Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học người dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo - Pdf 35

1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 53 DTTS. Cộng đồng các
DTTS chủ yếu cư trú ở những vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới,... là những
vùng gặp nhiều khó khăn trong phát triển KT-XH. Vấn đề phát triển nguồn
nhân lực vùng DTTS nói chung, nguồn nhân lực GD người DTTS nói riêng
được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm: “Phát triển GD&ĐT, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số trong đó mở rộng dạy và học ngôn
ngữ dân tộc thiểu số; tăng cường số lượng, chất lượng đội ngũ GV là người dân
tộc thiểu số”; “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí: là khâu then chốt;
đáp ứng yêu cầu đổi mới GD&ĐT;”.
Tây Bắc là vùng khó khăn nhất và cũng nhiều cộng đồng các DTTS
sinh sống nhất trong cả nước, nên HS chủ yếu là người thuộc cộng đồng các
DTTS. Một trong những yếu tố làm hạn chế sự phát triển GD đó là vấn đề bất
đồng ngôn ngữ trong quá trình dạy và học. Đối với HS tiểu học ở nhà và trong
cộng đồng, các em giao tiếp bằng ngôn ngữ của dân tộc mình, các em được
sống trong môi trường văn hóa của dân tộc mình. Khác với những gì các em đã
biết ở nhà và cộng đồng, khi đến trường các em cần: GV nói cùng tiếng nói,
hiểu được văn hóa, phong tục tập quán của HS giúp cho các em được hòa nhập
với môi trường giáo dục, không còn bị rào cản ngôn ngữ, và cuối cùng là giúp
cho các em học Tiếng Việt và tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng và
thuận lợi.
Đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc trong những năm gần đây
phát triển khá nhanh về số lượng. Trong sự nghiệp phát triển GD, đội ngũ này
đã góp phần hoàn thành phổ cập GDTH, tạo cơ hội học tập cho trẻ em DTTS,
thực hiện công bằng trong GD cho trẻ em DTTS,…Tuy nhiên, ở họ còn nhiều
bất cập về năng lực và thực lực sư phạm. Nguyên nhân của bất cập là do đặc
điểm tộc người, vùng miền, lịch sử - văn hóa, KT-XH, điều kiện tiếp xúc thông
tin và môi trường giáo dục,…

chuẩn nghề nghiệp GV phù hợp với đặc thù riêng (tộc người và vùng miền) và
yêu cầu đổi mới GD của từng dân tộc/đa dân tộc và văn hóa/đa văn hóa trong
cộng đồng các DTTS theo từng vùng, tiểu vùng, tác động đồng bộ vào các khâu
cơ bản của quá trình phát triển đội ngũ GVTH người DTTS thì sẽ góp phần
phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc, đáp ứng yêu cầu đổi mới
GD&ĐT, đồng thời đóng góp kinh nghiệm cho các vùng DTTS có điều kiện
KT-XH tương ứng có thể tham khảo.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Chủ thể quản lí: Phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc
liên quan đến nhiều chủ thể quản lí, trong luận án này cấp quản lí trọng tâm mà
đề tài nghiên cứu là cấp Sở GD&ĐT.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ
GVTH người DTTS theo tiếp cận phát triển nguồn nhân lực; Khảo sát, đánh giá
thực trạng phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc trong 3-5 năm
học gần đây (tập trung vào các DTTS bản địa chiếm số đông ở các tỉnh vùng
Tây Bắc như dân tộc Mường, Mông, Tày, Thái); Đề xuất các giải pháp phát
triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc có thể áp dụng sau năm 2015.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
(1). Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ GVTH người DTTS
theo tiếp cận phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh đổi mới giáo dục; (2).
Đánh giá thực trạng đội ngũ GV, phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng
Tây Bắc; (3). Đề xuất một số giải pháp để phát triển đội ngũ GVTH người
DTTS vùng Tây Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới GD&ĐT; (4). Khảo sát, thăm dò
tính cần thiết, tính khả thi về các giải pháp do đề tài đề xuất; và thử nghiệm một
số nội dung của hai giải pháp do đề tài đề xuất.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
7.1.1. Tiếp cận hệ thống: Phát triển đội ngũ GVTH người DTTS là một
hệ thống gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ hữu cơ, tương hỗ lẫn nhau giữa các
yếu tố liên quan phát triển đội ngũ GV; giữa các nhà trường TH vùng Tây Bắc

GD&ĐT và các trường TH thông qua các báo cáo tổng kết hằng năm; Các tài
liệu có liên quan trên sách báo, mạng internet,...
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Điều tra bằng phiếu hỏi về thực
trạng đội ngũ GVTH người DTTS, thực trạng phát triển đội ngũ GVTH người
DTTS vùng Tây Bắc; và điều tra bằng phiếu hỏi về tính cần thiết và khả thi của
các giải pháp.
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn CBQL và GVTH người DTTS
các trường TH về thực trạng phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây
Bắc làm căn cứ cho việc đề xuất các giải pháp.
- Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp giờ dạy của GVTH người
DTTS; các hoạt động dạy học ở trường; CSVC, thiết bị dạy học của nhà trường.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục: Nghiên cứu
kế hoạch dạy học, giáo án, hồ sơ, kế hoạch tự bồi dưỡng,... của GVTH người
DTTS.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình: Nghiên cứu điển hình tại 3 trường
tiểu học /3 huyện/ tỉnh Lào Cai thuộc khu vực khó khăn và đặc biệt khó khăn.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia gồm: Các nhà
khoa học, các chuyên gia về QLGD; GDH; Các nhà QL của các Sở GD&ĐT,


4

Phòng GD&ĐT, các trường TH; Các nhà QL các trường SP (trường sư phạm
tỉnh là chủ yếu) về các giải pháp do đề tài luận án đã đề xuất.
- Phương pháp thử nghiệm: Tiến hành thử nghiệm nhằm kiểm nghiệm
một số nội dung của một số giải pháp mà đề tài luận án đã đề xuất.
7.2.3. Nhóm các phương pháp xử lí dữ liệu: Sử dụng thống kê toán học;
Sử dụng sơ đồ, bảng biểu, đồ thị;..
8. Những luận điểm bảo vệ
8.1. Đội ngũ GVTH người DTTS bản địa thực chất là nguồn nhân lực

và yêu cầu đặc thù của vùng Tây Bắc.
9.3. Đề xuất được các nguyên tắc và 5 giải pháp phát triển đội ngũ
GVTH người DTTS vùng Tây Bắc mang tính khoa học, phù hợp với đặc thù
của vùng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, và có thể dùng để tham khảo đối
với các vùng DTTS khác.


5

10. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận án có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận phát triển đội ngũ GVTH người DTTS trong
bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo.
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây
Bắc.
Chương 3: Giải pháp phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây
Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TIỂU HỌC NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG BỐI CẢNH
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu về đội ngũ giáo viên
1.1.1.1. Vai trò của đội ngũ giáo viên
Tất cả các nghiên cứu trong và ngoài nước về đội ngũ GV đều khẳng
định một trong các nguồn lực quan trọng quyết định đến sự phát triển của các
nhà trường PT nói chung, trường TH nói riêng thì đội ngũ GV là quan trọng
nhất, đóng vai trò chủ thể mang tính quyết định.
1.1.1.2. Chuẩn nghề nghiệp GV– Yêu cầu đổi mới giáo dục
Những nghiên cứu trong và ngoài nước về phát triển đội ngũ GV trong

1.2. Đội ngũ GVTH người dân tộc thiểu số
1.2.1. Khái niệm GV và đội ngũ GVTH người dân tộc thiểu số.
Các khái niệm được làm rõ trong Luận án như: khái niệm về GV, đội
ngũ GV, GVTH, GVTH người DTTS, DTTS
Chẳng hạn, khái niệm về dân tộc thiểu số: Dân tộc Việt Nam (dân tộc
hiểu theo nghĩa nation-cộng đồng chính trị -xã hội được sự quản lí của một nhà
nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định) bao gồm nhiều cộng đồng các dân
tộc (dân tộc hiểu theo nghĩa ethni-tộc người, trong Luận án này có trường hợp
tác giả dùng từ tộc người để thay thế từ dân tộc. Như vậy, DTTS là tộc người
có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Việt Nam và
không mang ý nghĩa chỉ khái niệm dân tộc trong “Quốc gia dân tộc” (ví dụ:
Nước Việt Nam là một; Dân tộc Việt Nam là một,…). Đồng thời cũng cần phân
biệt khái niệm DTTS với khái niệm chủng tộc, bởi vì chủng tộc là những nhóm
người hình thành trong lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, có một số đặc điểm
chung trên cơ thể mang tính di truyền (ví dụ: chủng tộc da Trắng, da Vàng, da
Đen).
1.2.2. Đặc điểm đội ngũ GVTH người dân tộc thiểu số
1.2.2.1. Đặc điểm về tính tộc người và vùng miền
(1). Tính tộc người: do ảnh hưởng của khu trú/vùng miền nên mỗi dân
tộc thể hiện ở yếu tố: ngôn ngữ; đặc trưng văn hóa sinh hoạt chung; và ý thức
tự giác dân tộc: Mỗi GV người DTTS nói chung, GVTH người DTTS nói riêng
đều mang trong mình về mặt ngôn ngữ là một cá thể song/đa ngữ (từ 2-3 ngôn
ngữ trở lên: Tiếng mẹ đẻ (tiếng DT của bản thân GV) + tiếng DT khác + tiếng
Việt (ngôn ngữ Quốc gia); và cũng mang trong mình đa văn hóa (văn hóa của
DT của bản thân GV + văn hóa DT khác + văn hóa Quốc gia). Do đó, môi
trường GD cũng là môi trường đa văn hóa: dù là GVTH người DTTS bản địa
thì dạy học trong môi trường lớp học/trường học cũng vẫn là môi trường đa văn
hóa. GV là người DTTS thì cũng chỉ thuộc về một thành phần DTTS có trong
lớp học. Đó là chưa kể đến GV là người DTTS nhưng lớp của GV dạy lại
không có thành phần DT đó mà lại là những DT khác. Những thế mạnh này

kiến thức nên họ có hiểu biết về phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa
không chỉ của DT mình và của các DT khác trong cộng đồng các dân tộc Việt
Nam (đa văn hóa). Sự hiểu biết này, giúp ích cho họ rất nhiều trong công tác và
trong dạy học. Tuy nhiên, sự chênh lệch về kiến thức và năng lực đầu vào (đào
tạo) và đầu ra (sau đào tạo trở thành GV) của GVTH người DTTS là rất khác
nhau, sẽ là những thách thức đối với chất lượng GV giữa chuẩn đào tạo nhưng
mẫu thuẫn với thực lực của chuẩn nghề nghiệp GV.
(3). Những đặc điểm liên quan đến cơ cấu GVTH người DTTS: Dân số
của các DT khác nhau; truyền thống, phong tục tập quán, văn hóa của các DT
khác nhau; trình độ phát triển của các DT khác nhau, cho nên tỉ lệ GV của các
DT cũng khác nhau. Do đó, có sự mẫu thuẫn giữa những trường/lớp học, với
vùng/tiểu vùng với HS là người DTTS này nhưng GV dạy lại là người DT
khác. Ví dụ: HS người DT Mông nhưng GV dạy là người DT Tày. Điều này
cho thấy, sự chưa phù hợp với cơ cấu về DT ngay chính trong lớp/trường học
sẽ là những khó khăn đối với chất lượng GD ở vùng DTTS.
1.2.3. Vai trò của đội ngũ giáo viên tiểu học người DTTS
Ngoài những vai trò như GVTH nói chung, GVTH người DTTS còn
có vai trò hết sức quan trọng: (i) Là lực lượng thực hiện nội dung, chương trình
GDTH như GVTH nói chung, nhưng điểm khác đó là sự phù hợp ở vùng
DTTS; (ii) Là nhân tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và
đảm bảo cho GDTH vùng DT và miền núi phát triển bền vững; (iii) Là người
biết lựa chọn và thực hiện các phương pháp GD đặc thù đối với HS người
DTTS; (iv) Là lực lượng nòng cốt trong tuyên truyền, vận động cộng đồng
tham gia vào các hoạt động GD ở vùng dân tộc; (vi) Là lực lượng quan trọng
trong bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các DTTS.
1.3. Những yêu cầu phát triển đội ngũ GVTH người DTTS


8


theo quyết định 449/QĐ-TTg; quyết định 2356/QĐ-TTg chương trình hành
động thực hiện chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 nêu rõ tầm quan
trọng của việc phát triển đội ngũ GV là người DTTS.
1.3.1.3. Đổi mới giáo dục và đào tạo với những yêu cầu phát triển đội
ngũ GVTH người dân tộc thiểu số: Nâng chuẩn trình độ đào tạo của GV; Nâng
cao năng lực nghề nghiệp đội ngũ GVTH người DTTS (phẩm chất nhân cách,
đạo đức nghề nghiệp; kiến thức, kĩ năng) nhưng chú trọng vào GD đặc thù của
từng vùng/tiểu vùng. Ví dụ như các kĩ năng dạy học trong môi trường đa văn
hóa, dạy lớp ghép, lớp bán trú,…
1.3.2. Yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp GVTH người dân tộc thiểu số trong
bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo.
Trong Luận án làm rõ một số khái niệm về Chuẩn, Chuẩn nghề
nghiệp. Về cơ bản, chuẩn nghề nghiệp GVTH hiện nay phù hợp với yêu cầu đổi
mới giáo dục. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới, chuẩn nghề nghiệp GVTH


9

người DTTS cần phải điều chỉnh phù hợp với đặc thù riêng của vùng DTTS
như: (i) Bổ sung vào lĩnh vực kiến thức: Có kiến thức dạy học tích hợp, kiến
thức về Tiếng dân tộc bao gồm cả 4 kĩ năng (nghe –nói –đọc- viết) để thực hiện
dạy học SGK song ngữ, có kiến thức văn hóa dân tộc thiểu số; (ii) Bổ sung vào
lĩnh vực kĩ năng sư phạm: kĩ năng dạy học tích hợp, dạy Song ngữ (Tiếng ViệtTiếng một số dân tộc ít người), tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo,
thay đổi phương pháp dạy học, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
cho HS/HS DTTS trong môi trường đa văn hóa, năng lực hợp tác, năng lực
giao tiếp, năng lực tự học, năng lực tìm hiểu HS/HS DTTS và các hoạt động xã
hội,…
Ngoài ra, đối với GVTH người DTTS cần có những đặc điểm nhân cách
nghề nghiệp đặc thù riêng, được định hình do đặc điểm tộc người và vùng
miền, phù hợp với tính chất công việc và các mối quan hệ giao tiếp như niềm

và ngoài hệ thống giáo dục.


10

Như vậy, phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc là một
qui trình với nhiều nội dung (từ qui hoạch; tuyển chọn; sử dụng; đào tạo và bồi
dưỡng; kiểm tra, đánh giá; và chính sách đãi ngộ), chủ thể quản lí trọng tâm là
cấp Sở GD&ĐT trực tiếp chỉ đạo thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ,… của nội dung
đó và các chủ thể gián tiếp có liên quan.
1.5. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học
người dân tộc thiểu số.
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển đội ngũ GVTH
người DTTS cho thấy:
- Các chính sách ban hành của Đảng và Nhà nước bên cạnh những tác
động tích cực còn có những tác động chưa tốt, còn chồng chéo và chậm muộn
và nhiều đầu mối quản lí, khó thực hiện chưa tạo động thúc đẩy phát triển mạnh
hơn.
- Điều kiện tự nhiên phức tạp, kết cấu hạ tầng yếu kém, các tộc người
cư trú biệt lập (phạm vi bản/làng),… tạo nên những khó khăn trong giao lưu,
học tập, phấn đấu vươn lên của GVTH các DTTS.
- Đói nghèo và bệnh tật ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển thể lực và
trí lực của người DTTS, ảnh hưởng đến nguồn GVTH người DTTS nói riêng,
trí thức DTTS nói chung.
- Một số tập tục và tâm lí tộc người lạc hậu tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp đến sự phát triển thể chất và tinh thần của nguồn GVTH người DTTS
và trí thức DTTS.
- Sự bất đồng về ngôn ngữ gây trở ngại trong việc tiếp thu tri thức văn
hóa, khoa học, công nghệ, giao lưu trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ,… của đội
ngũ GVTH người DTTS, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới giáo dục.

cứu điển hình tại tỉnh Lào Cai; (vi) Xử lí số liệu khảo sát: Căn cứ vào các kết
quả khảo sát, thực hiện xử lí các phiếu điều tra, khảo sát và thống kê các số liệu
thu được; lựa chọn, sắp xếp các số liệu để phân tích, tổng hợp, so sánh, xây
dựng các biểu đồ, sơ đồ, bảng biểu phục vụ cho việc nghiên cứu; ngoài ra, luận
án được thu thập thêm số liệu qua các kênh thông tin của tổng cục thống kê
GD&ĐT, qua cổng thông tin điện tử,…
2.2. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và GD tiểu
học vùng Tây Bắc.
2.2.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc
Các tỉnh vùng Tây Bắc có điều kiện KT-XH rất khó khăn: có nhiều
cộng đồng các DTTS cùng sinh sống, nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, người
dân chủ yếu sống ở nông thôn, mức sống của người dân khá thấp so với mặt
bằng chung của cả nước, trình độ dân trí còn hạn chế, giao thông một số tuyến
huyện còn chưa phát triển.
2.2.3. Giáo dục tiểu học vùng Tây Bắc
GDTH vùng Tây Bắc phát triển khá nhanh về qui mô trường, lớp và HS
người DTTS. Chất lượng giáo được nâng dần lên (số HS lên lớp tăng, số HS
lưu ban giảm). Tuy nhiên, chất lượng GD của vùng chưa cao so với mặt bằng
chung của cả nước: số HS bỏ học còn cao, số HS hoàn thành cấp học còn
thấp,...
2.3. Quan điểm và thực trạng phát triển đội ngũ GV và CBQLGD tiểu học
ở Việt Nam.
2.3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác phát triển nguồn nhân
lực người dân tộc thiểu số.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước từ Hiến Pháp 2013 đến các Quyết
định số 449/QĐ-TTg, QĐ số 2356/QĐ-TTg, Nghị định số 05/2010/NĐ-CP,…
là cơ sở Pháp lí trong việc phát triển đội ngũ GV người DTTS nói chung và
GVTH người DTTS nói riêng là cấp thiết, cấp bách phù hợp với yêu cầu phát
triển KT-XH của đất nước nói chung, vùng DTTS nói riêng, trong đó GD&ĐT
được đặc biệt quan tâm.

mâu thuẫn giữa HS người DTTS trong lớp học mà GV dạy không cùng DT với
HS; Độ tuổi GVTH người DTTS ở một số trường có sự cách biệt, nhiều trường
GV trẻ chiếm tỉ lệ cao một mặt có thuận lợi về trình độ đào tạo nhưng kinh
nghiệm dạy ở vùng dân tộc, dạy những lớp đặc thù và niềm tin bám lớp, bám
trường chưa cao;
2.4.2. Chất lượng đội ngũ GVTH người dân tộc thiểu số.
Khảo sát về chất lượng đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc,
được phân tích ở 2 nội dung: (i) Trình độ đào tạo; (ii) Năng lực nghề nghiệp.
Với mỗi nội dung sẽ tập trung phân tích ở 3 khía cạnh chủ yếu: chuẩn nghề
nghiệp; yêu cầu đổi mới; yêu cầu đặc thù tộc người và vùng miền;
2.4.2.1. Trình độ đào tạo của đội ngũ GVTH người DTTS
Khảo sát đội ngũ GVTH người DTTS các tỉnh vùng Tây Bắc về cơ bản
đạt chuẩn và trên chuẩn. Tuy nhiên, trong thực tế, tỉ lệ này so với chuẩn nghề
nghiệp còn nhiều bất cập. Một số GV không cùng dân tộc với HS trong lớp:
vừa khó khăn về Tiếng Việt, vừa khó khăn về Tiếng dân tộc; sự hiểu biết về
văn hóa (trong môi trường GD đa văn hóa) của GV-HS không cùng dân tộc
cũng là cản trở trong quá trình giáo dục. Mặt khác, trước yêu cầu đổi mới giáo
dục và đào tạo vấn đề dạy song ngữ (Tiếng Việt – Tiếng dân tộc); dạy công
nghệ (máy tính –kĩ thuật), Tiếng Anh,... còn nhiều hạn chế. Ngoài ra, vấn đề
Tiếng Việt cần được bồi dưỡng thêm đối GVTH người Mông, Tày ở Lào Cai,
Yên Bái và GVTH người Thái ở Lai Châu, Điện Biên, Sơn La.
2.4.2.2. Năng lực nghề nghiệp của đội ngũ GVTH người DTTS.


13

Thực trạng năng lực nghề nghiệp của đội ngũ GVTH người DTTS vùng
Tây Bắc được đánh giá theo: chuẩn nghề nghiệp GV, yêu cầu đổi mới giáo dục
và yêu cầu đặc thù GD vùng DTTS.
Dựa vào chuẩn nghề nghiệp được điều tra khảo sát ở các lĩnh vực: (i)về

Kết quả khảo sát trạng về công tác tuyển chọn và sử dụng GVTH
người DTTS cho thấy:
2.5.2.1. Tuyển chọn: (i) Công tác tuyển chọn theo đúng các văn hướng
dẫn về nội dung và hình thức thi tuyển và xét tuyển. Tuy nhiên, Nhà nước chưa
có qui chế, qui định tuyển chọn riêng đối với GVTH người DTTS; (ii) Một số
nội dung đưa ra tương đối phù hợp với đặc thù vùng DTTS. Tuy nhiên, các tiêu
chí tuyển chọn GV người DTTS chưa phản ánh rõ ràng, đầy đủ những đòi hỏi
về năng lực của GV người DTTS; (iii) Công tác tuyển chọn còn nhiều công
đoạn khó khăn cho địa phương, ảnh hưởng quá trình công tác của GV và
CBQL; (iv) Các trường TH chưa được quyền chủ động trong việc biên chế GV,


14

do đó công tác tuyển chọn không phù hợp với nhu cầu thực tế của từng nhà
trường (Có thể thiếu GV người DT Tày (đối với trường có phần nhiều là HS
người DT Tày) nhưng lại thừa GV người DT Mông (trường có ít HS người DT
Mông). Điều này đồng nghĩa với việc chưa đảm bảo tính đặc thù của vùng/tiểu
vùng (phong tục, tập quán, ngôn ngữ,... giữa GV người DT này khác với HS
người DT kia).
2.5.2.1. Sử dụng: (i) Tỉ lệ GVTH người DTTS đang công tác có trình độ
đạt chuẩn và trên chuẩn tập trung vào các DT chiếm số đông; tỉ lệ GV có các
chứng chỉ chuyên môn nghiệp vụ: chính trị, tiếng anh, tin học còn thấp; (ii) Đa
số GVTH người DTTS cho rằng sự bố trí công việc hiện tại tương đối phù hợp.
Tuy nhiên, còn một số ít GV còn phải dạy kiêm nhiệm các môn tự chọn, một số
lớp học (đặc thù) bố trí GV dạy chưa phù hợp; (iii) Việc tạo nguồn CBQL và
GVTH người DTTS cốt cán, tổ /khối trưởng tỉ lệ chưa cao phần lớn là GV
người Kinh; (iv) Các chế độ luân chuyển GVTH người DTTS đã được thực
hiện trong các nhà trường. Tuy nhiên, công tác này chưa tính đến sự ổn định và
đều về chất lượng cũng như các tiêu chí về đối tượng luân chuyển;

15

- Công tác đánh giá chưa quan tâm hết những GV người DTTS, lớp
thuộc những điểm trường lẻ (vùng sâu, vùng xa) cần được đánh giá nghiêm túc
để đảm bảo chất lượng chung của các nhà trường;
2.5.5. Chính sách đãi ngộ đội ngũ GVTH người DTTS
Khảo sát thực trạng về chính sách đãi ngộ cho thấy:
- Các chính sách khen thưởng, đãi ngộ đối với GVTH nói chung GVTH
người DTTS nói riêng được thực hiện đúng với chủ trương của Đảng và Nhà
nước và của ngành được quan tâm. Tuy nhiên, chưa có chính sách riêng cho
vùng/tỉnh//tiểu vùng. Chế độ ưu tiên GVTH người DTTS cũng giống như giống
GV người Kinh công tác ở những vùng đặc biệt khó khăn, chưa tạo động lực
phấn đấu cho GV người DTTS;
- Các chính sách đến với địa phương đôi khi còn chậm muộn, không kịp
thời, chưa tạo được động lực cũng như sức lan tỏa đối với ngành, đối với GV
người DTTS, để GV có thể cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp GD dân tộc;
- Một số trường còn rất khó khăn trong việc tạo dựng môi trường làm
việc đặc thù (môi trường GD đa văn hóa) cho GV người DTTS do nhiều
nguyên nhân trong đó có nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan về
các điều kiện vùng miền còn thiếu thốn, khó khăn. Do đó, chưa tạo được môi
trường làm việc, sáng tạo trong mỗi GV, GV người DTTS;
2.6. Đánh giá chung
2.6.1. Thành tựu và ưu điểm
Đa số GVTH người DTTS có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt: hiền
lành, thật thà, chịu đựng gian khổ, luôn giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống
của DT mình; huy động trẻ em DTTS đến trường; trình độ đào tạo của đội ngũ
GVTH người DTTS đã có bước tiến rõ rệt; năng lực chuyên môn của đội ngũ
GVTH người DTTS từng bước được nâng lên; công tác tuyển chọn, sử dụng,
đào tạo, bồi dưỡng, kiểm tra, đánh giá và các chính sách đãi ngộ đối với GV
người DTTS đã được các Sở, Phòng GD&ĐT và các trường TH quan tâm.

thực hiện các Nghị quyết nêu trên và đã có những kết quả bước đầu. Không chỉ
CBQL và GV, GV người DTTS mà toàn xã hội cũng đang rất quan tâm và
mong muốn nâng cao chất lượng GD&ĐT nói chung và GD tiểu học vùng DT
nói riêng mà vai trò của đội ngũ GV trong đó có GVTH người DTTS là nội lực
quyết định.
2.6.4. Khó khăn, thách thức
Bên cạnh những thuận lợi, cơ hội, việc phát triển đội ngũ GVTH người
DTTS vùng Tây Bắc cũng đang gặp phải những khó khăn và thách thức không
nhỏ, đó là: Một số lượng GV người DTTS cần phải được đào tạo và bồi dưỡng
để đáp ứng yêu cầu hiện tại (GD đặc thù của vùng miền) và yêu cầu đổi mới
giáo dục; Chính sách đãi ngộ, mà đặc biệt là mức lương còn thấp chưa thực sự
thỏa đáng; Môi trường nhiều dân tộc, đa sắc tộc là còn những vấn đề nhạy cảm;
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng Tây Bắc còn rất nhiều khó khăn
nên việc thực hiện phát triển đội ngũ GVTH người DTTS sẽ gặp những khó
khăn, thách thức nhất định.
Kết luận chương 2
Công tác phát triển đội ngũ GVTH nói chung và phát triển đội ngũ
GVTH người DTTS nói riêng đã đạt được những thành quả nhất định. Tuy
nhiên, trong giai đoạn hiện nay thì một bộ phận đội ngũ GVTH người DTTS
vùng Tây Bắc vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu GD đặc thù
vùng miền, yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo. Do đó, mỗi Sở, Phòng
GD&ĐT, và các trường TH của các tỉnh Tây Bắc cần phát huy những kết quả
đã đạt được đồng thời khắc phục những tồn tại, khó khăn tập trung đề ra những
giải pháp phù hợp với yêu cầu thực tế nhằm thực hiện tốt mục tiêu chiến lược
phát triển GD ở vùng DTTS.
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GVTH NGƯỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ VÙNG TÂY BẮC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
3.1. Nguyên tắc đề xuất giải pháp

- Nhằm đảm bảo phát triển về số lượng GV người DTTS bản địa, cơ cấu
hợp lí (chú trọng cơ cấu tộc người), chất lượng được củng cố và nâng cao, đáp
ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.
- Giúp cho lãnh đạo của các Sở, Phòng GD&ĐT thực hiện tốt chức năng
quản lí nguồn nhân lực góp phần phát triển nguồn nhân lực người DTTS Vùng.
- Tạo nên sự phát triển đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển nối tiếp
các thế hệ GV người DTTS, khắc phục tình trạng thừa hoặc thiếu cục bộ, đảm
bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ của đội ngũ GVTH người DTTS đáp ứng yêu
cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.
3.2.1.2. Nội dung và tổ chức thực hiện giải pháp
(1). Xây dựng qui hoạch phát triển số lượng đội ngũ GVTH người DTTS
- Các Sở GD&ĐT các tỉnh lên kế hoạch xây dựng dự báo nhu cầu ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn về số lượng GVTH người DTTS của từng tỉnh (chú ý
GV dạy nhiều môn và GV dạy lớp đặc thù (dạy lớp ghép) theo nhu cầu của
từng huyện/tỉnh;
- Dự báo xác định nguồn tuyển dụng: ngoài những yêu cầu có tính bắt
buộc cần chú trọng khả năng dạy học trong môi trường đa văn hóa, biết Tiếng
dân tộc đạt ở 4 kĩ năng để thực hiện Song ngữ (Tiếng Việt- Tiếng dân tộc); hiểu
biết về văn hóa các dân tộc, phong tục tập quán các DTTS.
(2). Xây dựng qui hoạch phát triển cơ cấu đội ngũ GVTH người DTTS


18

Chú trọng cơ cấu tộc người nhằm đảm bảo tỉ lệ GV người DTTS phù
hợp với tỉ lệ HS DTTS của khu vực/các trường TH, sẽ liên quan đến giải quyết
vấn đề ngôn ngữ. Khi qui hoạch cơ cấu tộc người cần tính đến tỉ lệ dân số, HS
thuộc dân tộc nào?, tỉ lệ dân tộc đó chiếm số đông hay số ít?. Ngoài ra, cần
quan tâm và phát triển cơ cấu nhóm dân tộc Rin nhằm đảm bảo sự phát triển
bền vững của cộng đồng các DTTS.

bảo sự phù hợp với yêu cầu vùng miền, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
- Nâng cao chất lượng của GVTH người DTTS cả về chuẩn đào tạo,
năng lực chuyên môn lẫn kiến thức, nghiệp vụ sư phạm, đáp ứng chuẩn nghề
nghiệp và yêu cầu đổi mới giáo dục;
3.2.2.2. Nội dung và tổ thực hiện giải pháp
(1). Khảo sát thực trạng đội ngũ GVTH người DTTS: Trên cơ sở chỉ
đạo của các Sở GD&ĐT: các phòng GD&ĐT chỉ đạo các trường rà soát thực
trạng đội ngũ GVTH người DTTS về trình độ chuyên môn và năng lực sư


19

phạm dựa theo chuẩn nghề nghiệp, yêu cầu GD đặc thù, yêu cầu đổi mới và các
nhu cầu cần được đào tạo và bồi dưỡng của đội ngũ GV người DTTS trong các
nhà trường tiểu học, trường PTDTBT tiểu học làm căn cứ đào tạo và bồi
dưỡng;
(2). Đổi mới đào tạo và bồi dưỡng
- Đổi mới đào tạo: Đào tạo đạt chuẩn và nâng chuẩn (yêu cầu đổi mới);
Đào tạo đặc thù như dạy học trong môi trường đa văn hóa, Tiếng dân tộc,
chuyên đề phương pháp dạy học đặc thù cho HS dân tộc (dạy lớp ghép),
chuyên đề về đặc điểm tâm sinh lý HS dân tộc, văn hóa dân tộc. Nội dung đào
tạo cần phản ánh những những vấn đề trên trong mối liên hệ với thực tiễn GD ở
từng vùng/tiểu vùng/huyện/xã DTTS; Đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới GD
đảm bảo thực hiện một trong ba bộ sách giáo khoa trong đó có sách giáo khoa
dạy song ngữ (Tiếng Việt –Tiếng dân tộc); Đào tạo nguồn;
- Đổi mới bồi dưỡng: Bồi dưỡng theo chuẩn nghề nghiệp; Bồi dưỡng
đáp ứng yêu cầu đổi mới GD chú trọng đến việc bồi dưỡng năng lực dạy học
tích hợp, dạy theo định hướng phát triển năng lực của HS người DTTS trong
môi trường đa văn hóa; Bồi dưỡng GD đặc thù nâng cao năng lực Tiếng Việt
(đối với GVTH người Dân tộc Mông, Tày tỉnh Lào Cai, Yên Bái, GVTH người

TH phải chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ GVTH người DTTS tại trường.
3.2.3. Đổi mới công tác sử dụng đội ngũ GVTH người DTTS theo
năng lực nghề nghiệp phù hợp với tộc người và vùng miền.
3.2.3.1. Mục đích và ý nghĩa của giải pháp
- Nhằm phát huy được hết khả năng, năng lực, điểm mạnh của từng
GVTH người DTTS trong công tác giảng dạy.
- Giúp GV người DTTS được giảng dạy phù hợp với vùng miền và tộc
người (đối tượng HS cùng DT với GV) nâng cao chất lượng giáo dục, đồng
thời đảm bảo yêu cầu đổi mới chương trình, SGK GD phổ thông được thực
hiện vào năm học 2018.
- Giúp GV đảm bảo thời gian định mức lao động hiện hành mà còn tạo
động lực giúp GV người DTTS phát huy hết khả năng nghề nghiệp.
- Góp phần nâng cao chất lượng GD và tạo cơ hội cho trẻ em DTTS
được tiếp cận với giáo dục, đảm bảo sự bình đẳng trong giáo dục.
3.2.3.2. Nội dung và tổ chức thực hiện giải pháp
(1). Đổi mới công tác sử dụng đội ngũ GVTH người DTTS bản địa và
GV Kinh bản địa hiện có phù hợp với dân tộc và vùng miền vào việc giảng dạy
trong các nhà trường tiểu học, trường PTDTBT tiểu học vùng DTTS: Nhằm
đảm bảo cho trẻ em DTTS được đến trường theo phương châm: “đưa trường
đến với học sinh” nên nhiều điểm trường lẻ được thành lập. Có trường tới hơn
chục điểm lẻ. Việc sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ ở vùng dân tộc là việc làm
cần thiết ở các nhà trường tiểu học đối với những điểm trường có các lớp học
đặc thù (lớp ghép, lớp học ở điểm trưởng lẻ, lớp học ở trường PTDTBT).
(2). Sử dụng đội ngũ GVTH người DTTS thực hiện nhiệm vụ theo năng
lực nghề nghiệp của GV; và sử dụng đội ngũ GVTH người DTTS sau khi được
đào tạo và bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp vào việc giảng dạy trong
các nhà trường TH vùng DTTS;
(3). Kiểm tra công tác sử dụng đội ngũ GVTH người DTTS theo tộc
người và năng lực nghề nghiệp trong các nhà trường vùng DTTS.

mới GD và đảm bảo sự phù hợp với điều kiện thực tế của các nhà trường.
3.2.4.3. Điều kiện thực hiện giải pháp
Nâng cao nhận thức trong toàn ngành về vai trò của công tác kiểm tra,
đánh giá GVTH nói chung, GVTH người DTTS nói riêng; Ngoài Hiệu trưởng
của nhà trường, các trường tiểu học cần phải có hội đồng kiểm tra đánh giá;
Phải có sự phối hợp chặt chẽ của giữa các Phòng GD&ĐT, các trường tiểu học
và GVTH người DTTS; Các nhà trường cần xây dựng những tiêu chí riêng
trong công tác đánh giá đội ngũ GVTH người DTTS (ví dụ: trình độ Tiếng dân
tộc, Tiếng Việt và văn hóa dân tộc thiểu số, dạy những lớp đặc thù (lớp ghép),
bám lớp, bám trường,…) được đưa vào kế hoạch của nhà trường ngay từ đầu
năm học;
3.2.5. Xây dựng môi trường GD đa văn hóa phù hợp, sáng tạo và
quan tâm về vật chất, tinh thần cho đội ngũ GVTH người DTTS.
3.2.5.1. Mục đích và ý nghĩa của giải pháp
- Thực hiện tốt các chính sách ưu tiên của Đảng và Nhà nước đối với
GV người DTTS nói chung GVTH người DTTS nói riêng tạo động lực làm
việc cho GV. Đồng thời, xây dựng được môi trường GD đa văn hóa trong các
trường TH phù hợp, sáng tạo.
- Giải pháp có tính chất đòn bẩy, nhằm khuyến khích, động viên, tạo
động lực để GV an tâm công tác trong môi trường thực sự của chính mình để
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
3.2.5.3. Nội dung và tổ chức thực hiện giải pháp
(1).Tuyên truyền, phổ biến các chính sách ưu tiên của Đảng và Nhà
nước về phát triển GDPT nói chung GDTH nói riêng ở vùng DTTS: chính sách
đối với HS người DTTS; chính sách đối với GV công tác ở vùng DT và chính
sách đối với GV người DTTS; rà soát, đánh giá các chính sách hiện hành áp
dụng trong thực tế.
(2). Đề xuất một số chính sách riêng ưu tiên, khuyến khích GVTH người
DTTS: đạt danh hiệu GV giỏi, GV đạt thành tích cao trong các phong trào thi
đua “hai tốt” trong ngành giáo dục, GV có thành tích xuất sắc trong học tập,...

động nhất định đến phát triển đội ngũ GVTH nói chung GVTH người DTTS
nói riêng nhưng chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong việc thực hiện
mục tiêu phát triển đội ngũ GV người DTTS ở các trường TH vùng Tây Bắc.
3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các giải pháp và thử
nghiệm một số nội dung của các giải pháp.
3.3.1. Khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các giải pháp.
Tổ chức trưng cầu ý kiến qua phiếu hỏi; đánh giá theo từng mức độ;
tổng hợp, phân tích số liệu đánh giá theo từng nhóm đối tượng nhằm đánh giá
mức độ cần thiết và khả thi của các giải pháp mà luận án đã đề xuất. Kết quả
khảo nghiệm 5 giải pháp đề xuất là rất cần thiết và khả thi.
3.3.2. Thử nghiệm
- Thử nghiệm 2 nội dung của giải pháp 2: “Tổ chức bồi dưỡng đội ngũ
GVTH người DTTS sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học” và một nội
dung của giải pháp 5 “Tổ chức xây dựng môi trường GD đa văn hóa trong các
trường tiểu học vùng Tây Bắc”.
- Kết quả việc thử nghiệm cho thấy được sự tác động tích cực của việc
áp dụng thử nghiệm với hai nội dung nêu trên đó là: năng lực nghề nghiệp của
GV được nâng cao lên rõ rệt so với năm học trước, tỉ lệ GVTH người DTTS
đạt chiến sĩ thi đua cơ sở cũng cao hơn; Điều đáng ghi nhận mà lâu nay rất khó


23

đối với GVTH nói chung GVTH người DTTS nói riêng đó là có GV đạt giỏi
cấp tỉnh, đạt tổ trưởng chuyên môn giỏi cấp huyện qua việc rèn luyện và bồi
dưỡng nâng cao chuyên môn với mô hình nghiên cứu bài học cộng với sự cố
gắng nỗ lực của bản thân GV. Xây dựng được môi trường GD đa ngôn ngữ, đa
dân tộc, đa văn hóa tạo sự thân thiện, đoàn kết trong tập thể sư phạm của các
nhà trường với một tinh thần làm việc tận tâm, nhiệt tình không thấy sự phân
biệt giữa GV-GV người DTTS; GV người DTTS-CBQL; GV người DTTS-HS

án đã phân tích những kết quả đạt được, đồng thời phân tích những điểm còn
bất cập. Từ đó, đề xuất 5 giải pháp phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng
Tây Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo. Luận án đã khảo nghiệm
tính cần thiết và tính khả thi của 5 giải pháp được đánh giá là cần thiết, có tính
khả thi tương đối cao. Các giải pháp đưa ra có thể áp dụng để khắc phục những


24

tồn tại trong công tác phát triển đội ngũ GVTH người DTTS nhằm đáp ứng yêu
cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.
2. Khuyến nghị
2.1. Đối với các văn bản, chính sách
a) Với Bộ GD&ĐT và các Bộ ngành liên quan
- Ban hành chính sách hỗ trợ cho GVTH người DTTS khi được đào tạo
tại các trường, khoa sư phạm của tỉnh học Tiếng Dân tộc và Tiếng Việt khi
đang học.
- Điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung chính sách tiền lương, phụ cấp nghề
nghiệp, phụ cấp vùng miền và phụ cấp tộc người đối với GVTH người DTTS.
- Điều chỉnh, sửa đổi chính sách ưu đãi cho phù hợp với tộc người và
vùng miền (Thông tư Liên tịch 02/2014/TTLT-BNV-UBDT)
b) Với UBND tỉnh và Sở GD&ĐT các tỉnh vùng Tây Bắc
- Xây dựng chính sách ưu đãi đối với GVTH người DTTS về hỗ trợ đào
tạo, bồi dưỡng, tham quan, giao lưu để nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp
vụ, công nghệ và Tiếng Việt, Tiếng Dân tộc. Bổ sung, điều chỉnh chính sách thi
đua khen thưởng đối với GVTH người DTTS.
- Xây dựng chính sách riêng cho GV người DTTS dạy 2 buổi /ngày, GV
người DTTS dạy lớp đặc thù.
c) Với UBND huyện, Phòng GD&ĐT và các trường TH vùng Tây Bắc
- Xây dựng chính sách nhà công vụ cho GVTH người DTTS nhằm đảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status