Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tạm giam và việc hoàn thiện quy định này - Pdf 35

MỤC LỤC
MỤC LỤC................................................................................................................................ 1
I. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ TẠM GIAM.......................................2
1. Khái niệm vềbiện pháp ngăn chặn tạm giam................................................................2
2. Mục đích và ý nghĩa của biện pháp tạm giam..............................................................3
3. Đối tượng áp dụng.......................................................................................................4
4. Căn cứ áp dụng BPNC tạm giam.................................................................................6
5. Thẩm quyền ra lệnh tạm giam......................................................................................7
6. Thủ tục tạm giam.........................................................................................................8
7. Thời hạn tạm giam.......................................................................................................8
II. HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TẠM GIAM...........................................9
1. Thực trạng áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam....................................................9
2. Phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về tạm giam................................10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Biện pháp ngăn chặn là một chế định quan trọng trong pháp luật tố tụng
hình sự. Áp dụng các quy định về biện pháp ngăn chặn một cách đúng đắn,
chính xác là sự bảo đảm cần thiết cho việc ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm
minh đối với kẻ phạm tội, bảo đảm không để lọt tội phạm, không làm oan người
vô tội.
Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn có tính chất nghiêm
khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình sự. Người bị áp dụng
biện pháp tạm giam bị cách ly với xã hội trong một thời gian nhất định, bị hạn
chế một số quyền công dân. Thời gian qua, trên cơ sở các quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật liên quan về tạm
giam, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá
trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo
pháp chế và quan trọng nhất là đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

hoặc 16 tháng.
2


Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất nhưng lại không phải
là hình phạt tù bởi vì mục đích của tạm giam là ngăn chặn tội phạm và hành vi
trốn tránh pháp luật của người phạm tội, bảo đảm cho việc điều tra, truy tế, xet
xử hoặc thi hành án được tiến hành đúng đắn, còn hình phạt là biện pháp cưỡng
chế nghiêm khắc của Nhà nước do Tòa án áp dụng nhằm trừng phạt người phạm
tội và nhằm mục đích cải tạo họ thành người có ích cho xã hội.
Tạm giam là biện pháp có tính chất lựa chọn “có thể áp dụng” tức là
không phải bắt buộc áp dụng đồng loạt cho mọi bị can, bị cáo khi đã có đủ căn
cứ mà những căn cứ chỉ là điều kiện đủ để áp dụng tạm giam.
Với mục đích ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm, việc quy định biện
pháp tạm giam trong BLTTHS có ý nghĩa rất quan trọng. Biện pháp tạm giam
góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, củng cố, tăng cường pháp chế
XHCN, bảo vệ sự an toàn và vững mạnh của chế độ XHCN, bảo vệ tài sản, tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân được Hiến pháp quy định
như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cư trú và đi lại…, tạm
giam đúng còn bảo đảm cho việc đấu tranh phòng chống và phòng ngừa tội
phạm có hiệu quả, bảo đảm hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được
thuận lợi, thể hiện sự chuyên chính của nhà nước XHCN trong việc đấu tranh
phòng chống tội phạm.
Như vậy có thể hiểu: “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị
cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng hay bị can, bị cáo
phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt
tù trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc
tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội”. 1Đây chính là quan điểm chính
thống của Trường Đại học Luật Hà Nội được nêu trong giáo Luật tố tụng hình

Thứ hai, việc quy định biện pháp tạm giam thể hiện sự cưỡng chế của Nhà
nước trong việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm góp phần nâng cao hiệu lực
quản lý của Nhà nước, củng cố, tăng cường pháp chế XHCN. Biện pháp ngăn
chặn nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng ảnh hưởng trưc tiếp tới quyền
tự do cá nhân, người bị áp dụng biện pháp này sẽ bị cách li khỏi xã hội trong
một thời gian nhất định, bị hạn chế một số quyền công dân: quyền tự do đi lại,
quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Chính vì thế mà biện pháp tạm giam có tác
dụng ngăn ngừa tội phạm tiếp tục thực hiện, ngăn ngừa hậu quả hoặc gây khó
khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Thứ ba, việc quy định biện pháp tạm giam tạo cơ sở pháp lý vững chắc,
góp phần bảo đảm và tôn trọng các quyền cơ bản của công dân.BPNC tạm giam
không chỉ thể hiện tính cưỡng chế Nhà nước mà nó còn là phương tiện hữu hiệu
để bảo vệ những quyền đó khi nó có nguy cơ bị xâm hại hoặc đang bị xâm hại.
Thứ tư, tạm giam thể hiện tính ưu việt của nhà nước ta. Pháp luật XHCN
không cho phép bất cứ hành vi nào xâm hại tới quyền và lợi ích chính đáng của
công dân dù đó là do ai thực hiện.
3. Đối tượng áp dụng
3.1. Những trường hợp áp dụng
Biện pháp tạm giam chỉ áp dụng chi bị can, bị cáo. Những người không
phải là bị can, bị cáo thì không áp dụng biện pháp tạm giam mà có thể áp dụng
biện pháp ngăn chặn khác. Theo khoản 1 ĐIều 88 BLTTHS năm 2003 “Tạm
giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp sau
đây:
a) Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm
trọng;
b) Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ
luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó
có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm
tội.”
4

Như đã phân tích ở trên, không phải bị can, bị cáo nào cũng phải áp dụng
biện pháp tạm giam. Khoản 2 Điều 88 BLTTHS 2003 đã quy định các trường
hợp không được áp dụng biện pháp tạm giam mà áp dụng các biện pháp khác,
trừ trường hợp đặc biệt:
- Bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang thời kỳ nuôi con dưới 36 tháng
tuổi có nơi cư trú rõ ràng.
- Bị can, bị cáo là người già yếu, người bị bệnh nặng có nơi cư trú rõ ràng.
Đối với bị can, bị cáo thuộc một trong hai trường hợp nói trên cần áp
dụng BPNC khác, có thể là cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc bảo lãnh…
Tuy nhiên, đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang thời kì nuôi
con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng có nơi cư trú rõ ràng,
5


nếu có đủ điều kiện tạm giam thì vẫn có thể ra lệnh tạm giam, các trường hợp đó
được quy định cụ thể tại các điểm a, b, c của khoản 2 Điều 88 như sau:
- Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã.
- Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục
phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét
xử.
- Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia có đủ căn cứ cho rằng
nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
Ngoài các quy định nói trên, có thể coi các trường hợp sau đây cũng là
các trường hợp không cần thiết phải tạm giam mà có thể áp dụng BPNC khác:
+ Người bị tạm giam có căn cước rõ ràng, hành vi phạm tội thuộc tội ít nghiêm
trọng, việc áp dụng các BPNC khác không ảnh hưởng đến việc điều tra, xét xử
hoặc thi hành án.
+ Người bị tạm giam được người khác bảo lãnh và có đủ điều kiện để áp dụng
BPNC này.
Điều 303 BLTTHS còn quy định việc tạm giam người chưa thành niên,

Thứ nhất, khi có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Hành vi gây khó khăn cho hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thể hiện qua việc sau khi thực
hiện hành vi phạm tội người phạm tội có thể bỏ trốn, tiêu hủy, làm giả hoặc thay
đổi chứng cứ, xóa các dấu vết của vụ án, mua chuộc, dụ lỗ, lừa phỉnh, khống chế
người làm chứng, người bị hại… dẫn đến gây khó khăn cho việc xác định, làm
rõ sự thật khách quan vụ án.
Từ thực tiễn cuộc đấu tranh chống tội phạm có thể rút ra những căn cứ
cần xem xét để nhận định bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc tiến hành tố tụng
thường là:
Thứ hai, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội. Để
nhận định bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội phải dựa vào nhiều tình tiết và xem xét
đánh giá một cách tổng hợp. Những tình tiết đó thường là: Tính chất của tội
phạm mà bị can, bị cáo đã thực hiện; Nhân thân của bị can, bị cáo; Những biểu
hiện cụ thể của bị can, bị cáo như đe dọa, khống chế, mua chuộc người làm
chứng, người bị hại, sử dụng thời gian bất minh, đi lại gặp gỡ bọn tội phạm.
Thứ ba, để bảo đảm thi hành án hình sự. Công tác thi hành án thực sự là
vấn đề quan trọng. Khi cần bảo đảm thi hành án, tùy theo tính chất của từng vụ
án và nhân thân người bị kết án, Tòa án có thể áp dụng BPNC thích hợp, trong
đó có BPNC tạm giam để đảm bảo cho việc thi hành án.
5. Thẩm quyền ra lệnh tạm giam
Theo khoản 3 Điều 88:“Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt được
quy định tại Điều 80 của Bộ luật này có quyền ra lệnh tạm giam. Lệnh tạm giam
của những người quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải
được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Trong thơi hạn ba
ngày, kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ, tài
liệu liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn
hoặc quyết định không phê chuẩn. Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ
quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn”.
Theo Điều 5 Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT – VKSNDTC – BCA –

phải tiến hành những thủ tục tìm kiếm không cần thiết, gây tốn kém.
7. Thời hạn tạm giam
Thời hạn tạm giam được quy định tại Điều 71 BLTTHS năm 1988 nhưng
ở BLTTHS năm 2003 thì lại không quy định.
Ít nghiêm Nghiêm
Rất
Đặc biệt
trọng
trọng
nghiêm
nghiêm
trọng
trọng
Thời hạn điều tra
Gia hạn điều tra
Thời hạn truy tố
Gia hạn truy tố
Trả hồ sơ điều tra bổ
sung
Gửi hồ sơ cho tòa án
Tòa án chuẩn bị xét xử

60
30
20
10
120

90
90

15

15

30

30

2

Xem Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT – VKSNDTC – BCA – BQP ngày 07/09/2005 về quan hệ phối hợp giữa
cơ quan điều tra và viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2003.

8


Trả hồ sơ điều tra bổ 60
sung
Ra quyết định xét xử
15

60

60

60

15

15

nhiều, số người tạm giam bị Tòa án các cấp xét xử rồi tuyên phạt mức hình phạt
bằng hoặc ngắn hơn tạm giam cũng giảm. VKS các cấp trả tự do theo khoản 6
Điều 23 Luật tổ chức VKSND 1992 cho những người bị tạm giam không có căn
cứ và trái luật cũng giảm dần.
Mặc dù đã có những tiến bộ trong việc áp dụng BPNC nghiêm khắc này,
song thời gian qua việc áp dụng các quy định về BPNC tạm giam trong thực tiễn
cũng vẫn còn những vi phạm tồn tại như sau: Đường lối áp dụng BPNC có nơi
có vụ chưa chính xác, không cần thiết giam cũng vẫn giam, chưa thực hiện đúng
các quy định tại Điều 88 BLTTHS, một số nơi còn giam cả người chưa thành
niên phạm tội ít nghiêm trọng có mức hình phạt dưới 2 năm, tạm giam đến khi
Tòa án xét xử tuyên án treo, tạm giam nhưng Tòa án tuyên mức án bằng hoặc
ngắn hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giam. Cơ quan tiến hành tố tụng ở một số
nơi chưa chấp hành đúng quy định về thời hạn tạm giam.
Thời hạn điều tra, truy tố còn để kéo dài là do hồ sơ điều tra còn thiếu các
tài liệu chứng cứ, thủ tục tố tụng, cơ quan truy tố và cơ quan xét xử nghiên cứu
3

Xem Nghị định 89/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 07/11/1998 về quy chế tạm giữ, tạm giam.

9


hồ sơ còn chậm, chưa phát hiện kịp thời các chứng cứ. Trong các vụ trả hồ sơ có
bị can bị tạm giam phải kéo dài thời hạn tạm giam gây khó khăn cho cơ quan
quản lí giam giữ. Chất lượng hồ sơ điều tra truy tố còn hạn chế do các nguyên
nhân: một số vụ án phức tạp có nhiều bị can bị phạm nhiều tội, việc đánh giá
chứng cứ buộc tội gặp khó khăn. Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán chưa
làm tròn trách nhiệm thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để chứng minh tội
phạm trong quá trình điều tra, truy tố và chuẩn bị xét xử. Một số vụ án lớn phải
kéo dài do phải xin đường lối xử lí cảu các cơ quan tiến hành tố tụng các cấp.

chọn biện pháp bỏ trốn khi biết mình có thể phải chịu mức phạt cao. Không ít bị
can, bị cáo khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì ăn năn hối hận, thành khẩn
10


khai báo để nhận được chính sách khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt theo quy
định của pháp luật. Có những trường hợp tuy phạm tội rất nghiêm trọng hay đặc
biệt nghiêm trọng nhưng là với lỗi đột xuất, không dự mưu do nhất thời không
làm chủ được mình... có những trường hợp là bị can, bị cáo bị khởi tố, truy tố,
xét xử với tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nhưng về sau lại được
thay đổi với tội nhẹ hơn. Trong trường hợp này việc áp dụng BPNC với họ liệu
có thiếu căn cứ? Tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi cao hay thấp, mức
hình phạt mà bị can, bị cáo có thể phải chịu và vấn đề cần được làm rõ, là yêu
cầu cần đạt tới trong giai đoạn hoạt động tố tụng nhưng không thể là căn cứ áp
dụng biện pháp tạm giam, căn cứ ấy phải là những căn cứ có thật, có khả năng
dự báo việc xảy ra bỏ trốn chứ không thể là căn cứ suy diễn.
Thứ hai, trong quy định tại điểm b khoản 1 Điều 88 và khoản 2 Điều 88
có sự mâu thuẫn, điểm b khoản 1 Điều 88 cùng loại với hai căn cứ “bỏ trốn và bị
bắt theo lệnh truy nã” và “được áp dụng biện pháp ngăn chặn…cản trở nghiêm
trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử” được quy định tại điểm a, b khoản 2
Điều 88. Nếu như ở điểm b khoản 1 Điều 88 còn phải thỏa mãn căn cứ “Bị can,
bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên
hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở điều tra, truy tố,
xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội” như là điều kiện cần thì ở điểm a, b khoản
2: bị can, bị cáo phạm bất cứ loại tội nào cũng có thể bị tạm giam. Tức là căn cứ
áp dụng biện pháp tạm giam của một số đối tượng đáng được hưởng chính sách
đặc biệt lại mở rộng hơn các đối tượng bình thường. BLTTHS dùng phân loại
tội phạm và mức hình phạt để làm căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam như trên
chưa thống nhất, phù hợp với các đối tượng khác nhau. Căn cứ theo khoản 1
Điều 88 thì chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, cơ quan

quyết định áp dụng tạm giam phải có các tài liệu, chứng cứ nêu rõ được căn cứ
thực tế chứng minh sự cần thiết phải tạm giam theo quy định tại khoản 1 Điều
này;
4. “…”
2.3. Sự chênh lệch thời hạn tạm giam và thời hạn điều tra
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn để giúp Cơ quan điều tra ngăn chặn tội
phạm bỏ trốn và thuận tiện trong việc điều tra vụ án hình sự. Chính vì vậy, thời
hạn tạm giam để điều tra phải phù hợp với thời hạn điều tra một vụ án hình sự.
Thời hạn điều tra một vụ án hình sự nhiều hơn thời hạn tạm giam bị can
sẽ dẫn đến tình trạng vụ án chưa điều tra xong, nhưng đã phải trả tự do cho bị
cáo bởi hết thời hạn tạm giam. Điều này dễ dẫn đến tình trạng bị can được thả sẽ
bỏ trốn, hủy bỏ tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án mà bị cáo cất giữ…và gây
khó khăn không nhỏ cho việc điều tra, truy tố, xét xử. Nhưng nếu hết thời hạn
tạm giam mà Cơ quan điều tra không thả bị can ra là vi phạm pháp luật. Cụ thể
theo quy định tại Điều 119 và Điều 120 của BLTTHS thì thời hạn điều tra tối đa
là 3 tháng. Đối với tội nghiêm trọng thì thời hạn điều tra tối đa là 12 tháng còn
thời hạn tạm giam để điều tra là 9 tháng và tội đặc biệt nghiêm trọng thì thời hạn
điều tra là 16 tháng nhưng thời hạn tạm giam lại chỉ có 12 tháng.
Như vậy, với quy định của luật mới thì thời hạn tạm giam để điều tra và
thời hạn điều tra vẫn lệch nhau. Điều này có nghĩa là chưa điều tra xong thì cơ
quan điều tra đã phải thả tội phạm hoặc cơ quan điều tra lại phải sử dụng cách cũ
là khi hết hạn tạm giam chưa điều tra xong thì cứ ra kết luận điều tra để rồi sẽ lại
được Viện Kiểm sát trả lại hồ sơ để điều tra tiếp.
Theo ý kiến cá nhân, thì vì việc quy định riêng về thời hạn tạm giam và
thời hạn điều tra thì pháp luật nên xem xét có một quy định thống nhất về thời
hạn tạm giam để điều tra chứ không chia ra thời hạn tạm giam và thời hạn điều
tra.
12



thể tiếp tục phạm tội mới nên cần phải coi khả năng bị can, bị cáo có thể trốn
hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội là căn cứ chủ
yếu để xem xet, quyết định việc tạm giam. Ngoài ra cũng cần xem xét đến một
số yếu tố khác có thể được dùng làm căn cứ để áp dụng (hoặc không áp dụng)
biện pháp ngăn chặn này như khả năng gây nguy hại đến an ninh quốc gia hoặc
trật tự an toàn xã hội của bị can, bị cáo nếu không tạm giam họ, loại và mức
hình phạt mà BLHS quy định đối với hành vi phạm tội được thực hiện, một số
yếu tố về nhân thân,…
Liên quan đến việc hạn chế việc tạm giam bị can, bị cáo đối với một số
loại tội phạm, BLTTHS của nước ta chưa có quy định đối với loại (nhóm) tội
13


phạm nào có thể hạn chế việc tạm giam. Trên thực tế có những trường hợp bị
can, bị cáo thuộc nhóm tội phạm về kinh tế – chức vụ, họ có nơi cư trú rõ ràng,
có đủ điều kiện để áp dụng BPNC khác, họ không có khả năng và điều kiện thực
tế để có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục
phạm tội nhưng họ vẫn bị tạm giam vì lý do đơn giản để phục vụ cho công tác
điều tra, truy tố, xét xử.
Theo cá nhân em, việc hạn chế bị can, bị cáo đối với một số loại tội phạm
là rất cần thiết. Trong điều kiện thực tế của Việt Nam hiện nay có thể hạn chế
việc tạm giam bị can, bị cáo đối với một số loại tội phạm sau:
+ Nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
+ Nhóm tội phạm về môi trường
+ Một số tội phạm thuộc nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu trừ các tội:
cướp, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản….
+ Một số tội phạm xâm phạm an toàn công cộng trật tự công cộng và trật
tự quản lý hành chính…
2.6. Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam đối với người chưa thành niên phạm
tội

Lệnh bắt phải là lệnh hợp pháp với những nội dung như theo quy định tại khoản
2 Điều 88 BLTTHS 2003. Tuy nhiên, từ quy định này cũng nảy sinh một vấn đề
như: nếu việc tạm giam là trái pháp luật và VKS không phê chuẩn thì trách
nhiệm thuộc về Điều tra viên hay Thủ trưởng cơ quan điều tra? Trường hợp việc
tạm giam được VKS phê chuẩn thì người phê chuẩn có phải chịu trách nhiệm
không, nếu phải chịu thì trách nhiệm đến đâu? Điều này luật chưa quy định rõ
ràng nhưng trong thực tiễn lại xảy ra rất nhiều. Luật quy định, trong 3 ngày, kể
từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn lệnh tạm giam và trả hồ sơ cho Cơ quan
điều tra. Nhưng nếu đến ngày cuối cùng, VKS không phê chuẩn, không khởi tố
được đối tượng vì cho rằng chưa đủ căn cứ, thì thời gian đối tượng bị tạm giam
chờ VKS phê chuẩn, cơ quan nào sẽ chịu trách nhiệm bồi thường trong khi cả
hai đều làm đúng luật? ĐIều này đã xảy ra trên thực tế và là một điều vô cùng
nổi cộm và cần giải quyết sớm.
Theo cá nhân em, pháp luật cần có quy định chặt chẽ hơn nữa về trách
nhiệm pháp lý của các cơ quan thực hiện những chức năng nhiệm vụ quan trọng
trong bộ máy nhà nước nói chung và những cá nhân trực tiếp thi hành pháp luật
nói riêng để tránh áp dụng một cách tùy tiện vì “không phải chịu trách nhiệm”
hoặc có thì cũng rất hạn chế.
2.8. Việc thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện
pháp tạm giam
Do tạm giam là hình thức ngăn chặn liên quan trực tiếp đến quyền tự do
cá nhân được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, nên trình
tự, thủ tục, thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn này cần phải
được pháp luật quy định chặt chẽ. Pháp luật tố tụng hình sự chỉ nên giới hạn số
lượng đối tượng có thẩm quyền quyết định việc tạm giam theo hướng:
Về nguyên tắc chỉ nên giao cho cấp Trưởng (Viện trưởng Viện kiểm sát,
Chánh án tòa án) có quyền quyết định việc tạm giam. Trong trường hợp cấp
trưởng vắng mặt thì cấp Phó được cấp Trưởng ủy quyền mới có thẩm quyền
này.
Không giao cho người của Cơ quan điều tra thẩm quyền này mà họ chỉ có

3. Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
4. Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2008).
5. Thông tư liên tịch của Viện kiểm sát tối cao, Bộ công an và Bộ quốc phòng số
05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005 về quan hệ phối hợp giữa cơ
quan điều tra và viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của
BLTTHS năm 2003.
6. Giáo trình luật TTHS, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb.CAND, Hà Nội, 2009,
2010, 2011.
7. Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật TTHS Việt Nam, Nxb.
Đại học quốc gia Hà Nội, 2001.
8. Bình luận khoa học BLTTHS năm 2003, Võ Khánh Vinh (chủ biên), Nxb.
16


CAND, Hà Nội, 2004, tr. 180 - 221.
9. Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế trong TTHS, Trần Quang Tiệp, Nxb.
CTQG, Hà Nội, 2005, tr. 42 - 168.
10.Tạp chí khoa học pháp lý tháng 2/2004.
11.Nguyễn Mai Bộ, “Thời hạn tạm giam trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003” – Tạp
chí luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 7/2008.
12.Lê Minh Tuấn, “Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về
tạm giam nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”.
13.“Vướng mắc về thời điểm kết thúc của thời hạn tạm giữ và tạm giam được
quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự” - Tiến sỹ Đỗ Đức Hồng Hà và Cử
nhân Hoàng Thị Oanh.
14.Bàn về sự tùy nghi trong việc áp dụng biện pháp tạm giam.
/>
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status