Khảo sát thực trạng và nhu cầu làm thêm của sinh viên khoa Quản lý kinh doanh – Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội - Pdf 35

MỤC LỤC


LỜI CẢM ƠN
Có thể thấy trong những năm gần đây, khoa Quản lý kinh
doanh luôn đi đầu trong việc đẩy mạnh hoạt động Nghiên cứu khoa
học của sinh viên. Giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học khoa
Quản lý kinh doanh được mở ra hằng năm là minh chứng rõ nhất
cho điều đó.
Chúng em cảm thấy mình thật may mắn khi được tiếp cận với
phong trào Nghiên cứu khoa học của khoa ngay từ năm nhất; may
mắn hơn nữa khi đề tài của chúng em được chọn vào vòng sơ khảo.
Đề tài “Khảo sát thực trạng và nhu cầu làm thêm của sinh
viên khoa Quản lý kinh doanh – Trường Đại học Công nghiệp
Hà Nội” là đề tài đầu tiên của chúng em, đưa chúng em đến gần
hơn với hoạt động Nghiên cứu khoa học khi còn học tập trên ghế
nhà trường.
Thay mặt nhóm tác giả, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới
thầy Nguyễn Viết Hãnh, người đã cho chúng em những lời
khuyên, giúp chúng em lựa chọn Đề tài phù hợp với khả năng của
mình.
Em xin gửi lời cảm ơn đặc biệt nhất tới thầy Lê Đức Thuỷ, người
dẫn dắt, cho chúng em những gợi ý, giúp chúng em nhận ra được
những thiếu sót về mặt ý tưởng trong quá trình thực hiện nghiên
cứu.
Cảm ơn khoa Quản lý kinh doanh – Trường Đại học Công nghiệp
Hà Nội đã tạo ra một cơ hội bổ ích cho sinh viên.
Cảm ơn tất cả sinh viên khoa Quản lý kinh doanh khoá 8, 9, 10 đã
nhiệt tình giúp đỡ chúng em hoàn thành Đề tài này.



với sinh viên, đặc biệt khi sống trong xã hội cạnh tranh như hiện nay,


kiến thức xã hội và kiến thức thực tế ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tư
duy cũng như khả năng làm việc của họ sau tốt nghiệp.
Tuy vậy, thực tế vẫn đang tồn tại rất nhiều vấn đề nan giải xung
quanh quyết định đi làm thêm của sinh viên. Từ những lý do trên, hưởng
ứng phong trào đẩy mạnh phong trào nghiên cứu khoa học của sinh viên
khoa Quản lý kinh doanh, nhóm tác giả quyết định chọn đề tài “Thực
trạng và nhu cầu làm thêm của sinh viên khoa Quản lý kinh doanh”
làm đề tài nghiên cứu của mình.
II. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:


Đối với nhóm tác giả: nắm được phương pháp nghiên cứu khoa
học, tích luỹ kinh nghiệm để có thể vận dụng vào quá trình học tập
của bản thân cũng như các tiểu luận, nghiên cứu sau này của
nhóm.



Đối với Xã hội, Doanh nghiệp: có sự quan tâm hơn nữa đối với thế
hệ trẻ; có sự quản lý, phối kết hợp với Nhà trường nhằm tạo cho
sinh viên có nhiều điều kiện học hỏi, thực hành, cọ xát; phát huy
tối đa nguồn lực dồi dào trong sinh viên; tiến tới nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực cung ứng sau đào tạo…



Đối với Nhà trường, tổ chức Đoàn, Hội: kết hợp giảng dạy lý

pháp phân tích, so sánh, tổng hợp dữ liệu thu thập được thông qua việc
điều tra nghiên cứu về vấn đề việc làm thêm của sinh viên Đại học khoá
8, 9, 10 khoa Quản lý kinh doanh trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
dựa trên công cụ chính là Excel.
Thời gian tiến hành nghiên cứu từ 15/10/2015 đến 15/2/2016.


V. Nội dung và kết cấu của đề tài:
Đề tài nghiên cứu có các nội dung chính sau:
Lời mở đầu
Phần 1: Cơ sở lý luận.
Phần 2: Việc làm thêm đối với sinh viên qua kết quả điều tra và
phân tích, đánh giá của nhóm nghiên cứu.
Phần 3: Giải pháp của nhóm tác giả.


PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm làm thêm (Part- time job)
Theo Công ước số 175, năm 1994 về việc làm bán thời gian của
ILO (International Labour Office – Tổ chức Lao động quốc tế), người
làm bán thời gian (employed person) được định nghĩa là người có số giờ
làm việc bình thường ít hơn so với những người làm việc toàn thời gian
(worker). 1
Công ước cũng chỉ ra rằng, ngưỡng thông thường để chia công
nhân thành lao động toàn thời gian hay bán thời giant hay đổi tuỳ thuộc
vào mỗi quốc gia, nhưng thường trong khoảng từ 30-35 giờ mỗi tuần.
1.2. Các nghiên cứu trong nước.
Theo tác giả Nguyễn Thị Như Ý (2012) trong nghiên cứu về khảo
sát nhu cầu làm thêm của sinh viên của Trường Đại học Cần Thơ. Sử
dụng phân tích phân biệt, kết quả điều tra cho thấy có 10 nhân tố ảnh





Tiêu thức thống kê thuộc tính: là tiêu thức phản ánh tính chất
của một hoặc nhiều hiện tượng và không biểu hiện trực tiếp
bằng con số.
Tiêu thức số lượng: Biểu hiện trực tiếp bằng con số.

1.3.3 Chỉ tiêu thống kê.
Là sự kết hợp giữa các chỉ tiêu về mặt số lượng với các chỉ tiêu về
mặt chất lượng.
1.3.4 Quá trình nghiên cứu thống kê
1.3.4.1 Điều tra chọn mẫu
− Điều tra không thường xuyên: việc điều tra tiến hành vào
những thời điểm không xác định, hoặc với khoảng thời gian
giữa các lần điều tra không bằng nhau.




Điều tra không toàn bộ: việc điều tra được tiến hành với một
số mẫu được chọn ra để nghiên cứu.

1.3.4.2 Bảng thống kê.
Gồm 2 loại: bảng tần số phân phối; bảng nhóm tần số phân phối.



Bảng tần số phân phối: đưa ra một danh sách các quan sát khác



Tính từ bảng tần số phân phối.



Tính từ bảng nhóm tần số phân phối.

Với mi là giá trị chính giữa trong mỗi khoảng phân tổ.
1.3.5.2 Trung vị (Me)
− Là giá trị của quan sát nằm ở vị trí chính giữa trong một dãy
số, khi số liệu đã được sắp xếp theo một trật tự giá trị nhất
định tăng dần hoặc giảm dần.
1.3.5.3 Mode (Mo)
− Là giá trị của quan sát có tần số phân phối lớn nhất (quan sát
có số lần xuất hiện nhiều nhất trên dãy số).
1.3.6 Điều tra chọn mẫu.
1.3.6.1 Khái niệm.
Điều tra chọn mẫu là một phương pháp điều tra không toàn bộ
trong đó người ta chỉ chọn một số đơn vị trong toàn bộ các đơn vị
của hiện tượng cần nghiên cứu để tiến hành điều tra. Kết quả của
điều tra chọn mẫu được suy rộng cho kết quả của điều tra toàn bộ.
1.3.6.2 Phương pháp điều tra chọn mẫu.
− Tổng thể: là một hoàn chỉnh mà chúng ta tìm kiếm để có
được thông tin về chúng.
− Mẫu: là một phần của tổng thể được người điều tra lựa chọn.
− Điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên: là phương pháp điều tra chọn
mẫu trong đó các đơn vị chọn ra để điều tra phải dựa trên tính
khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người
tiến hành điều tra.

về sự ngang bằng trong mẫu điều tra khảo sát và tỉ lệ giới tính
trong toàn xã hội, nhưng nó tương xứng với tỉ lệ sinh viên nam và
nữ của khoa Quản lý kinh doanh các khoá 8, 9, 10.
2.1.2 Cơ cấu sinh viên trong mẫu phỏng vấn theo khoá học.
Khoá
Số lượng
Tỉ lệ
8
38
26,57%
9
59
41,26%
10
46
32,17%
Tổng
143
100%


Phân bổ theo khoá học có 38 sinh viên K8, chiếm 26,57%; 59 sinh
viên K9, chiếm 41,26% và 46 sinh viên K10, chiếm 32,17%.
Cơ cấu này phù hợp với mẫu khảo sát vì chênh lệch không lớn, phù
hợp với tỉ lệ sinh viên của 3 khoá trên cũng như lịch học và sự
khác biệt về cơ sở đào tạo của sinh viên.
2.2 Thực trạng đi làm thêm của sinh viên các khoá 8, 9, 10
khoa Quản lý kinh doanh – Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.
2.2.1 Tỉ lệ sinh viên đi làm thêm


7

15

20

9
9

10
3

Từ số liệu thu thập được có thể thấy lượng sinh viên đi làm thêm
chủ yếu tập trung vào K8 và K9, khi sinh viên đã quen với cuộc
sống của sinh viên Đại học, đồng thời phát sinh nhiều nhu cầu chi
tiêu hơn, trong điều kiện chu cấp từ gia đình dao động trong
khoảng từ 1,5 – 2 triệu đồng.
Ngược lại, sinh viên K10 mới làm quen với cuộc sống sinh viên,
vẫn còn nhiều bỡ ngỡ, được bố mẹ quan tâm hơn nên tỉ lệ sinh viên
đã hoặc đang đi làm thêm không cao.


Đối tượng sinh viên đi làm thêm chủ yếu tập trung vào sinh viên
nữ vì thực tế, sinh viên nữ dễ kiếm được những công việc phù hợp
hơn sinh viên nam, ví dụ như: bưng bê, phục vụ, giúp việc,…
2.2.2 Việc làm thêm sinh viên muốn hướng đến.
Từ kết quả nghiên cứu, hầu hết các sinh viên tham gia khảo sát đều
mong muốn được làm thêm tại các doanh nghiệp, với mục đích
tích luỹ kinh nghiệm cho quá trình làm việc sau này. Bên cạnh đó,
gia sư và phục vụ quán ăn cũng là những công việc được nhiều

1 – 1,5 triệu đồng/tháng
1,5 – 2 triệu đồng/tháng
Trên 2 triệu đồng/tháng

Số lượng
20
35
17
12

Có thể thấy thu nhập trung bình hàng tháng của mỗi sinh viên đi
làm thêm nằm trong khoảng từ 1 – 1,5 triệu đồng. Số tiền đó đối
với sinh viên cũng đã là một số tiền khá lớn, đủ để trang trải cho
cuộc sống cũng như những nhu cầu cá nhân, bên cạnh chu cấp từ
gia đình.
2.3.4.2 Mức lương mong muốn của sinh viên.
Mức lương
Số lượng
Dưới 1 tr.đ/tháng
2
1 – 1,5 tr.đ/tháng
23
1,5 – 2 tr.đ/tháng
35
Trên 2 tr.đ/tháng
83

Mong muốn của sinh viên về mức lương làm thêm hàng tháng là
một vấn đề khó nói và cũng khá nhạy cảm. Phần lớn sinh viên đều
mong muốn mình có một mức lương cao, để có thể chi tiêu, phục

công việc làm thêm đó không hề liên quan đến chuyên môn đào tạo
của sinh viên. Điều đó cũng phần nào lý giải tại sao một lượng lớn
sinh viên sau khi tốt nghiệp lựa chọn công việc không phải là
chuyên môn đào tạo của mình.
Bên cạnh đó, hầu hết sinh viên khi đi làm thêm, đều mong muốn
rèn luyện cho bản thân các kỹ năng mềm bao gồm: kỹ năng giao
tiếp, kỹ năng ứng xử, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình,
… Nhóm tác giả thấy đó đều là những kỹ năng cần thiết để có thể
thuyết phục nhà tuyển dụng nhưng việc học tập, trau dỗi những kỹ
năng đó như thế nào cho đúng đắn và hợp lý vẫn là một câu hỏi
cần lời giải đáp thích đáng.
2.3.7 Mức độ thay đổi bản thân sau quá trình làm thêm
Điều tra khảo sát với thang đo mức độ từ 1 đến 5, sau khi xử lí số
liệu thu được kết quả:

Hầu hết sinh viên được khảo sát đều cho rằng kỹ năng giao tiếp
của mình được cải thiện đáng kể sau khi đi làm thêm. Đó là một tin
vui và cũng là một điều hợp lý bởi, khi sinh viên đi làm thêm, trải
qua nhiều quá trình giao tiếp, sẽ nhận thấy được những khuyết
điểm và thiếu sót của bản thân, từ đó cải thiện để nâng cao khả
năng dẫn luận cũng như ứng xử của mình.
Bên cạnh đó, khi đã quen với công việc, sinh viên sẽ được rèn
luyện tác phong làm việc chuyên nghiệp, cùng với sự năng động,


sáng tạo, để có thể thu được kết quả công việc như mong muốn,
xứng đáng với tiền lương nhận được.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để qua quá trình làm thêm, sinh viên
còn có thể tích luỹ thêm cho mình kiến thức xã hội cần thiết để
nâng cao năng lực bản thân và không bỡ ngỡ khi bước vào làm


60
102
40
74

Những khó khăn sinh viên gặp phải trong quá trình làm thêm không phải
là xa lạ gì với tất cả mọi người, đó đều là những thực trạng, tồn đọng,
cần có hướng giải quyết thích hợp để việc làm thêm trở nên thực sự có
ích đối với sinh viên.
Qua kết quả khảo sát, cho thấy mức độ tin cậy của sinh viên đối với các
trung tâm giới thiệu việc làm là rất thấp: 100 sinh viên không tin tưởng
lắm vào các trung tâm giới thiệu việc làm, chiếm 69,93% lượng sinh
viên được khảo sát và 21 sinh viên hoàn toàn không tin tưởng các trung
tâm giới thiệu việc làm, chiếm 14,69%.


PHẦN 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Quá qua trình thực hiện việc Khảo sát thực trạng và nhu cầu làm
thêm của sinh viên khoa Quản lý kinh doanh – Trường Đại học Công
nghiệp Hà Nội, Nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm tạo việc
làm thêm cho sinh viên Đại học công nghiệp Hà Nội như sau:

GIẢI PHÁP 1:

Xây dựng Câu lạc bộ việc làm sinh viên - Trường
đại học công nghiệp Hà Nội.
Xuất phát là sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh trường
Đại học Công Nghiệp Hà Nội, Nhóm tác giả hiểu rõ những khó khăn,
vướng mắc mà các bạn sinh viên trong Khoa, trong Trường trong việc

+ Xúc tiến, hợp tác với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn
nhằm giới thiệu, hỗ trợ việc làm sau khi tốt nghiệp cho sinh viên
Sau đây nhóm tác giả xin trình bày Chi tiết về kế hoạch thành lập
Câu lạc bộ việc làm sinh viên trường Đại học Công nghiệp:
1. Thành phần và tổ chức:
01 Nhóm trưởng: Quản lí chung hoạt động của câu lạc bộ, chịu
trách nhiệm chính về hoạt động của câu lạc bộ trước Khoa và Nhà
trường.
Viettel, Vietinbank…


02 thành viên: Phụ trách maketing và giải đáp thắc mắc sinh viên,
trực tuyến trên mạng để : chuyên liên lạc với các cửa hàng, gia
đình,quán ăn … để đảm bảo cung cho câu lạc bộ.
01 thành viên: Phụ trách công tác soạn thảo hợp đồng, lưu hồ sơ
của các ứng viên; hồ sơ của khách hang,…
2. Các hoạt động chính của CLB bao gồm:


Tư vấn hướng nghiệp, tìm việc làm và hỗ trợ sinh viên:

- Tư vấn về đặc điểm ngành đào tạo gắn với khả năng và cơ hội
việc làm sau tốt nghiệp cho sinh viên.
- Tư vấn cho sinh viên một số kĩ năng cần thiết khi tìm việc: Cách
chuẩn bị hồ sơ, viết đơn xin việc, các kĩ năng khi tham dự phỏng vấn,
giao tiếp với người tuyển dụng…
- Tiến hành khảo sát, tạo kênh thông tin giữa nhà trường và doanh
nghiệp về khả năng đáp ứng cung-cầu nguồn nhân lực; tư vấn, giới thiệu
thông tin tuyển dụng đến sinh viên, giúp các doanh nghiệp có được lựa
chọn tối ưu về nhân lực, đáp ứng với yêu cầu công việc.


Truyền thông – PR- Tổ chức sự kiện:

- Kết hợp với các tổ chức chính trị-xã hội trong nhà trường, các cơ quan,
đơn vị chức năng, tổ chức các diễn đàn, hội thảo, hội nghị, hội chợ về
việc làm hoặc các sự kiện liên quan đến sinh viên nhằm phục vụ và hỗ
trợ sinh viên trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học, lễ tốt nghiệp
và việc làm sau tốt nghiệp.
- Thiết kế và cung cấp nhân lực phục vụ các chương trình, sự kiện cho
các đơn vị, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu.


Hoạt động ngoại khóa:

- Thường xuyên tổ chức các hoạt động sinh hoạt ngoại khóa nhằm nâng
cao kiến thức chuyên môn và kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên.


- Tổ chức, duy trì hoạt động của các CLB: hướng nghiệp, sở thích, học
thuật nhằm tạo sân chơi và hỗ trợ sinh viên trong việc nâng cao kiến
thức, kĩ năng trong học tập, nghiên cứu khoa học, đời sống và việc làm.


Hoạt động đầu tiên sau khi CLB được thành lập :

3 Cơ sở vật chất và kinh phí ban đầu
+ Một phòng làm việc và giới thiệu việc làm: Tối thiểu 15m2 (dự
kiến đề nghị Nhà trường hỗ trợ), nhà trường hỗ trợ điện, nước 06 tháng
đầu tiên, thời gian sau nhóm tự chi trả.
+ 02 Máy tính kết nối mạng internets (Máy tính có sẵn của sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status