Bài tập cá nhân/ tuần 1- Số 15
Ông A và bà B có ba người con chung là C, D, E. C cư trú tại quận N thành phố
H, D, E cư trú tại quận P thành phố Q. Năm 2005 ông A và bà B chết không để lại di
chúc. Ông A và bà B có một mảnh đất diện tích 500m 2 tại quận M thành phố H. Sau khi
ông A và bà B chết C, D xảy ra tranh chấp về việc phân chia di sản thừa kế mảnh đất
trên. C đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chia thừa kế. Anh chị hãy xác định:
a.
b.
Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết vụ án này? Vì sao?
Sau khi nhận đơn khởi kiện của C, Tòa án đã không thụ lý vụ án vì
cho rằng tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng mảnh đất trên chưa qua hòa
giải cơ sở. Anh ( chị ) hãy bình luận cách giải quyết trên của Tòa án?
a.Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án.
1
Việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ việc tranh chấp đất đai giữa các
cấp Tòa án bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc được chính xác, đúng pháp luật.Ở Việt
Nam hệ thống Tòa án được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ. Trong các Tòa án
chỉ có Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp tỉnh là có thẩm quyền xét xử
sơ thẩm vụ việc tranh chấp đất đai.
Cơ sở của việc phân định thẩm quyền giữa các cấp Tòa án là do đường lối, chính
sách của Đảng về hoạt động tư pháp, tính chất phức tạp của tranh chấp về đất đai, hệ
thống tổ chức Tòa án, trinhg độ chuyên môn nghiệp vụ…
Khoản 7 Điều 25 BL TTDS quy định rõ:“Tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài
sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 quy định: tranh chấp
đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn mà một bên
sản; thu thập tài liệu từ cơ quan nhà đất…
Theo khoản 1 Điều 174 BLDS năm 2005, bất động sản bao gồm: a) Ðất đai; b)
Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công
trình xây dựng đó;c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai; d) Các tài sản khác do pháp
luật quy định.
Như vậy tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận
M thành phố H.
b.Bình luận về cách giải quyết của Tòa án.
3
Hiện nay, theo quan điểm của những người làm công tác thực tiễn thì mọi tranh
chấp đất đai đều phải qua thủ tục hoà giải tại UBND xã, phường trước khi khởi kiện ra
Toà án.
Theo Luật Đất đai năm 2003 thì vấn đề hoà giải cơ sở đối với tranh chấp đất đai
không là thủ tục bắt buộc. Theo Khoản 1 Điều 135 Luật Đất đai năm 2003 thì “Nhà
nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất
đai thông qua hoà giải ở cơ sở”. Như vậy, theo quy định này thì Nhà nước khuyến khích
giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở chứ không coi hoà giải cơ sở là
thủ tục bắt buộc trước khi khởi kiện ra Toà án.
Thế nhưng, theo quy định tại Khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 thì
“Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại UBND xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc
các bên đương sự không nhất trí” thì được giải quyết như sau: “Tranh chấp về quyền sử
dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các
loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài
sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết”. Quy định này dẫn tới cách hiểu
trong thực tiễn tố tụng tại Toà án là mọi tranh chấp đất đai đều bắt buộc phải thông qua
con đường hoà giải cơ sở.