Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng công ty TNHH MTV phát triển du lịch Thanh niên VIệt Nam - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài
Tổ chức cơ sở đảng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống
tổ chức của Đảng, là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở. Vì vậy
nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của là một nội dung cơ bản, là vấn
đề có tính quy luật của công tác xây dựng đảng. Nhận thức rõ vai trò của năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ đổi mới và xây dựng
đất nước vì vậy khi tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (từ
ngày 18 đến 25/4/2006) Đảng ta đã chọn chủ đề của đại hội là “Nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn
dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công tác đổi mới, sớm đưa đất nước ta thoát
khỏi tình trạng kém phát triển”; và mới đây, ngày 02/02/2008 đồng chí Tổng
Bí thư Nông Đức Mạnh đã ký ban hành Nghị quyết số 22- NQ/T.Ư “ Về
Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất
lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên” do Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành
Trung ương Đảng thảo luận và thông qua.
2- Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó
lường; cách mạng nước ta có những thuận lợi, thời cơ mới đồng thời đứng
trước những khó khăn, thách thức lớn. Sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang đi vào chiều sâu; nhiệm vụ xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới đặt ra yêu cầu ngày
càng cao với công tác xây dựng đảng nói chung, xây dựng tổ chức cơ sở đảng
nói riêng.
Nâng cao NLLĐ và SCĐ của TCCSĐ trong chi bộ Công ty có ý nghĩa
quyết định trong việc xây dựng đơn vị trong lĩnh vực kinh doanh, đảm bảo sự
lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với đơn vị . Các bộ
phận trực thuộc Công ty có nhiệm vụ khai thác kinh doanh ,sản xuất, sửa
chữa, cải tiến, hiện đại hóa, đồng thời nằm trong đơn vị thuộc Trung ương
Đoàn có công tác chính trị có nhiệm vụ tham gia sản xuất kinh tế, góp phần
phát huy vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế

Công ty trong giai đoạn hiện nay. Đây là vấn đề cơ bản, cấp thiết cả về lý luận
và thực tiễn.
3- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực lãnh đạo,
SCĐ của tổ chức cơ sở Đảng trong Công ty đề xuất một số giải pháp cơ bản
nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, SCĐ của tổ chức cơ sở Đảng (TCCSĐ)
trong đơn vị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Nhiệm vụ:
- Phân tích làm rõ một số nội dung cơ bản về NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ
Công ty TNHHMTV phát triển Du Lịch Dịch Vụ TNVN
- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và một số kinh nghiệm
nâng cao NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ trong Công ty .
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao NLLĐ, SCĐ của
TCCSĐ Công ty TNHH MTV Phát triển Du Lịch Dịch Vụ trong giai đoạn
hiện nay.
4- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nâng cao
NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ trong Công ty TNHH MTV Phát triển Du lịch Dịch
Vụ TNVN .
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề Năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng Cty TNHH MTV Phát Triển
Du Lịch Dịch Vụ TNVN trong thời kỳ hiện nay.
5- Phương pháp nghiên cứu
2


Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác Lênin, sử dụng phương pháp kết hợp giữa nghiên cứu lý luận với tổng
kết thực tiễn, lô-gic và lịch sử, phân tích tổng hợp, điều tra khảo sát, lấy ý

chức và tiến hành xây dựng một Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân,
V.I.Lênin luôn chăm lo xây dựng, xác lập vai trò lãnh đạo của các tiểu tổ
công nhân dân chủ xã hội, phát triển các tiểu tổ đó trở thành những chi bộ cơ
sở của Đảng bộ Bônsêvich Nga trong các nhà máy, công xưởng, khu dân cư.
Người yêu cầu “những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương
Đảng, phải trao đổi kinh nghiệm lẫn cho nhau, phải làm tốt công tác cổ động,
tuyên truyền, công tác tổ chức; phải thích nghi với mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội, với tất cả mọi loại và mọi tầng lớp quần chúng lao động; những chi bộ
ấy phải thông qua công tác muôn hình, muôn vẻ đó mà rèn luyện bản thân
mình, rèn luyện Đảng, giai cấp, quần chúng một cách có hệ thống” (20-232,
233).
Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, những bài học thành công
cũng như chưa thành công đều gắn liền với vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở
Đảng.Đảng ta khẳng định: Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng
được khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực phấn
đấu của quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân là tổ chức đảng. Nhưng mặt khác sự
yếu kém của nhiều TCCSĐ đã hạn chế những thành tựu của cách mạng. Vị
trí, vai trò của TCCSĐ được khái quát và khẳng định như sau :
- TCCSĐ là cầu nối, nối liền các cơ quan lãnh đạo của Đảng đối với
quần chúng nhân dân. Mọi tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân
thông qua tổ chức cơ sở đảng mà được phản ánh lên tổ chức đảng cấp trên.
- TCCSĐ là nơi trực tiếp đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của nhà nước vào quần chúng và tổ chức cho quần chúng thực
hiện thắng lợi trong thực tiễn.

4


- TCCSĐ là nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện, kết nạp, sàng lọc đảng
viên, nơi đào tạo cán bộ cho Đảng; nơi xuất phát để cử ra cơ quan lãnh đạo

luận vào thực tiễn của đơn vị, đề ra được nghị quyết đúng, chủ trương biện
pháp lãnh đạo phù hợp với sự phát triển của tình hình nhiệm vụ. Cuộc sống
luôn vận động và phát triển, cho nên năng lực lãnh đạo còn thể hiện ở khả
năng dự báo, nhạy bén với những vấn đề mới nảy sinh, có khả năng luận giải
đúng đắn và giải quyết có hiệu quả. Chính vì vậy Các Mác và Ph.Ănghen đã
phân biệt sự khác nhau giữa những người cộng sản và những người vô sản là
“họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều
kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản” (26-615). V.I.Lênin
khẳng định: “không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách
mạng”. “chỉ có đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có
khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong” (19-32). Chủ tịch Hồ Chí Minh
5


luôn căn dặn và đòi hỏi cán bộ,Đảng viên phải ra sức học tập, trau dồi lý luận
chủ nghĩa Mác-Lênin, vì đó: “…không những là cái “cẩm nang” thần kỳ,
không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường
chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng
sản” (28-128). Trong quá trình lãnh đạo, các TCCSĐ phải có năng lực nghiên
cứu, tổng kết thực tiễn, đây là yêu cầu đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng nói
chung và TCCSĐ nói riêng luôn phát triển đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nắm
vững những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối quan điểm của Đảng, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên chính là cơ sở
để các TCCSĐ nâng cao năng lực trí tuệ, đề ra được chủ trương, biện pháp
lãnh đạo đúng đắn, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh và nhiệm vụ cụ thể của
mỗi cơ sở.
Năng lực lãnh đạo của TCCSĐ còn là năng lực, trình độ tổ chức hoạt
động thực tiễn. Đó là khả năng tuyên tuyền, giáo dục, vận động và hướng dẫn
quần chúng thực hiện các nghị quyết đã đề ra, đưa nghị quyết vào cuộc sống.
Trong quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết, TCCSĐ phải làm tốt công tác

Trong suốt quá trình hoạt động, mỗi tổ chức, cá nhân không thể tránh
khỏi những thiếu sót sai lầm, nên việc phải tìm ra những khuyết điểm, nguyên
nhân của những khuyết điểm đó để cùng nhau sửa chữa là một biện pháp để
hoàn thiện mỗi Đảng viên phải nâng cao sức mạnh của tổ chức cơ sở Đảng .
Như vậy SCĐ của TCCSĐ là khả năng giữ vững được vai trò lãnh đạo
trước mọi diến biến phức tạp của tình hình nhiệm vụ; là khả năng “miễn
dịch”, đấu tranh thắng lợi với những tác động tiêu cực và âm mưu, thủ đoạn
chống phá của kẻ thù; là sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn
thành mọi nhiệm vụ; là khả năng tự khắc phục những hạn chế, khuyết điểm
trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, tự phê
bình và phê bình, xây dựng đội ngũ cán bộ , Đảng viên thực sự tiền phong,
gương mẫu, giữ nghiêm kỷ luật, làm cơ sở cho xây dựng tổ chức cơ sở Đảng
vững mạnh, lãnh đạo đơn vị hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.
Từ những luận điểm trên, có thể khái quát:
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ là khả năng nắm
vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ
thị của cấp trên vào thực tiễn tình hình, nhiệm vụ của đơn vị; là bản lĩnh
chính trị với trình độ nhận thức lý luận và năng lực thực tiễn để đề ra chủ
trương, biện pháp lãnh đạo đúng đắn; tuyên truyền giác ngộ, vận động
quần chúng, tổ chức thực hiện và kiểm tra sát sao nhằm thực hiện thắng
lợi nghị quyết; là sự đoàn kết thống nhất trên cơ sở thực hiện nghiêm túc
nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, tự phê bình và phê bình; là ý chí quyết
tâm, sức mạnh vượt qua mọi thử thách, phấn đấu vươn lên hoàn thành
nhiệm vụ; kiên quyết đấu tranh khắc phục những biểu hiện tiêu cực sai sót
trong tổ chức Đảng và đơn vị, đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn
phá hoại của kẻ thù, xây dựng TCCSĐ luôn thực sự vững mạnh, hoàn
thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu là hai thành tố có mối quan hệ biện
chứng tạo thành một chỉnh thể thống nhất, làm nên sức mạnh và sự bền vững

quát của công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ 2006 – 2010 là “ Tiếp tục tự đổi
mới, tự chỉnh đốn Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên
phong, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng
Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có bản
lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có tầm trí tuệ cao,
có phương thức lãnh đạo khoa học luôn gắn bó với nhân dân.” ( 7 – 279) coi
đó là một trong những vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng,
chỉnh đốn đảng hiện nay. Và như vậy, không ngừng nâng cao NLLĐ và SCĐ
của TCCSĐ đã góp phần quan trọng, quyết định nâng cao NLLĐ và SCĐ của
toàn Đảng. Đó là yêu cầu tất yếu khách quan, có tính quy luật trong công tác
xây dựng Đảng.
1.1.3. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, của tư tưởng Hồ Chí
Minh, của Đảng Cộng sản về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở Đảng
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đẩy nhanh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao về sự lãnh đạo của Đảng nói
chung và của các TCCSĐ nói riêng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm
BCHTW (khóa VI) đã nêu: “ Trong điều kiện chuyển sang thực hiện cơ chế
quản lý mới, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của đơn vị kinh tế cơ sở, mở
rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, các tổ chức cơ sở Đảng phải thực sự là hạt
nhân lãnh đạo chính trị trong tập thể lao động”. Với đặc điểm là đơn vị cơ sở
trong tổ chức hoạt động kinh doanh nhưng hoạt động của các bộ phận lại phải
tuân thủ Luật Công Ty và các quy định quản lý kinh tế của Nhà nước. Cho
nên ngoài những biểu hiện chung nhất về NLLĐ và SCĐ của các tổ chức cơ
sở Đảng trong quân đội nói chung như: khả năng vận dụng chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước,
nghị quyết, chỉ thị của cấp trên; giáo dục, tuyên truyền, giác ngộ cho cán bộ ,
Đảng viên và quần chúng, xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết; thực
hành xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh , tổ chức chỉ huy và các tổ
chức quần chúng vững mạnh toàn diện , lãnh đạo và tiến hành kiểm tra
8

quả chính trị-xã hội, quốc phòng-an ninh.Tổ chức cơ sở Đảng phải nắm vững
nhiệm vụ của Công Ty , đặc biệt là nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, để đề ra
nghị quyết lãnh đạo đúng đắn, phát huy vai trò quản lý điều hành, tinh thần
trách nhiệm, năng động sáng tạo của bộ máy quản lý, chấp hành nghiêm pháp
luật của Nhà nước, quy định của Công ty, vừa hoàn thành các chỉ tiêu về
chính trị, vừa sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Trên cơ sở đó, nâng cao đời
sống vật chất,văn hóa, tinh thần cho cán bộ, công nhân viên ; thực hiện các
chính sách xã hội; góp phần xây dựng cơ sở chính trị, kinh tế, văn hóa ở địa
phương. Đặc biệt, lãnh đạo thực hiện quan điểm của Đảng về kết hợp kinh
doanh với kinh tế (chính trị với KT), kinh tế với chính trị phải được thể hiện
ở cả nhận thức và cả trong mọi hoạt động của Công Ty . Trong điều kiện thời
bình, sản xuất kinh doanh không phải “bằng mọi giá”, “nước sông công lính”
như trước đây, mà phải “bằng mọi cách” để thực hiện cho tốt, nhưng không
phải vì vậy mà không tính đến việc tiết kiệm trong sản xuất để giảm chi cho
ngân sách. Đồng thời mọi hoạt động kinh tế, dù với mục tiêu lợi nhuận là
chính, nhưng không được để ảnh hưởng đến dây chuyền sản xuất kinh doanh,
9


nhiệm vụ sản xuất kinh doanh mà ngược lại mỗi bước phát triển về kinh tế
của đơn vị phải tạo được cơ sở vật chất cũng như tinh thần để bảo toàn và
phát triển năng lực kinh doanh. Do yêu cầu phục vụ kinh doanh nên hoạt động
kinh doanh mang tính “phi doanh nghiệp”, thường mâu thuẫn với tính hiệu
quả về kinh tế, nên việc giải quyết hài hòa giữa mục tiêu lợi nhuận với nhiệm
vụ kinh doanh là một bài toán khó. Vì vậy NLLĐ toàn diện và SCĐ của tổ
chức cơ sở Đảng ở các bộ phận được thể hiện rõ nét trong việc vận dụng tốt
nhất các quan điểm, đường lối của Đảng, các quy luật kinh tế, vượt qua mọi
khó khăn thử thách, lãnh đạo thực hiện tốt cả nhiệm vụ sản xuất, cả đảm bảo
hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh. Hay nói cách khác, kết quả thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ sản cuất trong đơn vị; Sản xuất kinh doanh có hiệu

chức cơ sở Đảng trong các bộ phận trực thuộc Công ty.
Là đơn vị kinh doanh nhưng đồng thời cũng là tổ chức hành chính và
cũng vẫn hoạt động công tác đoàn thể tại Công ty,tổ chức cơ sở Đảng phải
10


thực hiện nghiêm quy định, quy trình công tác tổ chức và cán bộ; mọi vấn đề
về cán bộ và công tác cán bộ phải do tập thể cấp ủy quyết định trên cơ sở
phát huy trách nhiệm cá nhân của người giám đốc. Xây dựng được đội ngũ
cán bộ đủ về số lượng, có chất lượng cao, cơ cấu ngành nghề hợp lý, đáp ứng
được yêu cầu nhiệm vụ trước mắt cũng như phát triển lâu dài là thể hiện
NLLĐ của tổ chức cơ sở Đảng ở Công ty. NLLĐ, SCĐ của tổ chức cơ sở
Đảng của Công ty còn thể hiện ở việc thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng
chỉnh đốn Đảng, luôn quan tâm kịp thời kiện toàn hệ thống tổ chức đảng theo
đúng quy định, đặc biệt là kiện toàn các cấp ủy trên cơ sở xây dựng đội ngũ
Đảng viên có số lượng phù hợp, chất lượng tốt, giữ vững bản chất giai cấp
công nhân, phẩm chất “bộ đội Cụ Hồ”. Đảm bảo nơi nào có con người, có
hoạt động của Công , nơi đó phải có sự lãnh đạo của tổ chức đảng. Phát huy
tinh thần tự phê bình và phê bình, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ
trong sinh hoạt đảng, xây dựng tổ chức của mình luôn làm tốt việc phân loại
tổ chức đảng và Đảng viên kịp thời biểu dương khen thưởng những tổ chức
đảng và Đảng viên tốt, đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực sai trái, kiên
quyết đưa ra khỏi Đảng những Đảng viên vi phạm kỷ luật, ý chí phấn đấu
kém, không hoàn thành nhiệm vụ.
“ Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Vì vậy, xây dựng các tổ
chức quần chúng vững mạnh và lãnh đạo các tổ chức này hoạt động đúng
chức năng, nhiệm vụ là trách nhiệm và cũng thể hiện vai trò hạt nhân chính
trị, sức mạnh của tổ chức cơ sở Đảng. Trên cơ sở triển khai thực hiện tốt quy
chế dân chủ ở Công ty TNHH MTV phát triển Du Lịch Dịch Vụ TNVN
(VYST), tạo nên môi trường kinh tế-văn hóa-xã hội lành mạnh trong đơn vị

tại Đại hội CNVC 2006-2010).
Triển khai các nghị quyết của các cấp ủy đảng cấp trên, các TCCSĐ
thực sự quan tâm xây dựng tổ chức mình luôn trong sạch vững mạnh , xây
dựng đơn vị vững mạnh toàn diện , lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc mọi
nhiệm vụ được giao.
Thứ hai, NLLĐ và SCĐ của tổ chức cơ sở Đảng, được tạo thành bởi
nhân tố cơ bản là chất lượng đội ngũ Đảng viên . Đội ngũ Đảng viên là
những người trực tiếp đóng góp xây dựng các nghị quyết của Đảng, đồng
thời họ cũng là những người trực tiếp quán triệt đến quần chúng, tổ chức thực
hiện, đưa nghị quyết của đảng vào cuộc sống, là cầu nối giữa Đảng với quần
chúng. Qua hoạt động thực tiễn của mỗi Đảng viên, đường lối và nghị quyết
của tổ chức đảng các cấp được kiểm nghiệm tính đúng đắn và điều chỉnh kịp
thời. Chất lượng đội ngũ Đảng viên trước hết được tạo nên và biểu hiện ở
phẩm chất năng lực của Đảng viên , hay nói cách khác là cái đức, cái tài của
Đảng viên . Hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh , đội ngũ Đảng
viên trong đơn vị thuộc Công ty thường xuyên phải chịu sự tác động trực
tiếp của cơ chế thị trường và tiếp xúc với sự cám dỗ lợi ích vật chất, chủ
nghĩa cá nhân, thực dụng, cục bộ, hẹp hòi… Vì vậy bản lĩnh chính trị, phẩm
chất năng lực của người Đảng viên được thể hiện rõ nét nhất trong những
tình huống phải xử lý hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, giữa lợi
ích cục bộ với lợi ích chung của Công ty , của đất nước, giữa lợi ích vật chất
với ý thức chính trị-tinh thần, kiên định trước những chuyển biến, những tình
huống phức tạp về chính trị xã hội , tác động tiêu cực từ bên ngoài. Thực tế
cho thấy, không ít cán bộ Đảng viên đã có những đóng góp cho sự nghiệp
chiến đấu, chiến thắng của quân đội trước đây, nhưng đã gục ngã trước những
“viên đạn bọc đường” trong thời kỳ chuyển đổi cơ chế vừa qua. Muốn khắc
phục khuyết điểm đó, đòi hỏi người cán bộ , Đảng viên trong các bộ phận
trực thuộc Công ty phải rèn luyện cái “tâm” và cái “tài” để tạo ra chỗ dựa
chính trị-tinh thần vững chắc, có khả năng “miễn dịch”, có “sức đề kháng”
trước mọi tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, phòng chống “diễn

sơ cán bộ nhân viên biên chế vào các bộ phận cũng ổn định.Công ty có điều
kiện xây dựng đội ngũ Đảng viên về mặt số lượng, với cơ cấu hợp lý, góp
phần tạo nên NLLĐ và SCĐ của tổ chức cơ sở Đảng . Với đa số quân số là
công nhân trực tiếp lao động trên các dây chuyền sản xuất, đồng thời số cán
bộ quản lý ở các phòng ban hầu hết là có bằng cấp chuyên môn nên công tác
xây dựng đội ngũ Đảng viên ở đơn vị rất thuận lợi trong việc giữ vững, tăng
cường bản chất giai cấp công nhân, có điều kiện bố trí đủ Đảng viên làm nòng
cốt ở tất cả các bộ phận, mọi lĩnh vực hoạt động của đơn vị , nhất là những bộ
phận trọng yếu. Tỷ lệ lãnh đạo hợp lý, với số lượng Đảng viên và cơ cấu phù
hợp là điều kiện để tạo nên chất lượng, sức mạnh của cả đội ngũ Đảng viên ,
đảm bảo sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, sâu sát của tổ chức cơ sở Đảng với
mọi mặt hoạt động của đơn vị.
Thứ ba, chất lượng của cấp ủy và đội ngũ ván bộ chủ trì là một trong
những yếu tố quyết định NLLĐ toàn diện và SCĐ của các TCCSĐ ở các bộ
phận Trong sự chuyển biến rất nhanh của tình hình chính trị-xã hội, trong sự
vận động ngày càng đa dạng, phức tạp của hoạt động kinh tế, đòi hỏi các cấp
ủy đảng phải nắm vững tình hình, đề ra nghị quyết lãnh đạo đúng đắn, tiến
hành quán triệt sâu sắc đến quần chúng và tổ chức thực hiện nghị quyết đã đề
ra. Đội ngũ cán bộ chủ trì là những người trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo vận
dụng và tổ chức thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, nghị quyết của các tổ chức đảng hàng ngày ở từng bộ phận kinh doanh
dịch vụ Khách sạn Chất lượng thực hiện nhiệm vụ của đơn vị phụ thuộc chủ
yếu vào khả năng chỉ huy, quản lý điều hành của đội ngũ này. Đúng như Bác
Hồ đã dạy “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”
13


(27-273). Như vậy, cấp ủy đảng và đội ngũ cán bộ chủ trì có chất lượng cao
là cơ sở, là điều kiện để nâng cao NLLĐ toàn diện và SCĐ của tổ chức cơ sở
Đảng ở Công ty .

nhân tố này là tiền đề cho nhân tố kia và ngược lại, tuy nhiên vị trí vai trò
của các nhân tố này không ngang bằng nhau, trong đó chất lượng của đội
ngũ Đảng viên và cấp ủy đảng là nhân tố cơ bản, quyết định nhất. Nói như
vậy không có nghĩa là những yếu tố khách quan khác thì không cần lưu ý
như: âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, sự tác động mặt trái của cơ chế thị trường,
sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, cũng như tình hình
chính trị-kinh tế-xã hội của địa bàn, của đất nước. Nhưng rõ ràng, những yếu
tố này không phải là yếu tố quyết định, mà hoàn toàn có thể giải quyết theo
14


hướng giữ vững và nâng cao NLLĐ và SCĐ của tổ chức cơ sở Đảng bằng
nhân tố chủ quan là chất lượng đội ngũ Đảng viên và cấp ủy đảng.
1.1.4 Nội dung nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ
chức cơ sở đảng trong Công ty .
Điều 21 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội X) đã xác định:
“TCCSĐ (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân
chính trị ở cơ sở”. Tổ chức cơ sở Đảng trong đơn vị là nơi thực hiện sự lãnh
đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Công ty từ cơ sở. Với
những đặc điểm về tổ chức, tính chất nhiệm vụ và hoạt động của đơn vị , các
TCCSĐ có NLLĐ và SCĐ cao mới nắm vững đường lối, chủ trương của
Đảng, Nhà nước, tình hình chính trị-kinh tế-xã hội của đất nước và thế giới,
bồi dưỡng bản chất giai cấp công nhân và xây dựng phẩm chất cách mạng,
bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ , công nhân viên , phát huy tiềm năng
của các tổ chức, mỗi thành viên trong đơn vị , quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ
được giao. Và như vậy TCCSĐ mới thực sự trở thành hạt nhân lãnh đạo
chính trị trong đơn vị. .
Trước sự tác động gay gắt của cơ chế thị trường, việc giữ gìn và phát
triển năng lực sản xuất kinh doanh tại đơn vị, giữ vững định hướng nhiệm vụ
chính trị của Công ty , giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích kinh tế với thực hiện

tín và sức mạnh lãnh đạo của tổ chức đảng, quyết định sự phát triển đúng định
hướng, xây dựng đơn vị vững mạnh, luôn luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ
được giao và điều đó có ý nghĩa quyết định sự tồn tại hay không tồn tại trên
thực tế đối với mỗi đơn vị thuộc Công ty .
1.2 Cơ sở thực tiễn của nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của tổ chức cơ sở Đảng.
1.2.1. Cơ sở thực tiễn của Đảng bộ trong việc nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của tooe chức cơ sở Đảng.
Đảng ta luôn quan tâm đến việc không ngừng nâng cao NLLĐ, SCĐ
của các TCCSĐ và xác định đây là yêu cầu khách quan, cấp bách mang tính
quy luật trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Do tổ chức, chức
năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động ở các bộ phận tại Công ty có những đặc
điểm riêng biệt,nên việc nâng cao NLLĐ, SCĐ của các TCCSĐ trong các bộ
phận này ngoài những vấn đề chung như ở các loại hình tổ chức khác, còn
cần có những nội dung, biện pháp riêng cho phù hợp.
Nâng cao NLLĐ, SCĐ của các TCCSĐ ở các bộ phận Công ty là phát
huy mọi tiềm năng của yếu tố nội sinh và cả yếu tố khách quan; khắc phục
hạn chế để làm cho TCCSĐ có khả năng tốt hơn, lãnh đạo Công ty hoàn
thành nhiệm vụ sản xuất kinh daonh trong cơ chế thị trường, đồng thời đáp
ứng mọi yêu cầu phục vụ kinh doanh trên cơ sở bảo toàn và phát triển được
năng lực sản xuất kinh doanh .
Từ những luận giải về NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ nêu trên, có thể khẳng
định rằng: Nâng cao NLLĐ, SCĐ của tổ chức cơ sở Đảng ở bộ phận thuộc
Công ty là nâng cao vai trò, khả năng và hiệu lực lãnh đạo toàn diện của tổ
chức đảng đối với mọi hoạt động của đơn vị. Nâng cao NLLĐ, SCĐ của
TCCSĐ ở các bộ phận nhằm xây dựng bản thân TCCSĐ trong sạch vững
mạnh, thực sự trở thành hạt nhân lãnh đạo chính trị ở Công ty, xây dựng đơn
vị vững mạnh toàn diện, các tổ chức quần chúng trong đơn vị vững mạnh
xuất sắc.
NLLĐ, SCĐ của tổ chức cơ sở Đảng được tạo thành từ chất lượng đội

hiện nhiệm vụ chính trị của mình. Tổ chức chỉ huy là lực lượng trực tiếp, có
hiệu quả nhất trong nâng cao NLLĐ, SCĐ của tổ chức cơ sở Đảng .
Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ mối quan hệ máu thịt với quần chúng,
tổ chức cơ sở Đảng trong Công ty là cầu nối giữa Đảng với quần chúng, là
người trực tiếp tổ chức các phong trào cách mạng của quần chúng, tạo điều
kiện cho các tổ chức quần chúng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình,
chăm lo đời sống, giải quyết những tâm tư nguyện vọng của quần chúng và
qua thực tiễn hoạt động của các tổ chức quần chúng, tiếp thu những sáng kiến,
kinh nghiệm của quần chúng để bổ sung, hoàn thiện chủ trương lãnh đạo. Với
đặc điểm của sản xuất công nghiệp, quần chúng trong các bộ phận thuộc
Công ty là những người được đào tạo nghề nghiệp cơ bản, làm việc trong các
dây chuyền sản xuất có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm túc, được chọn lọc
đảm bảo các tiêu chuẩn chính trị nhất định, nên nếu biết giáo dục, vận động,
khơi dậy và phát huy sức mạnh tiềm tàng của họ, thì họ sẽ là một lực lượng
quan trọng nâng cao NLLĐ và SCĐ của TCCSĐ.
Nâng cao NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ ở các bộ phận Công ty không thể
tách rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Thủ trưởng đơn vị, hướng dẫn
của TWĐ. Do tổ chức lực lượng, nhiệm vụ chính trị, nhất là nhiệm vụ sản
xuất kinh doanh của Công ty trong từng thời kỳ có sự thay đổi theo yêu cầu
của cấp trên, đặt trong tổng thể hệ thống nhiệm vụ của các bộ phận Công ty ,
nên nội dung công tác xây dựng TCCSĐ phải được đặt dưới sự lãnh đạo
thống nhất của cấp ủy đảng, hướng dẫn của cơ quan chính trị cấp trên mới
đúng hướng và có hiệu quả.
17


Để có sức mạnh hoàn thành tốt vai trò, chức năng của mình, TCCSĐ
phải nâng cao được cả NLLĐ, cả SCĐ. Nâng cao NLLĐ là cơ sở để củng cố
và tăng cường SCĐ; nâng cao SCĐ chính là làm cho NLLĐ của TCCSĐ được
phát huy, có hiệu quả hơn. Biện pháp nâng cao NLLĐ và SCĐ của TCCSĐ

tế khác. Những tác động của mặt trái cơ chế thị trường cùng với âm mưu
“diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với Công ty là những vấn đề
làm cho cán bộ, Đảng viên, và cả các tổ chức cơ sở Đảng trong Công ty dễ bị
chệch hướng. Dù trong cơ chế quản lý kinh tế vẫn là một bộ phận của đơn vị
trực thuộc TWĐ các tổ chức cơ sở Đảng vẫn là tế bào của Đảng bộ TWĐ Vì
vậy phải trên cơ sở xây dựng chính trị, tư tưởng và tổ chức vững vàng thì việc
nâng cao NLLĐ, SCĐ của tổ chức cơ sở Đảng mới bám sát và đáp ứng được
yêu cầu lãnh đạo ở Công ty Muốn làm được điều đó, TCCSĐ phải có đội ngũ
18


Đảng viên đủ về số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng cao làm nòng cốt để việc
nâng cao NLLĐ, SCĐ có hiệu quả thiết thực.
Nâng cao NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc tập
trung dân chủ, chấp hành nghiêm nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên,
giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong cấp ủy, tổ chức đảng và trong toàn
đơn vị. Trong hoạt động của Công ty, hiệu quả sản xuất kinh doanh phụ thuộc
rất lớn, nhiều khi chủ yếu vào người giám đốc. Cho nên, tuy cùng trong cấp
ủy, nhưng nếu ý thức đảng không cao, người giám đốc vẫn thường có tâm lý
là “cấp trên”. Cộng với việc giải quyết không tốt mối quan hệ giữa cấp ủy với
ban giám đốc, đặc biệt khi cấp ủy đã mất đoàn kết thì cũng khó giữ được sự
đoàn kết trong tổ chức đảng, tạo nên sự hoang mang, mất lòng tin trong toàn
đơn vị. Như vậy vai trò lãnh đạo của TCCSĐ sẽ bị suy giảm, không có điều
kiện để nâng cao được NLLĐ và SCĐ. Nâng cao NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ
chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung
dân chủ, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong cấp ủy và toàn Công ty .
Nâng cao NLLĐ, SCĐ của TCCSĐ là trách nhiệm của mọi tổ chức,
mọi lực lượng trong Công ty, trong đó trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, Đảng
viên và cấp ủy là quyết định. Từ luận giải về những yếu tố tạo thành NLLĐ
và SCĐ của TCCSĐ ở bộ phận có thể khẳng định: muốn nâng cao được

chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể, vừa tạo nên, vừa là biểu hiện rõ nét
nhất sức mạnh và độ bền vững của TCCSĐ. NLLĐ và SCĐ là kết quả của cả
quá trình xây dựng và hoạt động thực tiễn của TCCSĐ, được quyết định cơ
bản bởi những yếu tố tự thân, điều kiện chủ quan, đồng thời với sự lãnh đạo,
chỉ đạo của các cấp ủy cấp trên. NLLĐ và SCĐ của TCCSĐ ở các bộ phận
trong Công ty là yếu tố quyết định việc hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh (VYST), nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế, đưa Công ty phát triển
đúng định hướng, bảo toàn và phát triển được năng lực sản xuất kinh daonh
hoàn thanh vượt mức kế hoạch đưa ra TWĐ, giữ vững sự ổn định chính trị, tư
tưởng, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện .

20


Chương II
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM NÂNG CAO
NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ
ĐẢNG CÔNG TY TNHH MTV PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỊCH VỤ
TNVN TRONG NĂM 2012-2015
2.1 Khái quát về tình hình hoạt động của Công ty.
Tiền thân của Công ty là đơn vị thuộc TWĐ Thanh Niên Cộng Sản Hồ
Chí Minh . Có chức năng nghiên cứu tham mưu đề xuất cho Ban Bí thư trung
ương Đoàn về chủ chương,hoạt động tham quan Du Lịch đảm bảo nội dung
giáo dục của Đoàn phù hợp với tuổi trẻ .
- Phối hợp chặt chẽ với Tổng cục du lịch Việt Nam để tổ chức hoạt
động du lịch cho Thanh thiếu niên Việt Nam và khách Quốc tế.
- Quan hệ với Hội đồng du lịch thanh niên thế giới và tổ chức du lịch
của Thanh niên các nước Xã Hội Chủ Nghĩa để trao đổi kinh nghiệm và phối
hợp hoạt động du lịch đào tạo cán bộ.
Hầu hết các bộ phận ở Công ty về tổ chức được xây dựng có khoa

tín nhiệm qua dân chủ bầu cử, có phẩm chất đạo đức, năng lực, bản lĩnh xử
trí tình huống khó khăn và khả năng đoàn kết. Không phân biệt cán bộ chính
trị hoặc cán bộ chỉ huy”; phải “Củng cố kiện toàn cơ quan chính trị và đội
ngũ cán bộ chính trị cả về cơ cấu, số lượng và chất lượng, cả cán bộ chủ trì,
cơ quan và cơ sở để nâng cao hiệu lực xây dựng Đảng và công tác chính trị”.
Trước tình hình nhiệm vụ và thực trạng của các TCCSĐ; các bộ phận
có sự chuyển quan trọng, NLLĐ và SCĐ dần được nâng lên, thể hiện ở một
số nội dung chủ yếu:
Chi bộ đã quan tâm lãnh đạo xây dựng các TCCSĐ, chỉ đạo kiện toàn
về tổ chức, chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ,Đảng viên, trước hết là về
chính trị, tư tưởng. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ ( 2012- 2015 ) xác định rõ
những nội dung trọng tâm của công tác xây dựng Đảng trong Công ty là:
“Tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng với quyết tâm
nỗ lực cao hơn, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, phát huy bản
chất giai cấp công nhân, giữ vững nguyên tắc “Đảng lãnh đạo Công ty tuyệt
đối, trực tiếp về mọi mặt”, nâng cao tính tiền phong, gương mẫu của Đảng
viên. Bồi dưỡng nâng cao trình độ, kiến thức, NLLĐ toàn diện và SCĐ của tổ
chức đảng và đội ngũ Đảng viên làm nòng cốt xây dựng Công ty vững mạnh
toàn diện, khắc phục những yếu kém, ngăn chặn và đẩy lùi những suy thoái,
tạo sự chuyển biến tích cực trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức”.
Nghị quyết Đại hội Đản bộ Công ty nhấn mạnh: “Tiếp tục đẩy mạnh
thực hiện cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị
quyết TW6( lần 2), nâng cao NLLĐ toàn diện và SCĐ của các cấp uỷ, tổ chức
đảng, nâng cao tính tiên phong gương mẫu của đội ngũ đảng viên, xây dựng
cấp uỷ, tổ chức đảng trong sạch vững mạnh làm nòng cốt xây dựng Công ty
vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển nhiệm vụ của Công ty
trong tình hình mới ”.
Nhờ đó, nhận thức về vai trò hạt nhân chính trị của TCCSĐ trong Công
ty được đúng đắn hơn. Các cấp ủy, tổ chức đảng ở cơ sở đã chủ động nắm bắt
tình hình, lãnh đạo chặt chẽ công tác giáo dục chính trị tư tưởng; tập trung

đạo của cấp ủy, giữ vững nguyên tắc sinh hoạt đảng, thực hiện công tác kiểm
tra, luôn được quan tâm lãnh đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả.
Các cấp ủy, tổ chức đảng đã nghiêm túc chấp hành Điều lệ Đảng, qui
định của Đảng ủy TWĐ về tổ chức sự lãnh đạo của Đảng trong đơn vị. Hệ
thống tổ chức đảng đã được kiện toàn củng cố tương ứng với hệ thống tổ
chức chỉ huy. Hiện tại có 5/5 bộ phận có tổ chức đảng trực thuộc chi bộ Công
ty (trong đó có 26 đảng viên= 23% được chia làm 5 tổ Đảng tương ứng với 5
bộ phận chuyên môn chính trị của đơn vị ). Chi ủy gồm 5 đồng chí
Các cấp ủy đảng đã thường xuyên chăm lo kiện toàn tổ chức đảng, gắn
việc củng cố kiện toàn tổ chức đảng với chấn chỉnh, kiện toàn tổ chức chính
quyền; từng bước cụ thể hóa cơ chế lãnh đạo của Đảng cho phù hợp với quy
mô tổ chức lực lượng, tính chất, nhiệm vụ của từng loại hình đơn vị, nhất là
các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất từ
ban lãnh đạo xuống các bộ phận thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức và chế
độ sinh hoạt Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng sinh
hoạt, đẩy mạnh công tác kiểm tra, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong
đảng bộ, đơn vị. Trong xây dựng tổ chức đảng ở các bộ phận, luôn lấy xây
dựng chi bộ làm khâu then chốt; kết hợp chặt chẽ xây dựng đội ngũ cán bộ
với xây dựng đội ngũ Đảng viên , kiện toàn cấp ủy với sắp xếp, bổ nhiệm cán
bộ chủ trì, gắn xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh với xây dựng
đơn vị vững mạnh toàn diện. Chú trọng kiện toàn cấp uỷ và tổ chức đảng cho
phù hợp với việc chấn chỉnh tổ chức lực lượng và tình hình, đặc điểm sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Qua các kỳ đại hội, chất lượng cấp uỷ
được nâng lên, cấp uỷ viên mới chiếm 23%, đảng uỷ viên có trình độ đại học
và trên đại học trên 90%, hầu hết cán bộ chủ trì đều trúng cấp uỷ với số phiếu
23


tín nhiệm cao. Công tác xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ Đảng viên
được các đảng bộ quan tâm chỉ đạo, gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ. Đại đa

đảng bộ, Công ty trong giai đoạn tới.
Sự lãnh đạo toàn diện của TCCSĐ đối với mọi hoạt động của đơn vị
được đảm bảo; nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ
trách được giữ vững. Việc xây dựng, bổ sung và hoàn thiện quy chế làm việc
của cấp uỷ, chi bộ được coi trọng; đồng thời cũng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng
hệ thống quy chế làm việc trong các bộ phận , nhất là các quy chế, quy định
về kinh tế, tài chính, quản lý và sử dụng lao động, phân phối thu nhập...Hệ
thống quy chế đó là cơ sở để bảo đảm thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ
theo quy định Công ty, thống nhất lãnh đạo mọi hoạt động của đơn vị và giải
quyết tốt mối quan hệ giữa lãnh đạo, chỉ huy.
Nội dung và phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng từng bước
được đổi mới phù hợp với nhiệm vụ và điều kiện hoạt động của các bộ phận
24


thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Giám đốc điều hành, Công nhân làm
chủ”, thống nhất quy trình ra nghị quyết và tổ chức triển khai kiểm tra thực
hiện nghị quyết; nghị quyết đề ra ngày càng sát hợp và có tính khả thi. Nề
nếp, chế độ sinh hoạt, chế độ “Ngày Đảng” được các cấp uỷ, chi bộ duy trì
khá tốt; ngoài sinh hoạt ra nghị quyết lãnh đạo toàn diện, chú trọng ra nghị
quyết lãnh đạo chuyên đề, tập trung giải quyết những vấn đề trọng yếu của
Công ty. Chất lượng sinh hoạt của các cấp ủy, chi bộ được nâng lên cả về tính
lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu. Đặc biệt đã lãnh đạo và tiếp tục
thực hiện nghiêm túc cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tạo ra sự
chuyển biến quan trọng trong công tác xây dựng đảng, góp phần giữ gìn sự
đoàn kết, thống nhất trong đảng bộ, đơn vị. Công tác bồi dưỡng lý luận,
nghiệp vụ về công tác xây dựng đảng cho cấp uỷ mới được chú trọng, có nội
dung phù hợp, kết hợp giữa yêu cầu chung của Đảng bộ Tổng cục với thực tế
tổ chức đảng ở các bộ phận .
Công tác kiểm tra đảng có sự chuyển biến rõ nét. Nội dung kiểm tra




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status