BÀI TẬP NHÓM
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY. TRÌNH BÀY
SUY NGHĨ CỦA NHÓM VỀ VAI TRÒ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH XÂY
DỰNG THỂ CHẾ NÀY
NHÓM 2
STT
1
2
3
4
5
Họ và tên
Phạm Thị Thảo
Đào Thị Phương
Lê Quỳnh Trang
Lê Thị Yến
Lê Thị Ánh Tuyết
MSV
11144036
11143537
11144513
11145120
11144826
6
7
8
A. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
I. Thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa
1. Định nghĩa
- Thể chế kinh tế là một bộ phận cấu thành của hệ thống thể chế xã hội, tồn tại bên cạnh các bộ phận khác
như thể chế chính trị, thể chế giáo dục,… Thể chế kinh tế nói chung là một hệ thống các quy phạm pháp
luật nhằm điều chỉnh các chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế. Nó bao
gồm các yếu tố chủ yếu là các đạo luật, quy chế, quy tắc, chuẩn mực về kinh tế gắn với các chế tài về xử lý
vi phạm, các tổ chức kinh tế, các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế, truyền thống văn hóa và văn minh
kinh doanh, cơ chế vận hành nền kinh tế
- Thể chế kinh tế thị trường là một tổng thể bao gồm các bộ quy tắc, luật lệ và hệ thống các thực thể, tổ
chức kinh tế được tạo lập nhằm điều chỉnh hoạt động giao dịch, trao đổi trên thị trường. Bao gồm:
+
+
+
Các quy tắc về hành vi kinh tế diễn ra trên thị trường- các bên tham gia thị trường với tư cách là
các chủ thể thị trường
Cách thức thực hiện các quy tắc nhằm đạt được mục tiêu hay kết quả mà các bên tham gia thị
trường mong muốn
Các thị trường – nơi hàng hóa được giao dịch, trao đổi trên cơ sở các yêu cầu, quy định của luật lệ
- Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Do đó,
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hiểu là thể chế kinh tế thị trường, trong đó
các thiết chế, công cụ và nguyên tắc vận hành được tự giác tạo lập và sử dụng để phát triển lực lượng sản
xuất, cải thiện đời sống nhân dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh
trong năm lĩnh vực:
+
+
+
+
+
Xác định các chủ thể pháp lý, tạo cho họ các quyền (năng lực pháp lý) và hành động (khả năng
kinh doanh) mang tính thống nhất.
Quy định các quyền về kinh tế (quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền chuyển nhượng, quyền thừa
kế v.v…).
Về hợp đồng kinh tế, các nguyên tắc cơ bản của Luật hợp đồng dựa trên cơ sở thoả thuận, trên cơ
sở tự nguyện của các bên, Luật hợp đồng quy định quyền hoạt động của các chủ thể pháp lý, tức
là các hành vi pháp lý.
Về sự bảo đảm của nhà nước đối với các điều kiện chung của nền kinh tế có các Luật bảo hộ lao
động, Luật môi trường, Luật về cácten, v.v.; các quy định về mặt xã hội có Luật bảo hiểm xã hội
v.v…
Về luật kinh tế đối ngoại phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Kế hoạch và thị trường
Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa đòi hỏi phải sử dụng hai công cụ quản lý cơ bản là kế hoạch và thị trường. Việc sử dụng hai công cụ
quản lý này không thể tách rời nhau mà là sự vận dụng quy luật phát triển có kế hoạch để điều tiết tác
động của quy luật giá trị và vận dụng quy luật giá trị nhằm quản lý kinh tế phát triển theo kế hoạch.
Chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước không có nghĩa là từ bỏ kế hoạch hoá mà là chuyển kế hoạch hoá thuần tuý pháp lệnh sang kế hoạch
hoá định hướng là chủ yếu, sử dụng các đòn bẩy kinh tế và lực lượng vật chất trong tay Nhà nước để bảo
đảm các tỷ lệ cân đối trong nền kinh tế quốc dân. Từ chỗ đối lập kế hoạch với thị trường, ngày nay chúng
vốn gốc lẫn lợi tức.
Quan hệ tín dụng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội phản ánh hệ thống lợi ích của nền kinh tế
nhiều thành phần. Các quan hệ tín dụng này vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây cũng là lĩnh vực đấu tranh gay gắt, đòi hỏi quan hệ tín dụng nhà
nước phải không ngừng lớn mạnh để đảm nhiệm vai trò chủ đạo trong quan hệ tín dụng toàn xã hội.
- Ngân hàng:
Ngân hàng hiểu theo nghĩa cổ điển là xí nghiệp kinh doanh tiền tệ thực hiện nghiệp vụ huy động vốn, cho
vay vốn và thanh toán.
5
Ở nước ta, trong cơ chế cũ - tập trung quan liêu, bao cấp chỉ có một loại ngân hàng duy nhất là Ngân hàng
Nhà nước có Chi nhánh ở các tỉnh, huyện, vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, vừa trực
tiếp kinh doanh tiền tệ.
Chuyển sang cơ chế mới - cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, hệ thống ngân hàng nước ta
được tổ chức thành hai cấp hay hai phân hệ là: Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại.
- Các công cụ điều tiết kinh tế đối ngoại
Để thực hiện tốt chiến lược kinh tế mở, xúc tiến các quan hệ kinh tế đối ngoại, Nhà nước phải sử dụng
nhiều công cụ, trong đó chủ yếu là: thuế xuất nhập khẩu hạn ngạch (quota), tỷ giá hối đoái, bảo đảm tín
dụng xuất khẩu, trợ cấp xuất khẩu, v.v..
Thông qua những công cụ này, Nhà nước có thể khuyến khích việc xuất, nhập khẩu; đồng thời lại bảo hộ
một cách hợp lý nền sản xuất nội địa, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, thu hút vốn đầu tư
của nước ngoài ngày càng nhiều, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
* Cách chơi: là cơ chế thực thi luật chơi và cơ chế vận hành nền kinh tế
- Cơ chế thị trường là tổng thể các yếu tố cung, cầu, giá cả và thị trường cùng các mối quan hệ cơ bản vận
động dưới sự điều tiết của các quy luật thị trường trong môi trường cạnh tranh nhằm mục tiêu duy nhất
là lợi nhuận
- Cơ chế thị trường là quá trình tương tác lẫn nhau giữa các chủ thể (hoạt động) kinh tế trong việc hình
thành giá cả, phân phối tài nguyên, xác định khối lượng và cơ cấu sản xuất. Sự tương tác của các chủ thể
3. Cấu trúc thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có cấu trúc tương tự như nền kinh tế thị trường
nhưng có mục đích cụ thể là tính định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó ta có các đặc trưng chủ yếu của kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta:
- Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất hiện
đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối
nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
+
+
+
Về sở hữu sẽ phát triển theo hướng còn tồn tại các hình thức sở hữu khác nhau, nhiều thành
phần kinh tế khác nhau trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Tiêu chuẩn căn bản để
đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy phát
triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân và thực hiện công bằng xã hội nên phải từng
bước xác lập và phát triển chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất chủ yếu một cách vững
chắc, tránh nóng vội xây dựng ồ ạt mà không tính đến hiệu quả như trước đây.
Về quản lý, trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải có sự quản lý của Nhà nước
xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, kế
hoạch, chính sách đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, các hình thức kinh tế và phương pháp
quản lý kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy tính tích cực và
hạn chế những mặt tiêu cực, khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao
động của toàn thể nhân dân.
Về phân phối, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện đa dạng hoá các hình thức
phân phối. "Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng
thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội"
- Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường nước ta còn thể hiện ở chỗ tăng trưởng
nguyên tắc Nhà nước quản lý nền kinh tế theo các nguyên tắc của cơ chế thị trường; khẳng định nguyên
tắc bảo đảm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường; khẳng định nguyên tắc mở cửa, hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới.
- Việt Nam đã dần hình thành đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường, vận hành cơ
bản thông suốt, gắn kết với thị trường khu vực và quốc tế. Thị trường hàng hóa, dịch vụ đã có bước phát
triển và hoàn thiện về quy mô, cơ cấu hàng hóa - thị trường trong và ngoài nước, kết cấu hạ tầng thương
mại, dịch vụ, cơ chế quản lý, mức độ cạnh tranh. Quy mô thị trường trong nước liên tục tăng. Tính chung
trong hơn 15 năm qua, tốc độ tăng trưởng bình quân của thương mại bán lẻ luôn cao từ 2 -3 lần so với
tốc độ tăng trưởng bình quân của GDP cùng kỳ. Thị trường tài chính, tiền tệ phát triển khá mạnh và sôi
động. Bên cạnh kênh huy động vốn từ ngân hàng, thị trường chứng khoán đã bước đầu hình thành, góp
phần đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư. Đồng thời, hoạt động của thị trường bảo hiểm đã đóng góp tích cực
vào việc ổn định sản xuất và đời sống dân cư, huy động vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Tỷ giá đồng tiền, giá ngoại tệ, giá vàng cơ bản giữ được ổn định. Thị trường bất động sản đã có
bước phát triển nhất định, nhiều dự án khu nhà ở, khu đô thị mới với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng
xã hội tương đối đồng bộ đã được hình thành, góp phần đô thị hóa và dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Thị trường lao
động đã được hình thành trên phạm vi cả nước. Nguồn cung lao động khá dồi dào và gia tăng với tốc độ
8
nhanh. Quy mô lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên tăng từ 50,51 triệu người (cuối năm 2010) lên 53,65
triệu người (cuối năm 2013) và 53,8 triệu người (năm 2014). Thị trường khoa học - công nghệ đang hình
thành và phát triển, số lượng và giá trị giao dịch công nghệ có bước tiến đáng kể trong những năm gần
đây. Thị trường một số loại dịch vụ công cơ bản, nhất là về y tế, giáo dục có bước phát triển mới, huy
động được các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước tham gia.
- Khung khổ thể chế từng bước được hoàn thiện tạo điều kiện phát huy vai trò tích cực của các chủ thể
kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, trong tự do kinh doanh và cạnh tranh theo quy định của pháp luật:
Kinh tế nhà nước, hệ thống doanh nghiệp nhà nước từng bước được cơ cấu lại, cổ phần hóa theo Luật
Doanh nghiệp và đang giảm mạnh về số lượng. Đề án tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 20112015 được phê duyệt và tích cực thực hiện. Cổ phần hóa và thoái vốn đầu tư ngoài ngành theo cơ chế thị
trường được đẩy mạnh, trong đó tập trung vào các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Tính đến 30-9-2014
đã thực hiện sắp xếp lại 6.883 doanh nghiệp nhà nước, trong đó cổ phần hóa 4.136 doanh nghiệp. Kinh tế
nước ta. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam được mở rộng đến 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, kim ngạch
xuất khẩu giai đoạn 2011-2013 tăng bình quân 22,58%/năm. Môi trường kinh doanh ngày càng được cải
thiện, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Hiện nay, Việt Nam đã tham gia vào ba chuỗi giá trị có vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế
toàn cầu đó là: Chuỗi giá trị lương thực và an ninh lương thực; chuỗi giá trị năng lượng và an ninh năng
lượng (dầu mỏ, khí, than) và chuỗi giá trị hàng dệt may và da giầy. Một số sản phẩm của Việt Nam đã xác
lập được thương hiệu và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
- Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cơ bản gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa,
xây dựng con người, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường. An sinh xã hội cơ bản
được đảm bảo, hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội phát triển khá đồng bộ, đặc biệt là trong vấn đề
giảm nghèo, giải quyết việc làm(2), phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, chính sách ưu đãi người có công
với nước, trợ giúp xã hội, chính sách bảo hiểm y tế toàn dân, tạo điều kiện để người dân được tiếp cận
nhiều hơn các dịch vụ về văn hóa, y tế và giáo dục. Trong bối cảnh ngân sách nhà nước giảm do suy giảm
kinh tế, chi ngân sách nhà nước cho an sinh xã hội vẫn tăng qua các năm. Trong giai đoạn 2006-2010, kinh
phí ngân sách nhà nước chi cho công tác an sinh xã hội khoảng 471.000 tỷ đồng, đạt 20,1% tổng chi ngân
sách nhà nước. Đến giai đoạn 2011-2013, kinh phí ngân sách nhà nước chi cho công tác an sinh xã hội ước
đạt 913.400 tỷ đồng, chiếm khoảng 34,1% tổng chi ngân sách nhà nước, tăng 1,7 lần so với giai đoạn
2006-2010. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam được tăng dần, năm 2014, Việt Nam được xếp
thứ 116/188 nước, tức là ở thứ hạng trên của nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình.
- Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt
được những thành tựu quan trọng trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ
một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, đã xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra
môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển. Diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì
tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên (đạt ngưỡng thu nhập trung bình thấp),
đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đã thực sự trở thành lực lượng quan
trọng để thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Kinh tế đã đạt tốc độ tăng trưởng cao và được xếp vào nhóm tăng trưởng cao trên thế giới. Quy mô nền
kinh tế tăng nhanh, tổng sản phẩm quốc nội đến năm 2014 đã đạt khoảng 184 tỷ USD. Từ năm 2008, với
nhưng trong thực tế, các doanh nghiệp tư nhân gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn và thị
trường.
- Có sự khác biệt giữa nhận thức và phân định vai trò của các chủ thể kinh tế với vai trò thực sự của chủ
thể kinh tế ấy trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
+
+
Các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, nhưng hoạt động kém hiệu quả. Các doanh nghiệp
nhà nước đang nắm giữ 75% giá trị tài sản quốc gia, 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, 60% lượng
vốn tín dụng ngân hàng trong nước, hơn 70% tổng vốn vay nước ngoài, nhưng hiệu quả kinh
doanh thấp. chưa đến 40% doanh nghiệp nhà nước có mức lãi bằng hoặc cao hơn lãi suất cho vay
của ngân hàng thương mại, thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ đạt 8000 tỉ đồng trong tổng số 87000
tỉ đồng nộp ngân sách nhà nước năm 2003.
Hoạt động của khu vực DN tư nhân trong nước còn chưa được cải thiện đáng kể. Gần 70% DN
kinh doanh không có lãi và mặc dù kinh tế tư nhân trong nước đã đóng góp 50% GDP nhưng riêng
khu vực kinh tế cá thể đã đóng góp trên 33% GDP. Trong số các DN tư nhân đang hoạt động thì DN
lớn chỉ chiếm chưa đầy 2%, DN vừa chiếm 2%, còn lại 96% là DN nhỏ và siêu nhỏ. Quy mô nhỏ,
quản trị yếu kém, công nghệ thấp, khó tiếp cận nguồn vốn, sức cạnh tranh không cao... đang là
thực trạng phổ biến của các DN tư nhân trong nước.
11
+
Sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới chưa được cải thiện đáng kể,
sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO vẫn còn thấp, độ ổn định
chưa cao. Đa số các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ, thị phần hạn hẹp, tiềm lực khoa học công nghệ yếu, chưa có thương hiệu nổi tiếng; sản xuất hàng xuất khẩu chủ yếu làm gia công, nên
phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào; chất lượng nhân lực của doanh nghiệp Việt
Nam chưa đáp ứng được yêu cầu, tỷ lệ người lao động qua đào tạo thấp…
Đợt sốt giá gần đây nhất là năm 2007 và đầu 2008. Giá nhà đất tăng mạnh bởi tâm lý kỳ vọng sự
bùng nổ của nền kinh tế sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Ngoài ra, đợt sốt này còn do dòng vốn
nước ngoài đổ vào nhiều và chính sách tiền tệ trong giai đoạn này quá dễ dãi. Tín dụng trong giai
đoạn này cũng tăng trưởng rất mạnh khiến cho dòng tiền đổ mạnh vào bất động sản.
Cơn sốt này đã kéo theo một loạt doanh nghiệp ở tất cả các lĩnh vực khác nhau lao vào kinh
doanh bất động sản, còn các nhà đầu cơ thì tìm mọi cách để mua nhà đất vì siêu lợi nhuận. Tuy
nhiên, ngay sau đó nền kinh tế và đặc biệt là thị trường bất động sản đã phải trả giá:
ₒ Thừa hàng chục nghìn căn nhà
12
ₒ
ₒ
ₒ
Nợ xấu tại các tổ chức tín dụng hiện nay có tài sản đảm bảo là bất động sản và tài sản là
bất động sản hình thành trong tương lai chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng nợ xấu của hệ
thống ngân hàng. Ước tính con số này chiếm khoảng gần 60%, tương đương khoảng trên
132.000 ngàn tỷ đồng.
Số lượng tồn kho ngày càng leo thang sau mỗi năm. Theo số liệu mà CBRE đưa ra trong
báo cáo nghiên cứu thị trường năm 2012, năm 2009 con số căn hộ chưa bán được ở mức
khoảng 15.000 căn thì đến nay đã tăng lên gần gấp đôi xấp xỉ 28.000 căn.
Số lượng căn hộ bán được thấp hơn nhiều so với nguồn cung trên thị trường.
-> Như vậy, nếu tính trung bình giá trị trung bình của mỗi căn hộ khoảng 2 tỷ đồng/căn thì hiện ước tính
có khoảng 100.000 tỷ đồng đang “nằm chết” ở bất động sản.
thông lệ quốc tế phù hợp với điều kiện của Việt Nam,bảo đảm định hướng XHCN của nền kinh tế.
- Bảo đảm tính đồng bộ giữa các bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế, giữa thể chế kinh tế với thể chế
chính trị,xã hội; giữa nhà nước thị trường và xã hội.Gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và
công bằng xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệ môi trường.
- Kế thừa có chọn lọc thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại và kinh nghiệm tổng kết từ
thực tiễn đổi mới ở nước ta, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời giữ vững độc lập,
chủ quyền quốc gia, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
- Chủ động tích cực giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng, bức xúc, đồng thời phải có bước
đi vững chắc, vừa làm vừa tổng kết, rút kinh nghiệm.
- Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực và hiệu quả quản lý của nhà nước, phát huy sức mạnh
của cả hệ thống chính trị trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
2.3. Một số chủ trương tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN:
* Thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Cần phải thống nhất và nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và của toàn xã hội về những đặc trưng
căn bản của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tất cả vì mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, đẩy mạnh xoá đói, giảm
nghèo, khuyến khích mọi người dân làm giàu chính đáng, nâng cao đời sống nhân dân.
- Quyền tự do kinh doanh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được tôn
trọng.
- Các yếu tố sản xuất và sản phẩm đều trở thành hàng hoá, được lưu thông tự do trên thị trường.
- Hệ thống thị trường là yếu tố trực tiếp tác động, điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp, các chủ thể
kinh tế, là cơ sở cho sự phân bổ các nguồn lực kinh tế của xã hội.
- Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại được phát triển tới trình độ cao dưới chủ nghĩa
tư bản, nhưng tự bản thân nó không đồng nghĩa với chủ nghĩa tư bản. Thực tiễn đổi mới ở nước ta đã
chứng minh đầy sức thuyết phục về việc sử dụng kinh tế thị trường làm phương tiện xây dựng chủ nghĩa
xã hội.
- Phát triển nền kinh tế với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo.
- Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói, giảm nghèo; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y
doanh nghiệp, tạo động lực cho người lao động, doanh nghiệp và bảo đảm lợi ích quốc gia.
- Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp lại, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước để góp
phần giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa.
- Quản lý chặt chẽ các tổng công ty và một số tập đoàn kinh tế đa sở hữu có cổ phần chi phối của Nhà
nước ở những lĩnh vực quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với nền kinh tế.
- Thu hẹp những lĩnh vực độc quyền nhà nước, không biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh
nghiệp và xoá bỏ bao cấp của Nhà nước cho doanh nghiệp.
15
- Tiếp tục đổi mới, phát triển hợp tác xã và tổ hợp tác theo cơ chế thị trường, phù hợp với các nguyên tắc:
tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, cùng có lợi và phát triển cộng đồng.
- Khuyến khích tăng vốn góp, tăng vốn đầu tư phát triển, tăng tài sản và quỹ không chia trong hợp tác xã;
phát triển các tổ hợp tác, hợp tác xã đa dạng, sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
- Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho các tổ chức kinh tế tập thể tiếp cận các nguồn vốn; đào tạo cán bộ
quản lý, lao động; trợ giúp kỹ thuật và chuyển giao công nghệ; hỗ trợ phát triển thị trường, tham gia các
chương trình xúc tiến thương mại, các dự án đầu tư của Nhà nước.
- Thực hiện nghiêm túc, nhất quán chính sách khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư
nhân phát triển, tạo điều kiện để các doanh nghiệp tư nhân tiếp cận các nguồn lực trên nguyên tắc cạnh
tranh bình đẳng.
- Khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp nhà nước, bán cổ
phần cho người lao động tại doanh nghiệp.
- Tăng cường và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân để các doanh nghiệp tư nhân
tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật, cơ chế, chính sách của Nhà nước.
* Hoàn thiện cơ chế đảm bảo đồng bộ các yếu tố thị trường, phát triển đồng bộ các loại thị trường
- Các yếu tố thị trường:
+ Hoàn thiện thể chế về giá, cạnh tranh và kiểm soát độc quyền
+ Hoàn thiện cơ chế giám sát thị trường, xúc tiến thương mại đầu tư phù hợp với thông lệ quốc tế
+ Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, vệ sinh, an toàn thực phẩm, môi trường
Đưa mục tiêu giảm nghèo vào nội dung chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của
cả nước, của từng địa phương.
Tăng cường sự hỗ trợ của Nhà nước, của cộng đồng xã hội cho người nghèo, giúp người nghèo
giảm bớt khó khăn, vươn lên thoát nghèo, đồng thời khắc phục tư tưởng ỷ lại, bao cấp, trông chờ
vào Nhà nước.
- Hai là, xây dựng một hệ thống bảo hiểm xã hội đa dạng và linh hoạt, phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, theo hướng:
+
+
+
Mở rộng các hình thức bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện; bổ sung, sửa đổi các chính
sách, chế độ bảo hiểm xã hội còn bất hợp lý, bảo đảm quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã
hội.
Tách bảo hiểm xã hội đối với khu vực hành chính nhà nước ra khỏi khu vực doanh nghiệp và các
lĩnh vực khác.
Điều chỉnh lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội theo cơ chế tạo nguồn, độc lập tương đối với
chính sách tiền lương, giảm dần phần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; từng bước cải thiện đời sống
của người về hưu theo trình độ phát triển của nền kinh tế.
- Ba là, xây dựng hệ thống bảo trợ xã hội đa dạng và linh hoạt.
+
+
+
Phát triển đa dạng các hình thức tổ chức tự nguyện, nhân đạo, hoạt động không vì mục tiêu lợi
phát triển kinh tế - xã hội
- Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng về kinh tế
+
+
+
+
Đảng tăng cường chỉ đạo nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để xác định rõ và đầy đủ mô
hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là những nội dung của định hướng xã
hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường.
Coi trọng đổi mới tư duy, công tác tuyên truyền, giáo dục cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và các
tầng lớp nhân dân thống nhất nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo
sự đồng thuận cao trong xã hội.
Đổi mới công tác tổ chức và đào tạo cán bộ, đặc biệt là cán bộ trong lĩnh vực xây dựng và thực thi
thể chế kinh tế.
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, tiếp tục đổi mới phương thức
lãnh đạo của cấp uỷ đảng các cấp phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đổi mới, nâng cao vai trò và hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nước
+
+
+
Nhà nước vận dụng và phát huy mặt tích cực, hạn chế ngăn ngừa mặt tiêu cực của cơ chế thị
trường; tiếp tục tạo ra những tiền đề, điều kiện để nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội
B. VAI TRÒ CỦA SINH VIÊN KINH TẾ VỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG THỂ CHẾ KTTT ĐỊNH
HƯỚNG XHCN
I. Điểm mạnh, điểm yếu
1. Điểm mạnh
- Sinh viên chúng ta có sự thông minh, nhanh nhẹn và sáng tạo của tuổi trẻ.
- Giàu khát vọng, hoài bão, muốn thể hiện mình, muốn được làm chủ, làm giàu.
+
Theo thống kê của năm 2014, tỷ lệ khởi nghiệp của Viêt Nam chỉ dừng lại ở con số 2%, giảm so với
mức 4% của năm 2013 và thấp hơn nhiều so với mức bình quân 12,4 % của các nước phát triển.
Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của một sớ trường đại học hàng đầu nước Đức tại 44 nước,
Việt Nam xếp thứ 7 trong những quốc gia có tinh thần khởi nghiệp cao nhất thế giới.
- Năng động sáng tạo, chủ động học hỏi những cái mới, cái tiến bộ của nhân loại, có khả năng tiếp thu
nhanh nhạy những thành tựu khoa học công nghệ, kỹ thuật và quản lý hiện đại trên thế giới
- Đều nhận thức được vai trò, nhiệm vụ của mình trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế, có ý thức chuẩn
bị những hành trang cần thiết để tu thân, lập nghiệp. Luôn tự ý thức việc trải nghiệm thật nhiều để trau
dồi vốn kiến thức, kỹ năng,…
+
+
Có 1 số nhiều sinh viên trong qua trình đi học vẫn đi làm thêm ở các công ty mặc dù lương thấp
hoặc không lương. Tuy nhiên, đổi lại, họ có được nhiều lợi ích cho mình như: rèn luyện kĩ năng
làm nhiều việc cùng một lúc, làm đẹp CV, mở rộng các mối quan hệ, kĩ năng quản lý thời gian của
mình sẽ phát triển,trau dồi nghiệm giúp cho việc chuyển đổi sang “thế giới thực” trơn tru hơn
nhiều.
Sinh viên đại học Kinh tế quốc dân tích cực tham gia nhiều hoạt động Đoàn, Đội … (CLB sinh viên
nghiên cứu khoa học với những buổi sinh hoạt định kì hàng tháng cung cấp nhiều thông tin bổ ích
Nguyên nhân: nguyên nhân lớn là do giá trị định hướng của sinh viên. Một là, không có định
hướng, nghĩa là “ nước chảy chỗ trũng”. Hai là lạc hướng, không có phấn đấu để trở thành một
người có trình độ chuyên môn kĩ thuật, mà nghĩ đơn giản chỉ đi lo toan đời sống. Đa số đều định
hướng nghề nghiệp theo xu thế không phù hợp với sự phát triển của đất nước công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Thực tế, nước ta là nước nông nghiệp, nhưng số lượng người học về ngành nông
nghiệp lại rất thấp (chỉ hơn 2%). Và xu thế là không ai thích học nghề nông, lâm, ngư nghiệp,mà
đều đổ xô vào kinh tế, quản trị kinh doanh chứ không vào sản xuất.
- Sức khỏe và thể chất vẫn còn thấp hơn so với các nước trong khu vực.
- Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức kinh tế, quản lý, kiến thức pháp luật và ý
thức chấp hành pháp luật nhìn chung còn thấp.
+
+
Một số sinh viên ra trường với bảng điểm đẹp, bằng khá/giỏi, nhưng khi chuẩn bị thực tập thì bị
lung túng, không có kỹ năng do chỉ tập trung vào việc học ít tham gia các hoạt động.Hay 1 số sinh
viên, suốt những năm ngồi trên ghế giảng đường, ít khi vận động đầu óc. Bằng 1 sự may mắn nào
đó, họ qua được các môn chuyên ngành dễ dàng và tốt nghiệp, trong khi bản thân lại chẳng nắm
vững những khái niệm cơ bản về lập trình…..
Nguyên nhân : Phần lớn sinh viên hiện nay vẫn chưa thực sự năng động và thiếu tinh thần cầu
tiến. Họ bước vào đại học với bao hy vọng và ước mơ, nhưng họ chẳng bao giờ nắm bắt cơ hội
đến với mình. Một lý do khác khiến nhiều sinh viên “ có tiếng mà không có miếng” là do bệnh
thành tích, bằng cấp đã in sâu vào tư tưởng của họ, nên học chỉ vì điểm số chứ không vì đam mê.
Nhiều sinh viên thích đổ lỗi cho trường đại học của mình, họ cho rằng chính sự dễ dãi của trường
đại học khiến cho họ bị thụt lùi…..
- Kỹ năng mềm, kỹ năng sống còn yếu kém.
+
Dương (TPP) thiết lập một khu vực thương mại tự do, dỡ bỏ hàng rào thuế quan, qua đó tạo cho kinh tế
nước ta nhiều cơ hội. Các công ty nước ngoài vào Việt Nam sẽ tạo ra cơ hội việc làm nhiều hơn cho sinh
viên.
Cùng với những cơ hội đó thì cũng có những thách thức đặt ra cho sinh viên:
2. Thách thức
- Đất nước ta còn nghèo, chưa đủ khả năng, chưa tạo được điều kiện và môi trường học tập tốt nhất cho
sinh viên.
- Sự hội nhập sâu rộng dẫn đến sự phụ thuộc vào nhau giữa các nước tăng lên. Sự biến động của nền kinh
tế các nước có thể tác động mạnh đến nước ta. Vì vậy, đòi hỏi sinh viên phải có năng lực dự báo, phân
tích tình hình và có phản ứng chính xác để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tác động từ bên ngoài.
21
- Yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa ,hiện đại hóa và quá trình hội nhập quốc tế là những
thách thức đối với số đông trí thức nói chung và sinh viên nói riêng có trình độ học vấn thấp,không có
chuyên môn,nghề nghiệp và thiếu năng lực sáng tạo.Tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường,những
hiện tượng tiêu cực trong xã hội tác động mạnh mẽ vào từng lớp trí thức và sinh viên,là những thách thức
lớn đến giá trị đạo đức và lối sống của trí thức và sinh viên.
- Việc mở cửa hội nhập khiến cạnh tranh việc làm trở nên gay gắt hơn khi không chỉ cạnh tranh giữa sinh
viên trong nước mà còn với sinh viên, lao động nước ngoài. Cùng với đó đòi hỏi về kiến thức, kỹ năng,
ngoại ngữ cũng lớn hơn gây sức ép cho sinh viên.
III. Vai trò :
Sinh viên kinh tế tham gia vào các thành phần của cấu trúc thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa nên có vai trò trực tiếp quyết định đến thể chế này
- Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và mở
rộng hội nhập kinh tế quốc tế từng lớp trí thức tiếp nối các thế hệ cha anh đã và đang phát huy được
truyền thống vẻ vang của các thế hệ trẻ trước đây trong các lĩnh vực hoạt động của mình.Hàng chục hàng
-> Là những sinh viên trường Đại học kinh tế quốc dân-trường đào tạo đầu ngành về kinh tế, là công dân
của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam chúng tôi đã và đang được hưởng những thành quả tốt đẹp
của công cuộc đổi mới nền kinh tế nguyện sẽ góp một phần sức lực nhỏ bé để công cuộc đổi mới ngày
càng đi lên để giúp nền kinh tế nước nhà ngày càng phát triển.
23
Nguồn tham khảo:
1. Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam
2. http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/2015/33940/Mot-so-thanhtuu-trong-phat-trien-kinh-te-thi-truong-dinh.aspx
3. Số liệu https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=382&idmid=2&ItemID=15503 và
http://dantri.com.vn/xa-hoi/phat-trien-con-nguoi-cua-viet-nam-dang-cham-dan-va-tut-hau20160205151619028.htm
24