Đề 14: Phân tích sự thay đổi quan niệm về “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá
sản” trong pháp luật Việt Nam
BÀI LÀM
Khái niệm Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là một khái niệm pháp lý
đặc trưng trong pháp luật thương mại, phản ánh tình trạng mất cân đối giữa thu và
chi của một doanh nghiệp mà biểu hiện trực tiếp là không còn khả năng thanh toán
các khoản nợ đến hạn.
Ở nước ta, quan niệm về việc doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản mới chỉ
ra đời do sự chuyển nhượng nền kinh tế sang cơ chế kinh tế thị trường. Trong thời
kỳ bao cấp, khái niệm “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản” không được đề
cập tới vì đó là một hiện tượng bất bình thường thể hiện sự trì trệ và suy thoái của
đời sống kinh tế xã hội.
Đến năm 1990, với sự ra đời của Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 và Luật
công ty năm 1990 đã bước đầu đề cập đến khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản. Điều 24 Luật Công ty 1990 quy định: “Công ty gặp khó khăn hoặc
bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh đến mức tại một thời điểm tổng số trị giá
các tài sản còn lại của công ty không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn,
là công ty đang lâm vào tình trạng phá sản”.
Điều 17 Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 quy định: “Doanh nghiệp tư
nhân gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh đến mức tại một
thời điểm tổng số trị giá các tài sản còn lại của doanh nghiệp không đủ thanh toán
tổng số các khoản nợ đến hạn, là doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản”.
Các định nghĩa này có ưu điểm là đã nêu ra được khái niệm cũng như cách thức
xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản mà trước đó khái niệm này
chưa từng được đề cập đến trong bất kỳ một văn bản pháp luật nào. Tuy nhiên thì
hạn chế lớn nhất của khái niệm này chính là chưa phản ánh được bản chất của
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Bởi vì tại một thời điểm nào đó mà tổng
1
Có thể nhận thấy rằng Luật phá sản doanh nghiệp và Nghị định số 189/CP năm
1994 đã quy định khá chặt chẽ về các điều kiện để xác định doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản. Tuy nhiên, những quy định này lại chủ yếu nghiêng về việc thực
hiện thủ tục phá sản và nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá
sản, mà chưa đề cập đến việc phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
Như vậy đã không đạt được mục đích quan trọng của việc ban hành Luật phá sản là
để tạo điều kiện cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản khôi phục lại hoạt
động kinh doanh, nhằm trở lại với thương trường.
Khắc phục hạn chế đó, Luật phá sản năm 2004 ra đời nhằm mục đích tạo ra các
giải pháp ứng dụng cho các “sự cố” của nền kinh tế, đồng thời không chỉ là luật để
đào thải các doanh nghiệp yếu kém mà còn nhằm mục đích khôi phục lại sự cân
bằng về cán cân thanh toán của thị trường đã xác định khái niệm doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản theo hướng đơn giản và hợp lý hơn. Điều 3 Luật phá sản
năm 2004 quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán
được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá
sản”.
Như vậy, để bị xem là lâm vào tình trạng phá sản, doanh nghiệp phải đồng thời
có đủ 2 điều cơ bản: điều kiện cần là mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến
hạn và điều kiện đủ là khi chủ nợ chính thức yêu cầu. Điều đó có nghĩa, bất luận
giá trị của khoản nợ là bao nhiêu miễn là khi đến hạn và chủ nợ đã chính thức yêu
cầu mà doanh nghiệp không trả được khoản nợ đó. Luật phá sản năm 2004 không
quy định các dấu hiệu cụ thể để xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ
đến hạn. Điều này đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc
mở thủ tục phá sản, cũng như việc phục hồi hoạt động, quay trở lại thương trường
dễ dàng hơn so với những quy định của Luật phá sản doanh nghiệp.
3