Hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng ở xã nga thiện – nga sơn – thanh hoá - Pdf 35

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một đề tài nghiên
cứu nào.
Tôi cam đoan rằng: Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ
nguồn gốc.
Hà nội, ngày 26 tháng 05 năm 2010
Người cam đoan
Mai Văn Minh


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này tôi đã
nhận được sự quan tâm và giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể. Nhân dịp này
tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến:
Tập thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông
thôn trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt cho
tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của UBND xã
Nga Thiện và bà con nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn xã, nhất là những hộ
tham gia các mô hình của của xã đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi trong suốt
quá trình thực tập tại địa phương.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất của mình
tới cô giáo ThS. Nguyễn Thị Tuyết Lan đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi
trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp của mình.
Và cuối cùng tôi muốn nói lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè luôn là
nguồn động viên to lớn đối với tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá
trình thực tập tốt nghiệp.
Tuy nhiên, do trình độ và thời gian có hạn nên luận văn không thể tránh
khỏi thiếu sót. Vì vậy rất mong nhận được sự góp ý chỉ bảo của thầy cô và

SXKD

Nuôi trồng thuỷ sản
Khấu hao tài sản cố định
Giá trị sản xuất
Tổng chi phí sản xuất
Chi phí trung gian
Chi phí vật chất
Thu nhập hỗn hợp
Lao động
Số lượng
Cơ cấu
Nông nghiệp
Công nghiệp
Công nghiệp hoá hiện đại hoá
Trọng lượng bình quân
Diện tích bình quân
Tốc độ phát triển
Mô hình
Diện tích
Bảo vệ thực vật
Chi phí trung gian
Giá trị gia tăng
Giá trị sản xuất
Sản xuất kinh doanh


PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nga thiện là một xã đồng chiêm trũng của huyện Nga Sơn. Từ năm
1997 đến nay vùng đất trũng cấy 2 vụ lúa năng xuất thấp và bấp bênh được
chuyển sang xây dựng mô hình nuôi trồng thủy sản như: Chuyên cá, lúa - cá,
lúa- cá- vịt với quy mô mức độ khác nhau trong xã. Bước đầu những hộ mạnh
dạn chuyển dịch cơ cấu từ đất trũng sản xuất 2 vụ lúa với năng suất thấp, bấp
bênh và tận dụng diện tích sông ngoài sang nuôi trồng thuỷ sản cho hiệu quả
kinh tế cao hơn so với sản xuất 2 vụ lúa. Ngoài ra các mô hình đã góp phần
tận dụng và phát huy nguồn lực hạn chế của địa phương như: Đất đai, lao
động, vốn sẵn có tại địa phương vào sản xuất đạt hiệu quả.
Việc đánh giá, so sánh hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi trồng
thuỷ sản trên đất trũng nhằm tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng và các giải pháp
kinh tế, kỹ thuật nâng cao hiệu quả kinh tế, giúp người sản xuất lựa chọn các
mô hình phù hợp cho mình, giúp các cấp lãnh đạo địa phương có cơ sở chỉ
đạo sản xuất đối với vùng ruộng trũng chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản tập
trung là vấn đề hết sức cần thiết của xã. Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng ở xã
Nga Thiện – Nga Sơn – Thanh Hoá”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Xác định, phân tích hiệu quả kinh tế các mô hình nuôi trồng thủy sản
trên đất trũng, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của các mô
hình của xã trong những năm tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phản ánh những cơ sở lý luận và thực tiễn chủ yếu về hiệu quả kinh tế.
- Tìm hiểu hiện trạng nuôi trồng thủy sản trên đất trũng của xã Nga Thiện.


- Đánh giá hiệu quả của các mô hình nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng của xã.
- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả và hiệu quả kinh tế của
các mô hình nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng của xã.

phẩm. Những chỉ tiêu cho biết mức sinh lời của đồng vốn, được tính toán sau
chu kỳ sản xuất hay một quá trình sản xuất. Quan điểm này xác định hiệu quả
sản xuất trong trạng thái tĩnh, sau khi đã đầu tư. Trong khi đó hiệu quả là chỉ
tiêu không chỉ cho phép đánh giá hiệu quả đầu tư mà còn giúp cho người sản
xuất kinh doanh biết có nên đầu tư và đầu tư đến mức độ nào là có lợi nhất.
Hạn chế trong quan điểm truyền thống là không tính đến yếu tố thời
gian khi xác định thu và chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, vì vậy việc
tính hiệu quả kinh tế thường chưa đầy đủ và chưa chính xác. Bởi vì các hoạt
động đầu tư và phát triển lại có tác động không đơn thuần về mặt kinh tế mà
còn cả về mặt xã hội và môi trường, có những khoản thu và chi mà ta không


thể lượng hóa được, vì vậy nó không thể hiện được mỗi khi sử dụng cách tính
này.
- Quan điểm của các nhà kinh tế tân cổ điển như Herman Gvander
Tack. Luyn Squre [5] cho rằng hiệu quả kinh tế được xem trong trạng thái
động của mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và đầu ra. Nhân tố thời gian rất
quan trọng trong tính toán hiệu quả kinh tế, dùng chỉ tiêu hiệu quả kinh tế để
xem xét trong các quyết định cả trước và sau khi đầu tư sản xuất kinh doanh.
Hiệu quả kinh tế không chỉ bao gồm hiệu quả tài chính đơn thuần mà còn bao
gồm cả hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
Tóm lại: Hiệu quả kinh tế có thể là phần còn lại của kết quả sản xuaats
kinh doanh sau khi trừ đi chi phí bỏ ra hay có thể là tỷ lệ giữa kết quả sản xuất
với chi phí bỏ ra và nó bao gồm cả hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
Khi xem xét mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, một số tác giả đã đưa
ra ba khái niệm cơ bản về hiệu quả đó là: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ
(hiệu quả giá), hiệu quả kinh tế.
- Hiệu quả kỹ thuật: Là số lượng sản phẩm đầu ra có thể đạt được trên
một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong điều
kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp. Hiệu quả kỹ

tiêu về hiệu quả kinh tế khi có một khối lượng nguồn lực nhất định tạo ra khối
lượng sản phẩm hữu ích lớn nhất.
Nội dung để xác định hiệu quả kinh tế bao gồm các nội dung sau:
- Xác định các yếu tố đầu vào: Hiệu quả là một đại lượng để đánh giá xem xét
kết quả hữu ích được tạo ra như thế nào, với chi phí là bao nhiêu, trong các
điều kiện cụ thể nào, có thể chấp nhận được không. Như vậy hiệu quả kinh tế
liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và việc sử dụng nó với các yếu tố
đầu ra của quá trình sản xuất.


- Xác định các yếu tố đầu ra: Đây là việc xác định các mục tiêu đạt được, các
kết quả đạt được có thể là giá trị sản xuất, khối lượng sản phẩm, giá trị sản
phẩm, giá trị gia tăng, lợi nhuận.
Bản chất của hiệu quả kinh tế chính là hiệu quả của lao động xã hội và
được xác định bằng tương quan so sánh giữa kết quả hữu ích thu được với
lượng hao phí xã hội.
2.1.1.3 Công thức tính hiệu quả kinh tế
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế hiện nay được áp dụng trong
nghiên cứu kinh tế ở nước ta:
a) Công thức 1:
Hiệu quả = kết quả thu được - chi phí bỏ ra, H=Q-C
Trong đó H là hiệu quả, Q là kết quả thu được, C là chi phí bỏ ra. Công
thức này cho biết quy mô hiệu quả của đối tượng nghiên cứu, loại chỉ tiêu này
được thể hiện bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau tuỳ thuộc vào phạm vi tính chi
phí là chi phí trung gian hay chi phí vật chất hoặc tổng chi phí. Xác định hiệu
quả kinh tế từ các chỉ tiêu chủ yếu của hệ thống tài khoản quốc gia và được
xác định bằng công các công thức sau:
+ Tổng giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và
dịch vụ được tạo ra trong thời kỳ nhất định thường là một năm.
+ Chi phí sản xuất bỏ ra có thể được hiểu theo các khía cạnh như sau:

và ∆C của Q và C theo thời gian hay theo tình huống của đối tượng cụ thể mà
ta nghiên cứu. Do đó nó cũng có nhiều chỉ tiêu xác định cụ thể, tuỳ từng đối
tượng và mục đính nghiên cứu mà lựa chọn chỉ tiêu cho phù hợp.
+ Chỉ tiêu đánh giá ở trường hợp H = ∆Q - ∆C phản ánh mức hiệu quả đạt
được khi đầu tư thêm một lượng chi phí yếu tố đầu vào nào đó cho sản xuất.
Trường hợp H = ∆Q /∆C phản ánh mức độ hiệu quả đạt được khi đầu tư thêm
một đơn vị yếu tố đầu vào nào đó cho sản xuất. Công thức này xác định hiệu


quả kinh tế của đầu tư theo chiều sâu hoặc hiệu quả kinh tế của việc áp dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
2.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế
Với cách tính hiệu quả kinh tế thì có hai nhóm yếu tố làm ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh tế là: Nhóm yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến tử số kết
quả (Q) và nhóm yếu tố ảnh hưởng đến chi phí hay mẫu số (C).
Nhóm yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến tử số (Q): Nhóm này thể hiện
giá trị sản phẩm của quá trình sản xuất, nó phụ thuộc vào hai yếu tố là giá bán
và sản lượng hàng hóa sản xuất ra.
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến giá bán như: Thị phần của sản phẩm, chất lượng
sản phẩm, thời điểm bán sản phẩm, kênh tiêu thụ phẩm, quy cách, tính chất
của sản phẩm, chiến lược của nhà sản xuất, thị hiếu người tiêu dùng, chính
sách phát triển sản xuất của đất nước cũng như giá của các sản phẩm thay thế,

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng sản phẩm: Hình thức và rủi ro trong
vận chuyển, điều kiện tự nhiên, thị trường tiêu thụ và hình thức bảo quản, …
Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến mẫu số hay chi phí: Trong quá trình sản
xuất tập trung tất cả các chi phí nguồn lực đầu vào và các yếu tố ảnh hưởng
đến các nguồn lực đó, Các chi phí cơ bản phục vụ sản xuất thường có:
Nguyên liệu, sức lao động, nhà xưởng, máy móc. Tuy nhiên chi phí cho mỗi
nguồn lực lại chịu rất nhiều các yếu tố khác nhau cụ thể là:

+ Khái niệm về mô hình: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối
tượng nghiên cứu, được diễn đạt hết sức ngắn ngọn, phản ánh những đặc
trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu.


+ Khái niệm về mô hình canh tác: Mô hình canh tác là hình mẫu trong canh
tác, thể hiện sự kết hợp của các nguồn lực trong điều kiện canh tác cụ thể,
nhằm đạt được mục tiêu về sản phẩm và lợi ích kinh tế.
2.1.3 Một số lý luận về nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng
2.1.3.1 Một số khái niệm
* Nuôi trồng thủy sản: Theo định nghĩa của FAO [11], NTTS là bao gồm các
hoạt động canh tác trên các đối tượng sinh vật thuỷ sinh như cá, nhuyễn thể,
giáp xác, thực vật thuỷ sinh,… Quá trình nuôi được bắt đầu từ khâu thả giống,
chăm sóc, nuôi lớn cho tới khi thu hoạch xong. Có thể tiến hành nuôi từng cá
thể hay cả quần thể với rất nhiều hình thức nuôi như bán thâm canh, thâm
canh, quảng canh, nuôi tổng hợp,…
* Mô hình nuôi trồng thuỷ sản: Được hiểu là hình mẫu, hình ảnh quy ước hay
sự mô phỏng cấu tạo và hoạt động của quá trình nuôi trồng thuỷ sản.
2.1.3.2 Hình thức nuôi trồng thủy sản
* Quảng canh: Là hình thức đầu tư ở mức độ thấp, nguồn dinh dưỡng chỉ
trông vào tự nhiên.
* Bán thâm canh: Là hình thức canh tác ở mức đầu tư trung bình. Dinh dưỡng
chủ yếu phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng tự nhiên là chính, tuy có bổ sung
thêm thức ăn và phân bón nhưng không nhiều và không đều.
* Thâm canh: Là hình thức chăn nuôi với mức đầu tư tương đối cao vào một
đơn vị diện tích, nguồn dinh dưỡng chủ yếu dựa vào thức ăn được cung cấp,
sự phát triển, gia tăng sản lượng nuôi trồng có sự đóng góp của tự nhiên
nhưng không dáng kể.
* Nuôi tổng hợp (nuôi ghép): Là hình thức nuôi nhiều đối tượng trong cùng
một đơn vị diện tích nuôi hay thuỷ vực để lợi dụng tự nhiên một cách hợp lý.

nước là những điều kiện cơ bản cho phát triển nuôi thuỷ sản. Bao gồm các chỉ
số chính về thành phần cơ học, thành phần hoá học các thuỷ vực, thuỷ sinh vật.


- Nguồn lực các giống loài thuỷ sản: Ngày nay do sự phát triển của tiến
bộ khoa học kỹ thuật trong sinh sản nhân tạo, di giống và thuần hoá giống
thuỷ sản nuôi nên nguồn thuỷ sản tự nhiên đã giảm đi phần nào vai trò quan
trọng của nó. Tuy nhiên, đến nay nó vẫn có ý nghĩa trong việc duy trì sản xuất
các đối tượng nuôi chưa sản xuất được giống nhân tạo, các loài nuôi đặc sản
có giá trị kinh tế cao của địa phương, trong việc cấy ghép gen để tăng khả
năng phù hợp với điều kiện sống của mỗi địa phương.
* Nhóm 2: Các yếu tố kinh tế kỹ thuật.
- Vốn đầu tư: Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình sản xuất
kinh doanh của mọi ngành kinh tế nói chung, của nuôi thuỷ sản nói riêng.
Trong vấn đề về vốn đầu tư thì việc bố trí cơ cấu sử dụng vốn đầu tư hợp lý là
hết sức cần thiết.
- Thị trường: Là yếu tố quyết đến hiệu quả của quá trình sản xuất kinh
doanh, cho cả yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra của sản xuất. Chọn đối
tượng nuôi và thời điểm bán được giá là việc làm cần thiết của người nuôi
thuỷ sản.
- Công nghệ và kỹ thuật tiên tiến: Bao gồm các khâu từ chuẩn bị sản
xuất, sản xuất đến bảo quản và chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm.
Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả sản xuất, nó ảnh hưởng trực
tiếp đến số lượng, chất lượng và giá thành cũng như giá bán sản phẩm nuôi.
- Tổ chức sản xuất và quản lý: Là yếu tố rất quan trọng, mặc dù chỉ có
ảnh hưởng gián tiếp đến kết quả, hiệu quả nuôi thuỷ sản nhưng nó ảnh hưởng
rất lớn đến sự phát triển chung của nuôi thuỷ sản trên một vùng cụ thể.
* Nhóm 3: Các yếu tố về kinh tế -xã hội
- Chính sách: Là yếu tố cực kỳ quan trọng, mặc dù nó cũng chỉ có ảnh
hưởng đến kết quả, hiệu quả nhưng các chính sách sẽ tạo ra môi trường kinh

trong việc xây dựng trật tự xã hội, an ninh nông thôn vùng ven biển, mở rộng


quan hệ quốc tế, tạo việc làm xoá đói giảm nghèo, làm giàu cho nhân dân
cũng như đất nước. Vì vậy NTTS được coi là lĩnh vực kinh tế quan trọng
trong nông nghiệp, nông thôn nước ta, góp phần đẩy nhanh quá trình CNHHĐH đất nước.
- Mở rộng quan hệ thương mại quốc tế:
Từ đầu những năm 1980, ngành thuỷ sản đã đi đầu trong cả nước về mở rộng
quan hệ thương mại sang những khu vực thị trường mới trên thế giới. Năm
1996, ngành thuỷ sản mới chỉ có quan hệ thương mại với 30 nước và vùng
lãnh thổ trên thế giới. Đến năm 2001, quan hệ này đã được mở rộng ra 60
nước và vùng lãnh thổ, năm 2003 là 75 nước và vùng lãnh thổ.
Đối với các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại, ngành thuỷ
sản đã tạo dựng được uy tín lớn. Những nước công nghiệp phát triển như Mỹ,
Nhật và các nước trong khối EU đã chấp nhận làm bạn hàng lớn và thường
xuyên của ngành. Năm 2003, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào bốn thị
trường chính là Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc chiếm trên 75% tổng giá
trị kim ngạch, phần còn lại trải rộng ra gần 60 nước và vùng lãnh thổ.
Có thể thấy rằng sự mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế của
ngành thuỷ sản đã góp phần mở ra những con đường mới và mang lại nhiều
bài học kinh nghiệm để nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng
hơn vào khu vực và thế giới.
- An ninh lương thực quốc gia, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo:
Thuỷ sản được đánh giá là nguồn cung cấp chính đạm động vật cho con
người. Năm 2001, mức tiêu thụ trung bình mặt hàng thuỷ sản của mỗi người
dân Việt Nam là 19,4 kg, cao hơn mức tiêu thụ trung bình sản phẩm thịt lợn
(17,1 kg/người) và thịt gia cầm (3,9 kg/người). Cũng giống như một số nước
châu Á khác, thu nhập tăng đã khiến người dân có xu hướng chuyển sang tiêu
dùng nhiều hơn mặt hàng thuỷ sản. Có thể nói ngành thuỷ sản có đóng góp
không nhỏ trong việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.



không ngừng gia tăng. Do đó NTTS phát triển sẽ tạo điều kiện giải quyết một
số bộ phận không nhỏ lao động nhàn rỗi trong nông thôn, đặc biệt là các khu
ven biển nơi mà NTTS với quy mô lớn sẽ tạo nên một khu vực kinh tế biển
thu hút một lực lượng lao động lớn cho đánh bắt và dịch vụ.
Bên cạnh đó, do có giá trị xuất khẩu cao, NTTS còn mang lại thu nhập
cao hơn nhiều so với sản xuất ngành trồng trọt. Đối với Việt Nam, ở vùng ven
biển thì thu nhập của người dân ven biển phần lớn là từ đánh bắt và NTTS.
2.2.2 Đặc điểm nuôi trồng thủy sản trên đất trũng
Đối tượng nuôi trồng thuỷ sản là động vật thuỷ sinh, nó là đối tượng hết
sức nhạy cảm, có khả năng tái tạo cao nhưng lại dễ dàng bị huỷ diệt, có nhiều
loài có giá trị kinh tế cao.
Quá trình nuôi trồng thuỷ sản là sự lợi dụng lợi thế của vùng đất trũng
không có lợi thế hay hiệu quả trong việc trồng lúa chuyển sang nuôi trồng
thuỷ sản.
Điều kiện sống của thuỷ sản dựa vào tự nhiên nên yêu cầu người lao
động phải am hiểu điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu, thuỷ văn để có biện
pháp phòng tránh rủi ro và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Nuôi trồng thuỷ sản đòi hỏi các dịch vụ hỗ trợ lớn đặc biệt là giống,
thức ăn, tín dụng, khuyến ngư và thị trường tiêu thụ.
2.2.3 Hiệu quả của các mô hình NTTS ở một số tỉnh của Việt Nam
a) Mô hình nuôi thâm canh cá rô đồng ở Phú Hòa- Lương Tài- Bắc Ninh
Với cỡ cá giống 700-800 con/kg, sau thời gian 3 tháng nuôi cá của các
hộ đạt trọng lượng từ 17-20g/con vào khoảng 50-70 con/kg. Với tốc độ phát
triển như vậy sau 6 tháng nuôi cá của các hộ đạt trọng lượng 70-90g/con (1214 con/kg), mật độ nuôi 15 con/m2 (150.000 con/ha), tỷ lệ sống 70%-80%,
năng suất thu được vào khoảng 8,5-10 tấn/ha theo giá thị trường 25-30
nghìn/kg, tổng thu được 230 triệu-290 triệu/ha/6 tháng nuôi trừ các khoản chi



đều đạt giá trị sản lượng trên 50 triệu/ha/năm.
Nghiên cứu của Vương Khả Khang 2006 về hiệu quả kinh tế Mô hình
nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng ở huyện Lương Tài - tỉnh Bắc Ninh.
Bảng 2.1 Kết quả và hiệu quả mô hình lúa - cá
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
Sản lượng thóc thu hoạch
tấn
Sản lượng cá thu hoạch
tấn
Giá trị sản xuất (GO)
1000đ
Tổng chi phí (TC)
1000đ
Tổng chi phí cố định Phải trả(TCp)
1000đ
Chi phí trung gian(IC)
1000đ
Giá trị gia tăng (VA)
1000đ
Thu nhập hỗn hợp(MI)
1000đ
Các chỉ tiêu hiệu quả
- GO/TC
lần
- MI/TC
lần
- VA/TC
lần
Bảng 2.2 Hiệu quả của mô hình chuyên cá

37459,8
47453,7
38403,7
1,82
0,82
1,02
9,38
4,24

Đơn vị tính
tấn
1000đ
1000đ
1000đ
1000đ
1000đ
1000đ
lần
lần
lần
lần
lần

2,55
1,54
1,65


- VA/TCp
lần

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Nga thiện là một xã nằm ở phía Tây bắc của huyện Nga Sơn cách trung
tâm huyện 4km.
Phía Tây giáp với xã Hà Vinh - huyện Hà Trung – Thanh Hoá
Phía Đông giáp xã Nga Giáp – Nga Sơn – Thanh hóa
Phía Nam giáp xã Nga Trường – Nga Sơn – Thanh hóa
Phía bắc giáp tỉnh Ninh Bình bởi dãy núi Tan Điệp
Với vị trí địa lý giáp với nhiều xã như vậy Nga Thiện có nhiều thị
trường để tiêu thụ sản phẩm cũng như mua các yếu tố đầu vào đây sẽ là điều
kiện thuận lợi để phát triển kinh tế và phát triển nuôi trồng thuỷ sản.
3.1.1.2 Khí hậu, thời tiết
Xã Nga Thiện nằm ở tiểu vùng khí hậu đồng bằng phía bắc Thanh Hoá,
nên có đặc trưng sau:
+ Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình cả năm là 25 – 27 oC, nhiệt độ thấp nhất
từ 5-7oC, nhiệt độ cao nhất là 41-42oC.
+ Mùa mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1600-1900 mm, lượng
mưa lớn chiếm 80% lượng mưa cả năm. Đặc biệt có những trận mưa rào lớn
có kèm theo gió bão từ 3-7 ngày, gây ra ngập úng cục bộ ở nhiều vùng đồng
chiêm trũng.
+ Mùa khô: Lượng mưa ít, có những thời kỳ khô hanh kéo dài từ 10-15 ngày
làm cho nhiều diện tích ở đồng bái bị khô hạn.


+ Gió: hàng năm có 2 mùa gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông
Nam, mùa hè thường có đợt gió Tây khô nóng mà người dân hay gọi là gió
Lào.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status