ, khách hàng sẽ được cung cấp các sản phẩm, giá cả và sự
sẵn sàng, đầy đủ về thông tin (sản phẩm, nhà sản xuất, khuyến mãi…) và ngược lại
Các nhà máy có thể được xây dựng theo hai hướng: Tâm điểm sản phẩm và
tâm điểm chức năng. Theo tâm điểm sản phẩm, công ty sẽ thực hiện các công đoạn
từ chế tạo tới lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh. Theo tâm điểm chức năng, công ty sẽ
chuyên về một chức năng cụ thể thay vì về một sản phẩm sẵn có.
Kho hàng cũng được thiết kế thích ứng theo các phương pháp khác nhau như
lưu kho đơn vị, cho phép lấy và đóng gói hiệu quả hơn có thể sử dụng phương pháp
lưu kho theo công năng, hoặc để nâng cao hiệu suất của chuỗi cung ứng có thể sử
dụng lưu kho chéo. Lưu kho chéo là phương pháp lưu kho mà Wal-mart đã sử dụng.
Theo phương pháp này các kho hàng chứa quy trình chứ không chứa sản phẩm.
20
Hàng tồn kho: Hàng tồn kho không chỉ là những sản phẩm cuối cùng được
lưu trữ tại các kho hàng, mà nó còn bao gồm nguyên vật liệu cho sản xuất cũng như
các sản phẩm trung gian. Do đó, tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng đều
nắm giữ lượng hàng tồn kho nhất định.
Hàng tồn kho cũng chịu ảnh hưởng từ mâu thuẫn giữa tính đáp ứng nhanh và
tính hiệu quả. Để hiệu quả, mục tiêu của các công ty là giảm chi phí hàng tồn kho.
Nhưng để đáp ứng nhanh nhu cầu khách hàng, các công ty phải tăng thêm chi phí
dành cho hàng tồn kho. Có ba quyết định cơ bản về tồn trữ hàng tồn kho. Đó là
hàng tồn kho chu kỳ, hàng tồn kho an toàn và hàng tồn kho thời vụ.
Hàng tồn kho theo chu kỳ là lượng hàng tồn kho cần thiết để thỏa mãn nhu
cầu sản phẩm trong kỳ giữa những lần thu mua. Tuy nhiên việc không thể dự báo
chính xác nhu cầu sản phẩm đã khiến các công ty phải tồn kho thêm để dự phòng
trong trường hợp nhu cầu tăng cao và vì vậy, đẩy chi phí tồn kho, chi phí vận
chuyển hàng hóa tăng. Các công ty sẽ cân nhắc giữa chi phí tăng lên với phần
doanh thu bị mất nếu không tồn kho để đưa ra những quyết định của mình. Tất
nhiên, các công ty đều không ưa thích phương thức tồn kho này. Tại những thời
điểm nhất định trong năm dự báo nhu cầu sẽ tăng cao, các công ty còn lựa chọn
tâm, hoạt động độc lập và tự quyết hành vi của mình. Tác nhân có thể là những hộ
hay những doanh nghiệp… tham gia trong các ngành hàng thông qua hoạt động
kinh tế của họ.
Trong một chuỗi cung ứng có thể bao gồm nhiều kênh hoạt động. Các kênh
này thể hiện mối quan hệ giữa các tác nhân tham gia thị trường hàng hóa đó, bao
gồm người sản xuất, người thu gom, người chế biến, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ
và người tiêu dùng. Theo GS.TS Đỗ Kim Chung và cộng sự (2009) các kênh thị
trường có thể có các tác nhân tham gia sau đây:
Người sản xuất
Người sản xuất bao gồm nông dân, trang trại, các doanh nghiệp, hợp tác xã,
nông lâm trường trực tiếp sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp. Ở các nước đang phát
triển, nông dân chiếm vị trí trọng yếu trong việc cung cấp ra sản phẩm nông nghiệp.
Người sản xuất, nhận được tín hiệu thị trường tiến hành đầu tư kinh doanh, đến vụ
thu hoạch, bán sản phẩm của mình cho người thu gom, các đại lý, các tổ chức thu
mua, hoặc người tiêu dùng cuối cùng, phục vụ cho chế biến, trao đổi thương mại
hay tiêu dùng trực tiếp.
Người thu gom
22
Người thu gom có thể là tư thương, các tổ chức thu mua của các doanh
nghiệp (tham gia xuất khẩu, chế biến nông sản), các hợp tác xã. Tùy theo tính chất
của từng loại sản phẩm nông nghiệp, điều kieenhj thụ trường và quan hệ kinh tế
(như canh tác hợp đồng) mà người thu gom có thể là tư thương hay doanh nghiệp.
Với nông sản(như thóc, gạo, lợn gà…), ở cá nước đang phát triển, tư thương có vai
trò vô cùng quan trọng. Tư thương phản ứng nhanh nhạy với sự biến đổi thị trường.
Cơ chế vận hành trong thu mua của tư thương thương thường thích hợp hơn với nền
nông nghiệp phân tán, đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Với nông sản đòi hỏi phải chế biến (như bông, cà phê, cá, tôm…), người thu
nào đó có thể rất dồi dào ở thị trường vào lúc này nhưng lại khan hiếm vào lúc
khác. Do vậy, việc chế biến là rất cần thiết để giải quyết tình trạng cung thừa lúc thu
hoạch và cầu thừa lúc khan hiếm. Mặt khác việc chế còn có tác dụng làm tăng chất
lượng sản phẩm trước khi bán và duy trì được sản phẩm trong thời gian dài. Chỉ có
chế biến mới nâng cao được giá trị sản phẩm và thỏa mãn được yêu cầu của người
tiêu dùng. Việc chế biến nông sản hàng hóa là toàn bộ các hoạt động có tính công
nghiệp có liên quan đến nhau nhằm thay đổi những hình dạng cơ bản của sản phẩm
như chuyển nông sản thành sản phẩm hàng hóa, sản phẩm tươi sống, sản phẩm nấu
chín, sản phẩm đồ hộp hay đóng túi cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng.
Việc chế biến có thể do doanh nghiệp tư nhân, nhà nước hay tập thế đảm nhận. Tùy
theo chủng loại sản phẩm, tính chất công nghệ đòi hỏi trong chế biến và trang thiết
bị cho chế biến mà thành phần kinh tế này hay kinh tế khác thực sự chiếm vị trí then
chốt.
Người bán buôn
Người bán buôn là những người mua sản phẩm từ người thu gom hay từ
người chế biến, trong một số trường hợp, từ người sản xuất để bán sản phẩm cho
người bán lẻ. Thông thường, người bán buôn là các đại lý, siêu thị, các doanh
nghiệp. Quy mô sản phẩm kinh doanh cảu người bán buôn thuuwongf lớn, chiếm vị
trí quan trọng trong điều tiết thị trường.
Hoạt động bán buôn bao gồm tất cả các hoạt động nhằm bán hàng và dịch vụ
cho những người mua về để bán lại hoặc để kinh doanh.
Người bán lẻ
Người bán lẻ mua sản phẩm từ bán buôn, hay người chế biến, trong một số
trường hợp có thể từ người sản xuất và bán sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng
24
cuối cùng. Người bán lẻ có thể bao gồm các diaau thị , tư thuuwongf buôn bán nhỏ
và cả người sản xuất. Xã hội càng phát triển, sự tham gia bán lẻ của các siêu thị