LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này
và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã chỉ rõ nguồn gốc.
Sinh viên
Đỗ Thị Huyền
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này tôi đã
nhận được sự quan tâm và giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể trong và
ngoài trường. Nhân dịp này tôi xin tỏ lòng biết ơn đến:
Tập thể các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn
trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt cho tôi
những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Nông nghiệp huyện Tứ Kỳ đã tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới cô giáo
TS. Nguyễn Thị Dương Nga đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt
quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp của mình.
Và cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động
viên, góp ý kiến cho tôi trong quá trình làm luận văn.
Tuy đã có nhiều cố gắng trong khi hoàn thành luận văn tốt nghiệp song
khó tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các
thầy cô giáo nhà trường và các bạn. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Bảng 3.2 : Tình hình nhân khẩu và lao động của xã trong 3 năm 2007-2009.37
Bảng 3.3 Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Hưng Đạo năm 2009.....................39
Bảng 3.4: Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm (2007 – 2009)......42
Bảng 4.1: Tình hình cơ bản của các làng nghề thêu ren ở xã Hưng Đạo năm
2009.................................................................................................................47
Bảng 4.2: Sản lượng sản phẩm thêu ren ở làng nghề thêu ren xã Hưng Đạo
qua các năm 2007, 2008, 2009........................................................................48
Bảng 4.3 : Cơ cấu sản lượng sản phẩm thêu ren theo làng nghề năm 2009...49
Bảng 4.4: Giá trị sản xuất của các làng nghề thêu ren xã Hưng Đạo qua các
năm 2007, 2008, 2009.....................................................................................49
Bảng 4.5: Hình thức tổ chức của các làng nghề thêu ren trong xã qua 3 năm
2007-2008-2009..............................................................................................51
Bảng 4.6: Tình hình lao động ở các làng nghề thêu ren xã
Hưng Đạo năm 2009.......................................................................................52
Bảng 4.7 : Chất lượng lao động trong các hộ điều tra năm 2010....................54
Bảng 4.8 : Tình hình huy động vốn bình quân của 1 hộ điều tra ...................57
Bảng 4.9: Tình hình sử dụng vốn bình quân của 1 hộ trong các làng nghề thêu
ren xã Hưng Đạo năm 2009.............................................................................58
Bảng 4.10: Bình quân đất đai của 1 hộ trong các làng nghề thêu ren xã Hưng
Đạo..................................................................................................................60
Bảng 4.11: Giá của một số sản phẩm thêu ren của các làng nghề năm 2010..64
Bảng 4.12: Tình hình sản xuất kinh doanh BQ 1 hộ điều tra năm 2009.........66
Đơn vị: triệu đồng...........................................................................................66
iv
Bảng 4.13: Hiệu quả sản xuất kinh doanh bình quân 1 hộ trong các làng nghề
thêu ren xã Hưng Đạo năm 2009.....................................................................68
năm trở lại đây có sự tăng trưởng ổn định.
- Hình thức tổ chức bao gồm các công ty tư nhân, doanh nghiệp tư
nhân, tổ hợp tác... phổ biến nhất là hộ gia đình.
- Tình hình sản xuất ổn định, sản phẩm được tiêu thụ tại thị trường
trong và ngoài nước.
vi
- Phát triển làng nghề đã thu hút nhiều lao động tại địa phương và các
xã lân cận, giải quyết việc làm cho nhiều lao động thời vụ mỗi năm
- Trang thiết bị phục vụ cho sản xuất chủ yếu là công cụ thủ công, ít cơ
sở sử dụng máy móc trang thiết bị.
-Vốn sản xuất ít và đang thiếu, vay vốn cho sản xuất gặp nhiều khó
khăn.
- Nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất thêu đáp ứng đầy đủ, có sự
tiếp cận với nguồn hàng từ khắp các tỉnh thành trong cả nước và nước ngoài.
2. Phương hướng phát triển cho làng nghề thêu ren Hưng Đạo
- Phát triển làng nghề thêu ren của xã phải đặt trong tổng thể quy hoạch
phát triển kinh tế- xã hội và phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp của
huyện.
- Phát triển cần tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và
nông thôn.
- Cần hình thành các khu sản xuất tập trung, tạo thuận lợi về cơ sở vật
chất, kết cấu hạ tầng...
- Đảm bảo việc làm cho lực lượng lao động hiện có và lực lượng lao
động bổ sung.
- Dựa vào nhu cầu thị trường từ đó nhằm đưa ra sản phẩm thỏa mãn tốt
về nhu cầu thị trường cả về số lượng, chất lượng, giá cả sản phẩm...
3. Giải pháp phát triển làng nghề thêu ren tại xã Hưng Đạo
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo số liệu thống kê, cả nước hiện nay có khoảng 2017 làng nghề
(riêng khu vực đồng bằng sông Hồng có khoảng 866 làng nghề, là nơi tập
trung nhiều làng nghề nhất cả nước). Trong vòng 10 năm trở lại đây, từ các
nguồn ngân sách hỗ trợ của Nhà nước, cùng với quá trình mở cửa, bộ mặt
làng nghề thủ công trong cả nước có những khởi sắc vượt bậc. Mặt khác, nhờ
sự năng động, thích ứng nhanh với thị trường, một số ngành nghề thủ công đã
tìm ra hướng đi và chỗ đứng cho riêng mình. Nhờ đầu tư đúng, các làng nghề
có tốc độ tăng trưởng nhanh, trung bình đạt khoảng 8%/ năm. Hiện nay làng
nghề VN đang sử dụng 1,3 triệu thợ thủ công chuyên nghiệp và 3-5 triệu lao
động thời vụ đã khẳng định được vị trí quan trọng của làng nghề trong nền
kinh tế chung tại các địa phương nói riêng.
Tại một số tỉnh Bắc Ninh, Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương, đời sống
nhân dân được cải thiện, một bộ phận nhân dân khá giầu vì thu nhập do các
làng nghề đem lại chiếm tới 75% tổng thu nhập. Số dân địa phương tham gia
sản xuất (Tái chế thép dân dụng, chế biến lương thực thực phẩm, dệt tơ lụa)
tại các làng nghề thuộc 4 tỉnh đã lên đến 20.000 người, ngoài ra có khoảng
50% số đó là người lao động nơi khác làm thuê. (Tư liệu Viện Khoa học,
công nghệ, môi trường trường Đại học Bách khoa Hà Nội).
Trong thời điểm hiện nay, làng nghề VN đang đứng trước cơ hội phát
triển tốt và nhiều làng nghề đã biết nắm bắt cơ hội đó để làm giàu ngay trên
thôn làng của mình. Nhiều làng nghề từ Nam đến Bắc đang ăn nên làm ra như
gốm sứ Bình Dương, Bát Tràng, Chu Đậu, Phù Lãng; đồ gỗ Đồng Kỵ, Gò
Công; dệt Vạn Phúc; cơ khí Ý Yên; mây tre đan Củ Chi, Chương Mỹ; chạm
bạc Đồng Xâm, Đại Bái; đá mỹ nghệ Non Nước... Làng nghề phát triển đã và
đang giải quyết việc làm cho nông thôn đang có quá nhiều người thất nghiệp;
đồng thời gìn giữ và phát triển văn hóa truyền thống; đặc biệt tạo ra bộ mặt đô
làng nghề thêu ren tại xã Hưng Đạo huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương”.
2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề thêu ren tại xã
Hưng Đạo huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát trỉển làng
nghề
- Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề thêu ren tại xã Hưng Đạo
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề thêu
ren tại xã Hưng Đạo
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển làng nghề thêu ren tại xã
Hưng Đạo trong thời gian tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các hộ tham gia sản xuất và phát triển nghề thêu ren tại xã
Hưng Đạo huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu thực trạng từ đó đề xuất các giải pháp phát
triển làng nghề thêu ren
- Về không gian: Xã Hưng Đạo huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương, tập trung
vào các mẫu nghiên cứu đã chọn đó là các thôn xã: Xuân Nẻo, Ô Mễ, Lạc
Dục
- Về thời gian: Tiến hành nghiên cứu bắt đầu từ ngày 25/1 đến
20/5/2010. Tài liệu thứ cấp thu thập trong 3 năm gần đây từ 2007- 2009. Tài
liệu sơ cấp thông qua điều tra hộ sản xuất thêu ren trong năm 2010
nhóm người trong cùng một thế hệ và giữa các thế hệ, thực hiện điều này
4
đồng thời trên cả ba lĩnh vực quan trọng có mối quan hệ qua lại lẫn nhau đó là
Kinh tế- Xã hội- Môi trường.
2.1.2 Lý luận về làng nghề
2.1.2.1 Khái niệm làng nghề
Làng nghề của nước ta đã được hình thành từ rất lâu đời, trải qua quá
trình phát triển của mình, làng nghề của nước ta đã dần khẳng định được vị
thế của nó trong phát triển kinh tế. Cho đến nay đã có rất nhiều ý kiến được
đưa ra nói về khái niệm làng nghề. Theo nhà nghiên cứu Bùi Văn Vượng
(1998) thì “ Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công, ở
đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ
thủ công trong nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông
(nông dân) nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ
chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê mình...”[8]
Theo Trần Minh Yến (2004), “Làng nghề là một thiết chế kinh tế- xã
hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một
không gian địa lý nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống
bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn
hóa".[16]
Ở nước ta, làng nghề nông thôn được hình thành và phát triển do yêu
cầu của phân công lao động và chuyên môn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu phát
triển và chịu sự tác động mạnh mẽ của nền nông nghiệp và nền kinh tế hiện
vật, sản xuất nhỏ, tự túc tự cấp. Với số lượng phong phú như hiện nay, sản
phẩm của các làng nghề sản xuất ra rất đa dạng và phong phú như gốm sứ Bát
Tràng, lụa Vạn Phúc, gỗ Đồng Kỵ...Các sản phẩm được tiêu thụ rộng rãi trong
và ngoài nước, đem lại thu nhập cao cho người lao động.
- Làng nghề phải có sản phẩm đã trở thành hàng hoá, giao lưu đáp ứng
được nhu cầu thị trường và công nghệ sản xuất của làng nghề.
- Làng nghề phải có thị trường tiêu thụ độc lập hoặc thị trường giao lưu
qua các doanh nghiệp thương mại.
6
- Làng nghề phải có vốn để dự trữ nguyên vật liệu sản xuất và chuẩn bị
các điều kiện cho sản xuất.
- Làng nghề phải có sơ sở hạ tầng, kĩ thuật tối thiểu thuận tiện như
đường, điện, nước, công cụ sản xuất.
- Làng nghề phải có nguồn lao động trong làng ổn định và tạo ra công
việc cho người lao động ở các địa phương lân cận để đáp ứng nhu cầu lao
động khi cần thiết.
- Làng nghề phải có sự quan tâm hỗ trợ về các mặt hàng của các cấp
uỷ Đảng và chính quyền địa phương
Tiêu chí để xem xét một cách cụ thể đối với một làng nghề điển hình là:
- Số hộ chuyên làm một hoặc nhiều nghề thủ công chiếm từ 40 - 50 %.
- Thu nhập từ nghề thủ công chiếm trên 50%.
- Giá trị sản lượng của nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của
làng. [10]
2.1.2.3 Phân loại làng nghề
Nước ta có hàng trăm nghề thủ công khác nhau, các nghề thủ công phát
triển theo từng làng. Ngày nay, các nghề thủ công vẫn liên tục phát triển với
nhiều chủng loại mặt hàng mới. Có nhiều cách phân loại làng nghề, nhưng
thường phân loại theo một số tiêu chí chủ yếu sau:
+ Theo thời gian (sự hình thành của làng nghề):
- Làng nghề truyền thống: có lịch sử phát triển lâu đời với những sản
phẩm độc đáo riêng có của mình. Sản phẩm của làng nghề truyền thống rất
- Làng nghề sản xuất hàng tiêu dùng dân dụng: như hàng đồ đồng (đồ
thờ cúng, ấm, nồi...), hàng đồ mộc (giường, tủ, bàn...), hàng nhựa tái chế
(nhựa thỏi, nhựa xay...). Chất lượng sản phẩm trong các làng nghề thuộc rất
nhiều cấp độ khác nhau từ cấp thấp dân dụng đến cao cấp mỹ nghệ. Những
hàng này tiêu thụ cả trong nước và ngoài nước.
- Làng nghề chế biến nông lâm thuỷ sản dược liệu: nguyên liệu của
làng nghề này là sản phẩm của hàng nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ, hải sản.
8
Hiện nay trong vấn đề chế biến nổi lên vấn đề nguyên liệu sạch (rau, quả) và
các chất phụ (trước hết là các chất hoá học bị sử dụng tuỳ tiện trong việc chế
biến và bảo quản các sản phẩm).[18]
+ Theo số lượng nghề
- Làng một nghề: là những làng ngoài nghề nông ra chỉ có thêm một
nghề thủ công duy nhất.
- Làng nhiều nghề: là những làng ngoài nghề nông ra còn có một số
hoặc nhiều nghề khác .[16]
2.1.2.4 Vai trò của làng nghề
* Phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) là hình thức chủ
yếu của phát triển công nghiệp nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn:
Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, làng nghề là nơi phát triển của các
ngành nghề phục vụ cho sản xuất, xuất khẩu và nâng cao đời sống nông dân.
Trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay), các làng nghề sản xuất kinh
doanh tiểu thủ công nghiệp góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tạo ra
sản phẩm phục vụ xã hội và góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và nông thôn.
Phát triển các làng nghề đồng nghĩa với phát triển công nghiệp, tiểu thủ
thu nhập của người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống
nhân dân. Đây cũng là một trong những chính sách của Đảng và Nhà nước ta
trong vấn đề quốc kế dân sinh. Thu nhập của các hộ làm nghề thủ công ở các
làng nghề cao hơn từ 2 - 8 lần thu nhập của hộ thuần nông. Ở các làng có nghề,
tỷ lệ hộ khá và giàu thường rất cao, tỷ lệ hộ nghèo thường rất thấp và hầu như
không có hộ đói. Thu nhập từ nghề thủ công chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập
đã đem lại cho người dân ở các làng nghề một cuộc sống đầy đủ, phong lưu hơn
cả về vật chất lẫn tinh thần.[16]
10
* Làng nghề góp phần phát triển kinh tế địa phương và xây dựng nông
thôn mới:
Phát triển làng nghề góp phần tăng thu nhập của người dân, đồng thời
đã tạo ra nguồn tích luỹ khá lớn và ổn định cho các hộ gia đình cũng như cho
ngân sách địa phương. Vì vậy, nguồn vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
nông thôn được huy động từ sự đóng góp của người dân tại các địa phương có
làng nghề phát triển cũng khác hẳn so với các địa phương không có nghề. Ở
làng nghề, đặc biệt là ở các làng nghề vùng Đồng bằng sông Hồng, gần như
100% đường làng, ngõ xóm đều được bê tông hoá hoặc lát gạch hoặc đổ bê
tông. Các địa phương này đều có trường mầm non, tiểu học, phổ thông cơ sở
khang trang. Hệ thống điện nước được cải tạo và nâng cấp. Đời sống văn hoá
tinh thần của người dân được cải thiện và từng bước được nâng cao. Sức mua
của người dân có xu hướng tăng, góp phần tạo điều kiện cho thị trường hàng
hoá tiêu dùng, dịch vụ phát triển. Thu hẹp dần khoảng cách giữa thành thị và
nông thôn và góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.[3]
* Hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề góp phần làm tăng
giá trị tổng sản phẩm hàng hóa cho nền kinh tế:
dân tộc của địa phương:
Lịch sử phát triển kinh tế cũng như lịch sử phát triển nền văn hoá Việt
Nam luôn gắn liền với lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống. Văn
hoá làng nghề với các thể chế cộng đồng chứa đựng những quan hệ huyết
thống, láng giềng, hôn nhân, nghề nghiệp với các phong tục, tập quán, tín
ngưỡng, lễ hội mang đậm những sắc thái riêng, tạo nên bản sắc truyền thống
văn hoá phong phú sâu đậm của dân tộc ta. Vì vậy, để các làng nghề truyền
thống mai một cũng tức là đánh mất đi một phần máu thịt của nhiều thế hệ,
đánh mất một vốn quý của dân tộc.
Với vai trò to lớn của làng nghề trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn, để khôi phục và phát triển làng nghề đòi hỏi
các cấp chính quyền phải nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của làng
12
nghề; kịp thời có những biện pháp hỗ trợ các làng nghề phát triển phù hợp với
đặc điểm từng địa phương cũng như yêu cầu của thị trường.[11]
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề
Quá trình hình thành và phát triển của các làng nghề chịu ảnh hưởng
của nhiều nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, trong đó thì các nhân tố kinh tế xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn cả. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến
sự phát triển của các làng nghề gồm có:
* Nhu cầu thị trường:
Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề phụ thuộc rất lớn vào khả
năng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú và thường xuyên biến
đổi của thị trường. Những làng nghề có khả năng thích ứng với sự thay đổi
nhu cầu của thị trường thường có sự phát triển nhanh chóng. Sự thay đổi nhu
cầu của thị trường tạo định hướng cho sự phát triển của các làng nghề. Những
làng nghề mà sản phẩm của nó phù hợp với nhu cầu của xã hội, có khả năng
tiêu thụ lớn thì vẫn phát triển bình thường. Ngay cả trong mỗi một nghề, cũng
Sự hoạt động của các làng nghề trong điều kiện nền kinh tế thị trường chịu
tác động mạnh bởi yếu tố thông tin nói chung, bưu chính viễn thông nói riêng. Nó
sẽ giúp cho các chủ doanh nghiệp nắm bắt kịp thời, nhanh chóng, chính xác
những thông tin về thị hiếu, giá cả, mẫu mã, chất lượng, quy cách sản phẩm trên
thị trường, để có những ứng xử thích hợp đáp ứng nhu cầu của thị trường. Bên
cạnh đó, hệ thống cửa hàng, cửa hiệu, nhà trưng bày, giới thiệu sản phẩm, chợ
nông thôn, trường học, bệnh viện... cũng là những nhân tố tích cực giúp cho việc
tiêu thụ sản phẩm nhanh, phát triển mạnh nguồn nhân lực có sức khỏe, trình độ tri
thức và kỹ thuật tay nghề cao, tạo điều kiện cho các làng nghề phát triển.
* Trình độ kỹ thuật và công nghệ:
Trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất có ảnh hưởng rất quan trọng
đối với bất kỳ ngành nghề nào, sản phẩm nào. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến
năng suất lao động, chất lượng và giá thành sản phẩm, đến năng lực cạnh
tranh của các sản phẩm hàng hóa trên thị trường và cuối cùng là quyết định
đến sự tồn tại hay suy vong của một cơ sở sản xuất, một ngành nghề nào đó.
14
Hiện nay, phần lớn các cơ sở sản xuất ở các làng nghề vẫn sử dụng thiết bị
thủ công, công nghệ cổ truyền chủ yếu dựa vào kinh nghiệm có tính chất cha
truyền con nối trong từng hộ gia đình là chính. Bởi vậy, sản phẩm sản xuất ra
với năng suất, số lượng và chất lượng sản phẩm thấp kém, không đồng bộ, giá
thành cao, hạn chế khả năng cạnh tranh của các sản phẩm làng nghề. Để đa
dạng hóa sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đáp ứng được
nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, các cơ sở sản xuất kinh doanh
trong các làng nghề không thể không đổi mới trang thiết bị, cải tiến áp dụng
một số tiến bộ khoa học công nghệ vào các lĩnh vực sản xuất.
* Vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh:
Vốn là yếu tố, là nguồn lực quan trọng đối với bất kỳ quá trình sản
* Yếu tố truyền thống:
Đây là yếu tố có ảnh hưởng nhất định đối với sự phát triển của các làng
nghề, là nhân tố quan trọng không chỉ chi phối các hoạt động sản xuất mà chi
phối cả tiêu dùng và đời sống của cư dân nông thôn. Sự bình ổn của các làng
nghề là điều kiện tạo ra truyền thống và truyền thống lại góp phần giúp cho
làng nghề ổn định hơn, phát triển truyền thống cao hơn. Yếu tố truyền thống
có những tác động trái ngược nhau tới sự phát triển của làng nghề.
Trong các làng nghề truyền thống, bao giờ cũng có các thợ cả, nghệ
nhân có trình độ tay nghề cao, có kinh nghiệm sản xuất, có tâm huyết với
nghề, là những hạt nhân để duy trì và phát triển của làng nghề. Họ và cơ sở
cho sự tồn tại bền vững của các làng nghề trước mọi thăng trầm và đảm bảo
duy trì những nét độc đáo truyền thống của các làng nghề. Yếu tố truyền
thống có tác dụng bảo tồn những nét đặc trưng văn hóa của từng làng nghề,
của dân tộc, làm cho sản phẩm làng nghề có tính độc đáo và có giá trị cao.
Song, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, không thể chỉ có
kinh nghiệm cổ truyền, mà còn phải có khoa học và công nghệ hiện đại, phải
có những con người có đầu óc kinh doanh năng động, sáng tạo. Yếu tố
truyền thống trong điều kiện hiện nay có tác dụng hai mặt, vừa tích cực vừa
tiêu cực, đối với sự phát triển của các làng nghề. Việc khó là làm sao đưa
16
được những tiến bộ của khoa học và công nghệ hiện đại vào nhưng vẫn giữ
được những yếu tố truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và
những sản phẩm của các làng nghề phải được tiếp nhận trong thị trường của
xã hội hiện đại.[11]
2.1.4 Đặc điểm của làng nghề thêu ren
Thêu là một nghề thủ công truyền thống mang tính chất nghệ thuật
trang trí tạo hình truyền thống của nước ta, xuất hiện từ thuở vua Hùng dựng