Xác định được tính đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng cham chu và phân tích đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố các loài lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh tại rừng đặc dụng cham chu - Pdf 35

4

PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Tài nguyên động vật rừng Việt Nam không những phong phú và đa dạng mà
còn có tính đặc hữu cao. Đây là tiềm năng thực sự góp phần làm nền tảng cho chiến
lược bảo vệ và phát triển bền vững đa dạng sinh học Việt Nam.
Động vật trong các hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở nước ta đã từng là nguồn
cung cấp thực phẩm, nguồn dược liệu độc đáo mà nhân dân sử dụng từ thế hệ này
đến thế hệ khác. Nhiều sản phẩm từ động vật rừng được sử dụng làm nguyên liệu để
chế biến các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp và mỹ nghệ được ưa thích trên thị
trường. Một số loài động vật có vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học nhằm
tìm ra các nguyên lý, các cơ chế sinh học, sinh lý học, phục vụ cho việc phòng và
chữa bệnh, nâng cao sức khoẻ cộng đồng. Đặc biệt đó là ngân hàng gen vô cùng
quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người, là nguồn gốc của các loài động
vật chăn nuôi trong gia đình hiện nay. Động vật rừng còn có vai trò không nhỏ
trong việc điều chỉnh sự cân bằng các hệ sinh thái.
Lưỡng cư, bò sát cũng là nguồn tài nguyên động vật có giá trị cao bên cạnh
các nguồn tài nguyên thú, chim và cá. Trong các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh
thái nhân văn ở mọi miền đất nước, nguồn tài nguyên lưỡng cư, bò sát có vai trò vô
cùng quan trọng trong cuộc sống của các cộng đồng.
Trong cuộc sống hàng ngày lưỡng cư, bò sát là đội quân cần mẫn giúp con
người tiêu diệt các loài côn trùng gây hại cho nông - lâm nghiệp và những vật chủ
trung gian mang mầm bệnh lây truyền cho con người và gia súc. Nhiều loài lưỡng
cư, bò sát là nguồn thực phẩm có giá trị và ưa thích của nhân dân ta như: Các loài
Trăn, Rắn, Ba ba, Ếch nhái,...Nhiều loài còn là nguyên liệu để bào chế các loại
thuốc quý hiếm phục vụ cho đời sống con người (Trần Kiên, 1981) [4]. Trong các
phòng thí nghiệm lưỡng cư, bò sát còn được dùng như một đối tượng nghiên cứu.
Vấn đề nóng bỏng hiện nay là nguồn tài nguyên động vật rừng nói chung và
nguồn tài nguyên lưỡng cư, bò sát nói riêng đang bị suy giảm mạnh. Nhiều loài đã

Các nhà khoa học Colombia, vừa phát hiện một loài ếch vàng có độc tại
những vùng núi sâu của Colombia. Loài ếch mới này có kích thước khoảng 2cm


6

chiều dài, da vàng nhạt bên dưới những lớp độc tố. Chúng được đặt tên là ếch vàng
Supatas [24].
Từ năm 2008 đến 2010, nhóm các nhà nghiên cứu từ Bảo tàng Oxtraylia, Đại
học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng
Khoa học Tự nhiên North Carolina Hoa Kỳ, đã tiến hành nhiều đợt khảo sát thực
địa Vườn Quốc gia Bi Đúp - Núi Bà, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng để thu thập
mẫu vật và nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài ếch nhái. Nhóm
các nhà khoa học vừa công bố một số loài ếch cây mới trên tạp chí Zootaxa số 2727
năm 2010 [25].
2.2.2. Lịch sử nghiên cứu lưỡng cư, bò sát trong nước
Nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam bắt đầu từ khi Morice (1875) lập
nên danh sách các loài lưỡng cư, bò sát thu được mẫu ở Nam Bộ mở đầu cho các
công trình nghiên cứu khoa học về nhóm động vật này ở nước ta vào thế kỷ 19.
Những nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát tiếp theo ở Bắc Bộ có J.Anderson (1878), ở
Nam Bộ có J. Tirant (1885), G. Boulenger (1890), Flower (1896), Boettger (1901)
là người đầu tiên đề cập tới lưỡng cư, bò sát vùng Bắc Trung Bộ trong tài liệu
“Aufzahlung Einer Liste Von Reptilen and Batrachien Annam”. Tuy nhiên các
nghiên cứu ở thời kỳ này được các tác giả nước ngoài tiến hành chủ yếu điều tra
khu hệ lưỡng cư, bò sát, xây dựng danh lục lưỡng cư, bò sát các vùng: Tirant
(1985), Boulenger (1903), Smith (1921,1923,1924). Những công trình của Bourret
R. và các cộng sự trong khoảng thời gian từ 1924 đến 1944 đã thống kê, mô tả được
177 loài và loài phụ Thằn lằn, 245 loài và loài phụ Rắn, 44 loài và loài phụ Rùa trên
toàn Đông Dương, trong đó có nhiều loài của miền Bắc Việt Nam (Bourret R. 1936,
1941, 1942). Đáng chú ý là những công trình nghiên cứu Bourret R. có nói nhiều

Hoàng Liên Sơn (Phan-xi-păng) ở khu vực Tây Bắc, dãy Bắc Sơn và Yên Tử ở khu
vực Đông Bắc, dải Trường Sơn và khu vực Tây Nguyên ở miền Trung và vùng lưu
vực sông Cửu Long ở Miền Nam. Các khu vực này hiện còn tồn tại một diện tích
khá lớn các khoảnh rừng tự nhiên và cần tiếp tục được nghiên cứu. Sự ĐDSH mới
này xuất phát từ việc nhận biết các loài mới thông qua những phân tích về hình thái
và di truyền của các loài riêng biệt (các loài chưa rõ nguồn gốc) mà trước đây được
coi là các quần thể chưa phân hóa của một loài duy nhất có phân bố rộng. Các nhà
nghiên cứu đã khám phá ra sự phong phú tiềm ẩn trong những nhóm loài của Ếch


8

xanh (Rana livida), Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons) và Rùa dứa (Cyclemys
dentata). Nguồn thứ hai làm tăng nhanh số lượng loài có trong nước là những loài
trước kia chưa được tìm thấy tại Việt Nam như Thằn lằn cá sấu (Shinisaurus
crocodilurus) là loài chuyên sống trên địa hình núi đá vôi được tìm thấy ở vùng
Đông Bắc của Việt Nam vào năm 2003 và trước đây chỉ biết đến ở tỉnh Quảng Tây
của Trung Quốc [19,3].
Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996) [12], công bố danh lục lưỡng cư, bò
sát Việt Nam gồm 256 loài bò sát và 82 loài lưỡng cư (chưa kể 14 loài bò sát và 5
loài ếch nhái chưa xếp vào danh lục).
Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2005) [14], công
bố danh lục lưỡng cư, bò sát Việt Nam gồm 162 loài lưỡng cư và 296 loài bò sát.
Trong những năm qua có nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã tiến
hành nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư, bò sát ở những địa phương, đặc biệt chú ý đến
các VQG, Khu BTTN và khu rừng đặc dụng. Khu vực Bắc Trung Bộ - Bắc Trường
Sơn đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố. Từ năm 1980 đến năm 2006 đã
có 23 loài mới được mô tả dựa trên mẫu chuẩn thu được ở khu vực này, trong đó có 8
loài lưỡng cư, 7 loài thằn lằn, 5 loài rắn, 3 loài rùa. Tất cả những loài mới thuộc nhóm
lưỡng cư, bò sát này cho đến nay mới chỉ được biết ở một vài địa điểm [19].

loài thuộc 14 họ của 2 bộ. Kết quả này đã bổ sung cho VQG Bạch Mã 3 họ (họ Thằn
lằn rắn Anguidae, họ Rùa đầu to Platysternidae, họ Rùa núi Testudinidae), 39 loài (14
loài lưỡng cư, 25 loài bò sát).
Năm 2013 là năm khá thành công đối với các nhà nghiên cứu động vật học
của Việt Nam và quốc tế với 15 loài bò sát và ếch nhái mới cho khoa học được phát
hiện ở nước ta. Các công trình công bố về những khám phá mới này trên các tạp chí
khoa học quốc tế không chỉ khẳng định tiềm năng đa dạng sinh học cao của Việt
Nam mà còn chứng minh nỗ lực nghiên cứu, hợp tác có hiệu quả của các nhà khoa
học Việt Nam và nước ngoài. Trong năm 2013, phát hiện 5 loài ếch nhái và 10 loài
bò sát mới cho khoa học được các nhà nghiên cứu công bố dựa trên các tư liệu khoa
học thu thập được trong các chuyến khảo sát ở Việt Nam hay tham khảo mẫu vật
đang lưu giữ ở các bảo tàng động vật. Loài mới được phát hiện ngay trong vườn nhà
ở vùng đồng bằng hay trong các khu rừng nhiệt đới ở vùng núi cao. Mặc dù chưa có
số liệu thống kê chính thức nhưng số loài bò sát và ếch nhái mới được phát hiện ở


10

Việt Nam trong 5 năm gần đây có thể xếp ở vị trí đầu bảng trong các nước ở khu
vực Đông Nam Á. Các công trình công bố về những phát hiện mới liên tục được
xuất bản chứng tỏ hiệu quả hợp tác trong nghiên cứu của các nhà khoa học Việt
Nam và thế giới trong lĩnh vực khám phá đa dạng sinh học ở các nước nhiệt đới, nơi
có tiềm năng đa dạng sinh học rất cao nhưng cũng đang chịu nhiều áp lực do tác
động tiêu cực của quá trình phát triển kinh tế và biến đổi khí hậu [20].
Năm 2010, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Cham Chu cùng các chuyên gia tư
vấn về động thực vật rừng của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật và trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên đã triển khai hoạt động điều tra nhanh hiện trạng đa
dạng sinh học nhằm xác định lại hiện trạng phân bố của các loài quan trọng, trên cơ
sở đó đề xuất được những hoạt động cần thiết để quản lý, bảo tồn các loài có nguy
cơ tuyệt chủng cao. Kết quả nghiên cứu bước đầu đã xác định 11 loài bò sát, trong

Cham Chu. Có ba đỉnh cao nằm ở trung tâm gồm: Cham Chu (1.587m), Pù Loan
(1.154m) và Khau Vuông (1.218m). Có ba kiểu địa hình:
- Địa hình miền núi: Được hình thành do sự phát triển của các dãy núi theo
dạng tỏa tia ra xung quanh núi Cham Chu; Phía Đông Bắc là dãy Khau Coóng; Phía
Tây là núi Tốc Lũ và Lăng Đán; Phía Tây Bắc là núi Khuổi My, núi Cánh Tiên và
Quân Tinh.
- Địa hình đồng bằng: Là 2 giải đất hẹp nằm dọc hai bên núi Cham Chu,
phân bố ở hai xã Trung Hà và Hà Lang (phía đông), và hai xã Yên Thuận và Phù
Lưu (phía Tây).
- Địa hình ngập nước: Cũng được coi là khá quan trọng, tuy diện tích không
lớn nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tiểu khí hậu và kiểu sinh
thái ngập nước, là nguồn cung cấp nước, hình thành hệ sinh thái tự nhiên giàu tính
đa dạng sinh học của khu vực; địa hình này tồn tại ở các dạng: Ao, hồ, sông, suối và
các thủy vực.
* Địa chất và thổ nhưỡng
Đá mẹ chủ yếu là đá phiến, đá cát kết, đá phiến kết tinh và các loại đá biến
chất khác. Có hai loại đất chính: Đất Feralit đỏ vàng trên sa phiến thạch và đất đá
vôi thung lũng. Loại này gồm có đất xám Feralit phát triển trên phiến xét và đất
Feralit phát triển do biến đổi trồng lúa.


12

- Đất Feralit màu đỏ vàng trên núi trung bình, núi cao: Phân bố tập trung ở
độ cao từ 700 – 1700m so với mặt nước biển, loại đất này có quá trình Feralit yếu,
quá trình mùn hóa tương đối mạnh, là vùng phân bố của các thảm rừng tự nhiên.
- Đất Feralit màu vàng trên núi thấp: Phân bố ở độ cao từ 300 – 700m, hình
thành trên các loại đá mẹ sa thạch, phiến thạch; vùng phân bố thảm rừng tự nhiên
phục hồi sau khai thác.
- Đất đá vôi thung lũng: Đất có tính kiềm, được hình thành từ sản phẩm

phía Tây Nam RĐD Cham Chu.
2.3.1.4. Tài nguyên rừng
* Diện tích rừng và các loại đất đai
Căn cứ vào kết quả rà soát điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng và quy hoạch
bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Tuyên Quang đến năm 2020. Diện tích rừng và các
loại đất đai trong khu rừng đặc dụng Cham Chu là 15.262,3 ha, phân theo các huyện
như sau:
Bảng 2.1: Diện tích rừng và các loài đất đai tại khu RĐD Cham Chu
Đơn vị:ha
Cơ cấu đất

TT
A
1
2
2.1
2.2
B
C

Diện tích tự nhiên
Đất nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp
Rừng đặc dụng
Đất có rừng
Rừng tự nhiên
Rừng trồng
Đất chưa có rừng
Cỏ, lau lách (Ia)
Cây bụi, gỗ rải rác (Ib)

157,4
9.093,9
6.168,4
9.015,3
6.103,9
9.010,0
6.059,8
5,3
44,1
78,6
64,5
33,4
11,5
45,2

8,9
0,5

29,0
54,5

Diện tích đất rừng đặc dụng, diện tích đất có rừng 15.119,2 ha, chiếm 99,1%
(rừng tự nhiên 15.096,8 ha, rừng trồng 49,4 ha); diện tích đất chưa có rừng 143,1
ha, chiếm 0,9%;
Đất nông nghiệp 15.498,1ha, chiếm 99,40 % diện tích tự nhiên;


14

Đất phi nông nghiệp 37,9 ha, chiếm 0,24% diện tích tự nhiên (đất ở, đường,

5.648,9
6.071,5
945,2
119,4
49,4
143,1

Theo các nhà khoa học, khu hệ thực vật ở khu rừng đặc dụng Cham Chu là
nơi giao lưu và hội tụ của nhiều luồng thực vật (luồng thực vật Hymalaya – Vân
Nam – Quý Châu, luồng thực vật Malaysia – Indonesia, luồng Indica – Myanma và
luồng thực vật bản địa Bắc Việt Nam – Nam Trung Hoa);
Trên cơ sơ số liệu kế thừa của Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, khu
rừng đặc dụng Cham Chu có 906 loài thực vật thuộc 425 chi, 136 họ, 5 ngành thể
hiện ở bảng 2.3 dưới đây:


15

Bảng 2.3. Thành phần thực vật ở khu rừng đặc dụng Cham Chu
Đơn vị phân loài

Số loài

Số chi

Họ

Ngành Thông đất – Lycopodiophyta
Ngành Mộc tặc - Equisetophyta


117
94

Lớp một lá mầm – Liliopsida
129
83
23
Cộng
906
425
136
(Nguồn: Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các loài bị đe dọa toàn cầu và các
sinh cảnh quan trọng trong khu rừng đặc dụng Cham Chu năm 2009, Viện Sinh thái
và Tài nguyên sinh vật)
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của các nhà khoa học, khu rừng đặc dụng
Cham Chu không những đa dạng về các kiểu hệ sinh thái rừng mà hệ thực vật ở đây
còn phong phú và đa dạng về thành phần loài; về thành phần loài thực vật có mạch
ở đây lên đến 1.500 – 2.000 loài, trong đó 10 loài đặc hữu, 58 loài quý hiếm, thuộc
55 chi, 36 họ;
Sách đỏ Việt Nam năm 2007: Có 43 loài thuộc 40 chi, 33 họ.
Danh lục đỏ của IUCN năm 2014: Có 23 loài thuộc 25 chi, 16 họ.
Nghị định 32/2006/NĐ – CP của Chính phủ về quản lý các loài thực vật
rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm: Có 16 loài thuộc 15 chi, 15 họ. Nhiều loài
thực vật có giá trị kinh tế cao như: Hoàng Đàn, Pơ Mu, Thông tre, Nghiến và Trai
Lý, Chò chỉ, Gù hương...
* Tài nguyên động vật
Theo các nhà khoa học, đến nghiên cứu tại khu rừng đặc dụng Cham Chu
bước đầu đã ghi nhận được 37 loài thú trong số đó có 21 loài nằm trong sách đỏ
Việt Nam (2007) từ cấp VU trở lên, 47 loài chim trong số đó có 2 loài nằm trong
sách đỏ Việt Nam (2007) từ cấp VU trở lên, 11 loài bò sát đã được ghi nhận trong

42

Số loài
38
47
11
95

(Nguồn: Kết quả điều tra, đánh giá hiện trạng các loài động, thực vật rừng nguy
cấp, quý hiếm tại khu rừng đặc dụng Cham Chu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên
Quang, năm 2014)
2.3.2. Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội
2.3.2.1. Điều kiện dân sinh
* Dân số, dân tộc
Theo thống kê dân số tính hết năm 2013, dân số trong vùng là 29.703 nhân
khẩu, sinh sống tại 6.832 hộ gia đình, trên địa bàn 83 thôn bản, trong 5 xã, thuộc 2
huyện Hàm Yên và Chiêm Hóa. Mật độ dân sống trong vùng bình quân là: 74
người/km2, mật độ dân cư đông nhất là xã Hòa Phú (101 người/km2), thấp nhất là xã
Hà Lang (44 người/km2).
Toàn khu vực có 8 dân tộc cùng sinh sống gồm: Tày, Dao, Kinh, Hoa, Nùng,
La Chí, Cao Lan và H’Mông, trong đó: Dân tộc Tày với 15.522 người (chiếm
52,3%), sau đó đến dân tộc Dao với 7.343 người (chiếm 24,7%), tiếp đến là dân tộc
Kinh 4.749 người (chiếm 16,0%), các dân tộc khác 2.089 người, chiếm 7,0% dân số
toàn vùng cũng đóng góp vai trò không kém phần quan trọng đối với quá trình xây
dựng và phát triển khu rừng đặc dụng Cham Chu. Mỗi dân tộc có phong tục, tập
quán canh tác và phương thức sử dụng đất khác nhau. Chính sự khác nhau đó đã tạo
nên sự khác biệt trong việc tác động đến tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên rừng của
khu rừng đặc dụng Cham Chu. Bởi vậy, cần có những chính sách phù hợp để tạo



nhiên, do phát triển diện tích cây ăn quả trong điều kiện quy hoạch chưa đồng bộ


18

nên dẫn đến tình trạng xâm canh vào diện tích rừng là khá phổ biến tại các phân khu
phục hồi sinh thái.
Bên cạnh các hoạt động trồng trọt; người dân trong vùng còn phát triển
chăn nuôi gia súc (trâu, bò, ngựa, dê…), gia cầm (vịt, gà, ngan…) và nuôi cá…
Chính những sản phẩm này cũng bổ sung nguồn thu kinh tế cho hộ gia đình. Tuy
nhiên, việc chăn nuôi chỉ diễn ra và dừng lại ở hình thức hộ gia đình và mang tính
tự phát là chính. Bởi vậy, rất cần phải có những diện tích dành cho quy hoạch
vùng chăn thả…cho nhân dân, đặc biệt là các thôn bản nằm trong khu phục hồi
sinh thái để giảm các áp lực bất lợi tới toàn cảnh tự nhiên của rừng từ loại hình
chăn nuôi tự phát này.
* Sản xuất công nghiệp và dịch vụ
Sản xuất công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ rất nhỏ hầu như không đáng kể
trong nguồn thu của các xã nằm trong khu vực. Các hoạt động sản xuất nông lâm
nghiệp chiếm vai trò chủ đạo. Sản xuất hàng hóa trong lĩnh vực thủ công nghiệp
đang từng bước hình thành; một số hộ gia đình có điều kiện kinh tế bắt đầu hình
thành mạng lưới dịch vụ buôn bán; sản phẩm chủ yếu là các nhu yếu phẩm tiêu
dùng, vật liệu xây dựng (xi măng, sắt thép…), vật tư nông nghiệp (phân bón, thuốc
trừ sâu, dụng cụ nông nghiệp…).
* Sản xuất lâm nghiệp
Hoạt động sản xuất lâm nghiệp chủ yếu được thực hiện trong vùng đệm và
phân khu phục hồi sinh thái khu của rừng đặc dụng Cham Chu.
Đối với vùng lõi, sau 14 năm thành lập đến nay, Hạt Kiểm lâm rừng đặc
dụng Cham Chu đã giao khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi và trồng bổ sung trong
phân khu phục hồi sinh thái. Nhằm tạo công ăn việc làm cho các hộ gia đình đang
sống đan xen trong rừng. Thông qua ngân sách Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng với vai

Toàn khu có 77 thôn bản có điện lưới quốc gia. Hệ thống đường dây trung
thế, hạ thế, trạm biến áp các loại từng bước được cải tạo, nâng cấp và xây mới. Tuy
nhiên, một số đường dây đã bị xuống cấp, tiêu hao điện năng còn cao đã ảnh hưởng
đến việc cấp điện, sự cố mất điện sinh hoạt ở một số khu vực vẫn còn xảy ra. Hiện
tại, hệ thống đường dây trung thế, hạ thế, trạm biến áp các loại đang từng bước
được cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới.


20

* Tình hình an ninh - quốc phòng
An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn RĐD trong những năm
qua khá ổn định, công tác dân tộc có những bước phát triển khá rõ nét. Chương
trình quốc gia phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy, kịp thời giải quyết các
vụ việc trên địa bàn, không để phát sinh các vụ việc phức tạp, đảm bảo công tác an
ninh trật tự, an toàn xã hội địa phương.
2.3.2.4. Tình hình văn hóa, giáo dục và y tế
* Văn hóa – xã hội
Mạng lưới thông tin văn hóa khá phát triển; 100% số xã đều thu được tín
hiệu phát thanh truyền hình, 74 thôn có hệ thống loa truyền thanh, có 4 điểm bưu
điện văn hóa xã; có 8.099 hộ sử dụng điện thoại. Toàn vùng có 70 nhà văn hóa thôn
bản, hoạt động văn hóa từng bước đi vào nề nếp, các giá trị văn hóa dân tộc được
bảo tồn, đặc biệt là duy trì và tổ chức tốt các lễ hội truyền thống của dân tộc (chọi
trâu, xuống đồng…); hầu hết các thôn bản đều đã xây dựng hương ước, trên 70%
gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa…
* Giáo dục
Công tác giáo dục - đào tạo có bước chuyển biến rõ rệt về cả chất và lượng
trên tất cả các bậc học. Đội ngũ giáo viên được chú trọng nâng cấp trình độ chuyên
môn giảng dạy. Năm học 2013 – 2014, toàn vùng có 83 thôn có nhà trẻ mẫu giáo, 6
trường tiểu học, 5 trường trung học cơ sở; tỷ lệ học sinh đến tuổi đi học đạt 98%; tỷ

• Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng
Cham Chu.
• Nghiên cứu về đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố lưỡng cư, bò sát tại rừng
đặc dụng Cham Chu.
• Nghiên cứu tính đa dạng về giá trị các loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc
dụng Cham Chu.
• Thực trạng công tác quản lý nguồn tài nguyên lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc
dụng Cham Chu.
• Đề xuất một số giải pháp cho công tác bảo tồn các loài lưỡng cư, bò sát tại
rừng đặc dụng Cham Chu.


22

3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Ngoại nghiệp
3.4.1.1. Kế thừa chọn lọc các tài liệu đã công bố
Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thủy văn, đất đai, địa hình, tài
nguyên rừng tại địa bàn nghiên cứu.
Tư liệu về điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội của địa phương năm 2014.
Tham khảo, kế thừa các tài liệu, báo cáo của các nghiên cứu trước đây. Tư liệu
tham khảo là danh lục lưỡng cư, bò sát, tình hình khai thác, sử dụng tài nguyên rừng,
hiện trạng tài nguyên rừng, tài nguyên động vật hiện có tại khu vực nghiên cứu.
3.4.1.2. Phương pháp phỏng vấn
Đối tượng phỏng vấn: Cán bộ kiểm lâm, thợ săn và người dân địa phương.
Trong quá trình điều tra chúng tôi sẽ phỏng vấn 5 cán bộ kiểm lâm và 25 người dân
địa phương thường xuyên đi rừng.
- Phỏng vấn người dân/thợ săn
Phỏng vấn người dân được tiến hành ở các làng bản, hoặc ngay trên nương rẫy
nếu gặp họ, phương pháp này đã cung cấp được một số thông tin có ý nghĩa quan trọng

Kết quả phỏng vấn tổng hợp theo biểu sau:
Mẫu bảng 3.1: Phiếu phỏng vấn người dân và thợ săn
Tên:...........................................................................................................................
Tuổi: .................................................. Dân tộc: ........................................................
Trình độ: ...................................................................................................................
Nghề nghiệp: ............................................................................................................
Địa chỉ: .....................................................................................................................
Thời gian phỏng vấn: ...............................................................................................
Người phỏng vấn ......................................................................................................
TT
1
2
3
...

Tên loài

Số lượng bắt
được

Thời điểm

Mô tả đặc

Địa điểm

điểm loài

bắt được


25

Bảng 3.1 Các tuyến điều tra ở Rừng đặc dụng Cham Chu
Chiều
Tọa độ
Tuyến khảo sát
Sinh cảnh đặc trưng
dài (*)



E 104058’572’’
Cao Đường - Đá
Trắng

N 22017’302’’
4h00

Rừng nguyên sinh cây
gỗ lớn trên núi đá vôi

5h00

Rừng ven suối, rừng
thứ sinh, rừng nguyên
sinh cây gỗ lớn trên
núi đá vôi

4h00


5h00

Rừng thứ sinh trên
núi đất, rừng nguyên
sinh trên núi đá vôi

Lăng Đán - Lũng
Giàng

E 105004’456’’
N 22012’345’’
E 105004’556’’
N 22012’445’

4h00

Rừng thứ sinh trên
núi đất, rừng nguyên
sinh trên núi đá vôi

E 104058’597’’
N 22018’408’’
E 104058’563

Yên
Thuận

Cao Đường Khuổi Cùng

0

26

- Quan sát trực tiếp:
Đây là phương pháp quan trọng để thu thập thông tin cụ thể trên thực địa và
kiểm tra những nguồn thông tin thu được, việc quan sát được thực hiện trên các
tuyến điều tra để xác định sự có mặt của các loài lưỡng cư, bò sát. Nhóm điều tra di
chuyển dọc theo các tuyến, trong quá trình di chuyển trên tuyến, người điều tra
quan sát về hai bên của tuyến và ghi nhận sự có mặt của các loài lưỡng cư, bò sát
qua dấu chân, tiếng kêu, phân, hang ổ… Việc quan sát có thể bằng mắt thường hoặc
ống nhòm. Thời gian điều tra ban đêm đối với lưỡng cư vào thời điểm từ 16h - 23h,
điều tra bò sát vào thời điểm 15h - 23h.
- Cách phát hiện
+ Tìm đến nơi sống cụ thể hoặc nơi ẩn tạm thời của loài cần điều tra.
+ Lắng nghe tiếng kêu, tiếng động, bước nhảy.
Quan sát trực tiếp bằng mắt thường hay ống nhòm để nhận diện hình dạng,
màu sắc, cách di chuyển.
+ Ban đêm dùng đèn pin, đèn ắc quy soi tìm.
+ Có thể gây khua động hay vạch tìm trong hang đất, khe đá, lá cây.
Kết quả điều tra thực địa được tổng hợp theo phiếu điều tra sau:
Mẫu bảng 3.2: Mẫu bảng điều tra theo tuyến
Tên tuyến: .................................................................................................................
Người điều tra: .........................................................................................................
Ngày điều tra: ...........................................................................................................

STT
1
2
3
...



Năm bắt được

1
2
3
4
...
3.4.2. Ngoại nghiệp
Dựa vào những kết quả nghiên cứu tiến hành tổng hợp, phân tích các số
liệu điều tra ngoại nghiệp và viết báo cáo. Xây dựng danh lục lưỡng cư, bò sát ở
rừng đặc dụng Cham Chu dựa vào khóa định loại bò sát của GS. Đào Văn Tiến,
danh lục bò sát và ếch nhái của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1986), Nguyễn
Quảng Trường (2005), và “Sách đỏ Việt Nam” 2007, IUCN (2015), Nghị định
32/2006/NĐ-CP
Mẫu bảng 3.4: Tính đa dạng lưỡng cư, bò sát theo các bậc phân loại
tại RĐD Cham Chu

STT
1
2
3

Tên bộ
Tên phổ thông
Tên khoa học

Họ
n



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status