LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu trong bài khóa luận là hoàn toàn có thật
và chưa được sử dụng trong tài liệu nào, cũng như các luận văn, luận án, các
bài khoa học của các học hàm, học vị trước đây nghiên cứu.
Tôi xin cam đoan rằng các tài liệu đã được trích nguồn đầy đủ và trung
thực chỉ rõ nguồn gốc của tài liệu.
Sinh viên
Lê Thị Dung
i
LỜI CẢM ƠN
Qua 4 năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Nghiệp – Hà
Nội, tôi xin chân thành biết ơn đến các thầy cô giáo giảng dạy trong trường,
đặc biệt trong khoa kinh tế và phát triển nông thôn, những người đã trang bị
cho tôi những kiến thức cần thiết để vào đời.
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học tôi chân thành cảm ơn đến
thầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn Song, trưởng bộ môn Kinh tế tài nguyên và
môi trường và các thầy cô giáo trong khoa đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp.
Tiếp theo tôi xin chân thành cảm ơn đến các phòng ban của UBND xã
Tân Xuân, các cán bộ y tế tại địa phương cùng những người dân trên địa bàn
xã Tân Xuân đã giúp tôi rất nhiệt tình trong quá trình điều tra tại địa bàn.
Cuối cùng tôi xin chân thành biết ơn đến gia đình, bạn bè…đã luôn bên
tôi trong suốt 4 năm học qua để tôi có thể hoàn thành khóa học của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày 24 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
nghiên cứu
Chủ thể
nghiên cứu
Thực
trạng
tham gia
BHYT
của các
hộ ND.
Các hộ
ND và
cán bộ
địa
phương
Nhu cầu
tham gia
BHYT
TN của
các hộ
ND.
Phân tích
các yếu tố
ảnh hưởng
đến nhu cầu
tham gia
-Phỏng vấn
bằng bảng
hỏi
-Chuyên gia
chuyên khảo
Chỉ tiêu
phân tích
Số lượng người
tham gia, mức
giá BHYT,
chất lượng
BHYT.
-Tỉ lệ khó khăn khi
tham gia BHYT
- Nhu cầu tham gia
- Mức WTP
- Cơ chế thực hiện,
quyền lợi, thời gian
BHYT TN, hình
thức KBCB, số
người đồng ý tham
gia.
-Tỷ lệ hiểu biết
về BHYT TN.
- Tỷ lệ đồng ý
tham gia
dân và đưa ra những tác động tích cực cho việc tham gia BHYT TN được nhiều hơn.
Vấn đề nghiên cứu đặt ra là: Nhu cầu, cầu, BHYT, BHYT TN là gì? Chính sách
này thực hiện từ khi nào? Những đối tượng nào là bắt buộc tham gia những đối tượng nào
là tự nguyện? Các nguyên nhân chính ảnh hưởng tới cầu BHYT TN? Những đề xuất cơ
bản nhằm tăng cường BHYT TN cho khu vực nông thôn, ND? Vì sao người ND nên tham
gia BHYT TN? Vấn đề này tại sao ở địa phương chưa phát triển? Hiện nay, nhu cầu tham
gia BHYT TN của các hộ ND ở đây như thế nào? Tham gia BHYT TN có đáp ứng được
nhu cầu khám chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho người ND không?
Mục tiêu nghiên cứu này nhằm: Góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận và
thực tiễn liên quan đến nhu cầu tham gia BHYT TN; Đánh giá thực trạng tham gia BHYT
TN và thực trạng khám chữa bệnh của người dân của xã trong thời gian qua; Đánh nhu cầu
tham gia BHYT TN của người dân; Đề xuất một số giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu tham
gia BHYT TN một cách hiệu quả nhất.
II. NGUỒN SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nguồn số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp về tình hình chung của xã được thu thập từ phòng thống kê, phòng nông
nghiệp, phòng tổng hợp của UBND xã Tân Xuân. Số liệu thứ cấp từ trạm y tế xã Tân Xuân.
2.2 Nguồn số liệu sơ cấp
Số liệu về tình hình kinh tế của hộ, nhu cầu tham gia BHYT TN của hộ được thu
thập từ 90 hộ ND, điều tra phỏng vấn thêm 10 cán bộ địa phương để hiểu thêm tình hình
chung của xã. Từ đó đưa ra được những số liệu có tính chất tổng quan nhất và không bị sai
lệch thống kê quá nhiều, 90 hộ điều tra được phân tổ thành 3 nhóm khác nhau theo thu
nhập: 30 hộ có thu nhập dưới 8 triệu đồng/người/năm; 30 hộ có thu nhập từ 8-12 triệu
đ/người/năm; 30 hộ có thu nhập trên 12 triệu đồng/người/năm.
2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, ngoài sử dụng những phương pháp cơ bản như:
chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu, phương pháp thu thập thông tin sơ cấp, thứ cấp, thống
kê kinh tế, so sánh…phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu này là phương
pháp tạo dựng thị trường (Contingent Valuation Method – CVM) nhằm xác định mức sẵn
lòng chi trả ( Willingness to pay – WTP) cho việc tham gia BHYT TN của các hộ ND.
đây, với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng người dân chuyển từ trồng ngô, lạc, đỗ…sang
trồng cây mía cung cấp cho nhà máy đường Tân Kỳ. Đời sống của người dân cũng từ đó
được thay đổi. Thu nhập của người dân tăng dần lên theo từng năm. Đời sống được cải
thiện nên người nông dân cũng có thời gian chăm sóc sức khỏe cho mình hơn. Thực trạng
tham gia BHYT TN của người dân tại địa phương tăng dần lên từng năm nhưng không
nhiều lắm. Bình quân tăng 55.89% trong một năm. Tổng số người ND tham gia BHYT TN
năm 2009 là 367 người. Nhìn chung tỉ lệ số hộ ND tham gia BHYT TN tại địa phương
đang còn thấp.
3.2 Đánh giá nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân xã Tân Xuân
Thứ nhất, Nhu cầu của người ND tham gia BHYT TN: Để có một sức khỏe tốt đảm
bảo cho cuộc sống ngày càng văn minh lịch sự, giàu đẹp thì người ND ngày càng ý thức rõ
hơn vai trò sức khỏe của mình. Có 43.33% cho rằng tham gia BHYT TN là rất cần thiết
cho sức khỏe. Nhưng có 86.52% số hộ tham gia phỏng vấn cho rằng do điều kiện còn khó
khăn nên hộ chưa có điều kiện tham gia BHYT TN.
Thứ hai, Đường cầu biều diễn mức sẵn lòng chi trả tham gia BHYT TN của người
ND: Mức sẵn lòng chi trả của 3 nhóm hộ ND phụ thuộc vào thu nhập, quan điểm, suy
nghĩ, mức độ hiểu biết và kỳ vọng của mỗi nhóm hộ sau khi tham gia vào BHYT TN cũng
khác nhau. Vì vậy, Mức tham gia của các nhóm hộ cũng có chênh lệch, nhưng sự chênh
lệch đó cũng không quá lớn. Hầu hết các nhóm hộ đồng ý tham gia với mức giá WTP thấp
hơn mức giá của nhà nước quy định. Mức giá bình quân của nhóm hộ có thu nhập cao
cũng chỉ đạt 348,000đồng/người/năm. Mức bình quân chung của tất cả các hộ cũng chỉ đạt
340,444 đồng/người/năm. Với mức WTP này thì đang thấp hơn quy định của nhà nươc
hơn 10 nghìn đồng/người/năm. Hình dáng đường cầu phác họa trong tất cả các trường hợp
là phù hợp với quy luật cầu trong kinh tế như các loại hàng hóa dịch vụ khác.
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân
Yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến nhu cầu tham gia BHYT TN của người ND là thu
nhập, trình độ học vấn, độ tuổi, nghề nghiệp, giới tính, chất lượng khám chữa bệnh, số
khẩu...Nhưng yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất của những người dân tại địa phương là thu
v
338,667đồng/người/năm và của nhóm hộ ND có thu nhập cao là 348,000đồng/người/năm.
Với mức giá là 331,000đồng/người/năm và 341,000 đồng/người/năm thì có số hộ bằng
lòng tham gia BHYT TN nhiều nhất chiếm gần 50% số hộ điều tra. Mức chi trả bình quân
của tất cả các nhóm hộ là 340,444 đ/người/năm. Với mức giá này cũng phù hợp với người
ND ở địa phương tham gia BHYT TN
Đề tài cũng đưa ra các giải pháp: cần làm tốt khâu vận động tuyên truyền người ND
tham gia BHYT TN. Nêu cao nhận thức của người dân về mặt dân trí, giúp người dân nhận
thức được quyền lợi, lợi ích khi tham gia BHYT TN.
Các cơ quan ban ngành từ trung ương đến địa phương cần làm tốt công tác triển
khai, các cơ sở KCB cần làm việc một cách nghiêm túc có hiệu quả, không nên có thái độ
phục vụ khác đối với những người có thẻ BHYT. Cần trang bị thêm những thiết bị y tế cho
những địa điểm y tế địa phương nhằm tạo lòng tin cho nhân dân và giảm bớt gánh nặng
cho những bệnh viện tuyến trên.
Chính quyền địa phương cần làm tốt công tác xóa đói giảm nghèp, giúp đỡ người
ND làm kinh tế ngày càng giỏi để người ND có điều kiện tham gia BHYT TN ngày càng
nhiều hơn.
vi
MỤC LỤC
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
viii
Bảo hiểm y tế tự nguyện
5. CC:
Cơ cấu
6. CVM:
Phương pháp tạo dựng thị trường( Contingent Valuation
Method)
7. ĐVT:
Đơn vị tính
8. GTSX:
Giá trị sản xuất
9. KBCB:
Khám bệnh chữa bệnh
10. KCB:
Khám chữa bệnh
11. ND:
quyết định đến sự nghiệp phát triển của đất nước.
BHYT là một chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước. Chính
sách này trong những năm gần đây được xác định là giải pháp cơ bản, nhằm
tập trung và tạo nguồn lực tài chính phục vụ cho chiến lược chăm sóc và bảo
vệ sức nhân dân theo định hướng công bằng, tiết kiệm và hiệu quả. Sau hơn
15 năm tổ chức thực hiện, BHYT đã chứng minh sự cần thiết đối với mỗi
người, cũng như đã thể hiện tính nhân đạo cộng đồng xã hội qua hình thức
chia sẻ rủi ro giữa các thành viên tham gia BHYT. BHYT cho thấy đây cũng
là nguồn kinh phí quan trọng, giúp nhiều người bệnh nặng vượt qua được khó
khăn trong điều trị bệnh. Mặc dù, BHYT có những hạn chế nhất định do hoạt
động trong môi trường mà nhận thức của nhiều người dân chưa hiểu đúng về
bản chất của BHYT và sự chưa đồng bộ một số chính sách có liên quan, song
có thể khẳng định rằng, BHYT đã trở thành nhu cầu cần thiết khách quan
trong đời sống của dân cư xã hội và là giải pháp duy nhất nhằm đổi mới chính
sách tài chính y tế trong công cuộc đổi mới và hội nhập.
BHYT cho nông dân( ND) là một trong những điểm mới của dự thảo
luật BHYT. Theo đó, người ND “có mức sống trung bình” sẽ được nhà nước
hỗ trợ một phần mức đóng BHYT. Nếu xét từ góc độ quan điểm, thì một
chính sách ưu tiên cho ND trong trường hợp hiện nay là hoàn toàn phù hợp
1
với những chủ trương, đường lối mà chúng ta đang theo đuổi. Bảo hiểm y tế
tự nguyện (BHYT TN) sẽ một phần giúp giải bài toán thoát nghèo cho ND.
Sự hỗ trợ ban đầu của nhà nước sẽ như một “ cú hích” để ND dễ tiếp cận hơn
với BHYT, tạo ra một “ thói quen” cho người ND trong việc lựa chọn cơ chế,
giải pháp tài chính phù hợp phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe. Năm 2008
số người tham gia BHYT là 39,3 triệu người chiếm 46% tăng hơn 10 lần so
với năn 1993. ND chiếm 70% dân số, việc hỗ trợ để người ND có điều kiện
địa bàn xã Tân Xuân , Tân Kỳ, Nghệ An”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế của các
hộ nông dân trên địa bàn xã Tân Xuân, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm
đáp ứng nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn xã Tân
Xuân, Tân Kỳ, Nghệ An.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Để góp phần thực hiện được mục tiêu chung đề tài hướng tới các mục
tiêu cụ thể sau:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về nhu cầu, cầu, bảo hiểm y tế và
bảo hiểm y tế tự nguyện.
Đánh giá thực trạng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện thời gian qua của
các hộ nông dân trên địa bàn xã Tân Xuân.
Đánh giá nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông
dân trên địa bàn xã.
Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế
tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhu cầu tham gia bảo hiểm y
tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã.
3
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các hộ nông dân trên địa bàn xã, cán bộ quản
lý địa phương và các cán bộ y tế xã.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về nội dung
Khái niệm nhu cầu và vật chất của Thonon Armand: Nhu cầu là toàn bộ
mong muốn của con người để có thể có một số của cải vật chất hay dịch vụ để
làm bớt khó khăn của họ hay tăng phúc lợi cho cuộc sống của họ. Theo cách
chia của ông nhu cầu của con người có thể được chia làm hai loại. Thứ nhất là
nhu cầu về tâm lý, thứ hai là nhu cầu về xã hội. Còn vật chất là tất cả những
cái đóng góp vào để làm thỏa mãn một hay nhiều nhu cầu. Ông chia khái
niệm vật chất ra làm hai loại:
5
-
Vật chất tiết kiệm: mọi vật chất được gọi là tiết kiệm khi nó hiếm có
nghĩa không đủ về số lượng để thỏa mãn toàn bộ một hay nhiều nhu cầu mà
nó đáp ứng.
-
Vật chất tiêu thụ: trong khái niệm này ông chia làm ba loại:
+
Vật chất tiêu thụ cuối cùng là toàn bộ vật chất được sử dụng trực tiếp
để thỏa mãn nhu cầu của con người.
+
Vật chất tiêu thụ trung gian là những loại được chuyển hóa trong điều
Hình 2.1 Thứ tự sắp xếp nhu cầu của Abraham H.Maslow năm 1943
+ Nhu cầu về thể chất và sinh lý (Physiological Needs): Đây còn được
gọi là nhu cầu về vật chất, đầu tiên thể hiện rõ ràng là con người ta cần có ăn,
mặc, có các điều kiện đi lại học tập, làm việc để tồn tại và phát triển.
+ Nhu cầu về an toàn (Safety Needs): đó là nhu cầu được bảo vệ khỏi
mối nguy hiểm đang rình rập hàng ngày, là mong muốn có được sức khỏe, có
được cuộc sống ổn định, giữ gìn tài sản của mình…Tóm lại là được bảo vệ về
mặt thể xác, tinh thần và xã hội.
+ Nhu cầu về tình cảm, xã hội (Socical Needs) : Cao hơn nhu cầu an
toàn là nhu cầu quan hệ như quan hệ giữa người với người, quan hệ con người
với tổ chức hay quan hệ giữa con người với tự nhiên. Con người luôn có nhu
cầu yêu thương gắn bó. Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu
giao tiếp để phát triển.
+ Nhu cầu danh dự ( tôn trọng) (Esteem Needs): khi thỏa mãn được các
nhu cầu trên thì con người quan tâm đến nhu cầu danh dự. Con người muốn
được tôn trọng, được thừa nhận, được đề cao, cố gắng phấn đấu để giành một
địa vị nhất định trong xã hội mua sắm được nhà lầu, xe hơi, dùng hàng hiệu,
đi du lịch…
+ Nhu cầu tự khẳng định chính mình (Self – actualization Needs) : là
cấp độ cao nhất của nhu cầu, tồn tại khi tất cả các nhu cầu khác được thỏa
7
mãn. Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn. Con người tự nhận
thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ khi
công việc đó được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng. Thuyết nhu cầu
sắp xếp nhu cầu con người từ thấp lên cao. Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ
được thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng. [7]
Thực chất, Cầu là một thuật ngữ dùng để diễn đạt thái độ người mua và
khả năng mua về một loại hàng hóa, dịch vụ.
Khi chúng ta gia nhập thị trường hàng hóa, có hai yếu tố xác định
chúng ta có thể trở thành người mua( có nhu cầu):
Yếu tố đầu tiên: ý muốn sẵn sàng mua và sự ưa thích. Yếu tố này quyết
định, chúng ta có sẵn sàng chi tiền để mua hàng hóa đó hay không. Nếu hàng
hóa đó rẻ thì có thể mua hoặc cũng có thể không cần lấy khi được cho không,
vậy cầu trong trường hợp này bằng không.
Yếu tố thứ hai: khả năng tài chính. Ý muốn sẵn sàng mua và sự ưa
thích chưa đủ để thúc đẩy ta trở thành người mua hàng. Hàng hóa có thể phù
hợp với sự ưa thích nhưng lại quá nhiều tiền, vậy cầu trong trường hợp này
cũng bằng không.
Lượng cầu:
Số lượng cầu về hàng hóa dịch vụ là số lượng hàng hóa, dịch vụ mà
người mua sẵn sàng mua trong một thời kỳ nào đó.
Sẵn sàng mua có nghĩa là người mua sẽ thực sự sẵn sàng trả tiền cho số
lượng cầu nếu nó là có sẵn. Điều này rất quan trọng để phân biệt giữa số
lượng cầu và số lượng thực sự mua.
Lượng một hàng hóa, dịch vụ nào đó mà một cá thể có nhu cầu, khi có
đủ ngân sách để mua tại một thời điểm nhất định với mức giá cả xác định của nó
và mức giá cả xác định của hàng hóa khác gọi là lượng cầu. Như vậy, có thể thấy
lượng cầu một mặt hàng hóa dịch vụ phụ thuộc vào giá cả thị trường của chính
nó, mức thu nhập của mỗi cá thể, và vào giá cả của các mặt hàng khác( nhất là
các mặt hàng thay thế hoặc bổ sung cho nó), phụ thuộc vào thời điểm, thị hiếu
khách hàng, kỳ vọng giá trong tương lai, quy mô dân số và thời tiết.
9
Đường cong cầu: Trong kinh tế học nhập môn, để cho đơn giản, người
Đồ thị 2.1 Đường cầu về hàng hóa dịch vụ
10
Q
* Hàm cầu và các nhân tố ảnh hưởng đến cầu
Hàm cầu: Cầu thị trường một loại hàng hóa dịch vụ phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố, cho nên sự thay đổi của những yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến cầu hàng hóa dịch vụ đó. Để nghiên cứu mối quan hệ giữa cầu hàng hóa
và các yếu tố ảnh hưởng đến nó, người ta sử dụng một hàm số gọi là hàm số
của cầu ( hàm cầu).
Hàm cầu có dạng tổng quát như sau: QD(x,t) = f(Px; I; Py; T; N; E…)
Trong đó:
- QD( x, t) là cầu hàng hóa X xác định trong khoảng thời gian t ( ngày, tháng,
quý, năm…) và đóng vai trò hàm số cầu.
- Px; I; Py; T; N; E…là các yếu tố ảnh hưởng đến cầu hàng hóa X và đóng vai
trò như những biến số của hàm cầu. Cụ thể, P x là giá cả hàng hóa X; I là thu
nhập của người tiêu dùng; P y là giá cả hàng hóa liên quan; T là chuẩn mực về
thị hiếu sở thích của người tiêu dùng; N là quy mô dân số; E là kỳ vọng của
người tiêu dùng về sự thay đổi các yếu tố trên. [5]
2.1.1.3 Thặng dư người tiêu dùng và mức sẵn lòng trả
a) Thặng dư người tiêu dùng
Giống như các nhà sản xuất luôn muốn gia tăng lợi nhuận cho mình,
người tiêu dùng cũng mong muốn lợi ích tiêu dùng cũng được tăng lên. Thế
nhưng làm thế nào để biết được người tiêu dùng sẽ được nhiều lợi ích hơn hay
thiệt hại khi mua hàng hóa. Khái niệm thặng dư người tiêu dùng sẽ giúp
chúng ta đo lường được lợi ích cũng như thiệt hại mà người tiêu dùng đạt
12
P
9
Đường cầu về nước
của người tiêu dùng
Giá nước
E
1
1
2 3
4
5
6 7
8
9
Q
Đồ thị 2.2 Thặng dư tiêu dùng của một người sử dụng nước