TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
----------------------
ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: Đánh giá hiện trạng quản lý và xử lý nước thải khu công
nghiệp Khánh Phú, tỉnh Ninh Bình.
Người thực hiện
: Nguyễn Ngọc Anh
Lớp
: MTC
Khóa
: 55
Chuyên ngành
:Môi tường
Giáo viên hướng dẫn
: Th.s Nguyễn Ngọc Tú
Địa điểm thực tập: Ban Quản lý các khu công nghiệp Tỉnh Ninh Bình.
Người thực hiện
(Ký và ghi rõ họ tên)
XÁC NHẬN CỦA CƠ SỞ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự phát triển kinh tế hiện nay, nhất là trong thời kỳ công nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì công nghiệp là ngành không thể thiếu. Vị
thế của ngành công nghiệp nước ta ngày càng được khẳng định trong nền kinh
tế quốc dân, sản phẩm công nghiệp ngày càng phong phú và đa dạng, đảm
bảo cung ứng các sản phẩm và nguyên liệu thiết yếu cho cả tiêu dùng và sản
xuất; Xuất khẩu. Tuy nhiên bên cạnh sự phát triển công nghiệp cũng có những
mặt trái đó là những hậu quả nặng nề mà sự phát triển công nghiệp gây ra cho
môi trường, những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, đời sống con
người. Hiện nay lượng chất thải phất sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp
thải ra môi trường rất lớn.
Thống kê trên được Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khu kinh tế,
khu công nghiệp đưa ra tại cuộc họp ngày 24/6/2013.Theo cơ quan này, hiện
cả nước có 289 khu công nghiệp với tổng diện tích đất tự nhiên trên 81.000
ha, 15 khu kinh tế ven biển với tổng diện tích 698.000 ha, 28 khu kinh tế cửa
khẩu được thành lập tại 21/25 tỉnh biên giới đất liền.Trong 6 tháng đầu năm,
các khu kinh tế, khu công nghiệp đã thu hút thêm 7,9 tỷ USD vốn đăng ký,
chiếm hơn 80% tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm của cả nước. Bên
cạnh đó, các khu công nghiệp, khu kinh tế đã thu hút hơn 14.992 tỷ đồng vốn
đầu tư trong nước. Tổng doanh 6 tháng đầu năm đạt gần 38 tỷ USD, tăng
16%, kim ngạch xuất khẩu các doanh nghiệp đạt 23 tỷ USD, xuất siêu 2,55 tỷ
USD, đóng góp 45% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Đóng góp ngân sách
nghiệp Khánh Phú.
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và xử lý
nước thải tại khu công nghiệp.
Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Hiện trạng nước thải công nghiệp Việt Nam.
2.1.1 Hiện trạng nước thải công nghiệp Việt Nam.
Hiện nay hầu hết các KCN không có trạm xử lý chất thải tập trung.
Nhiều KCN đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hệ
thống xử lý nước thải cục bộ hoặc có nhưng không vận hành, hay vận hành
không hiệu quả hoặc xuống cấp. Ước tính có khoảng 70% lượng nước thải từ
các KCN xả thẳng ra môi trường không qua xử lý.
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
nhiều ngành công nghiệp được mở rộng quy mô sản xuất, cũng như phạm vi
phân bố. Cùng với đó là sự gia tăng lượng nước thải lớn, nhưng mức đầu tư
cho hệ thống xử lý nước thải chưa đáp ứng yêu cầu
Tại Hội nghị lần này, các đại biểu được nghe Viện Nghiên cứu Chiến
lược, Chính sách của Bộ Công Thương báo cáo trình bày hiện trạng và định
hướng ngành công nghiệp môi trường Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn
đến năm 2030. Theo đó, hiện nước ta có 283 KCN, đã có 105/152 nhà máy
xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung chiếm tổng 61% KCN đã vận
hành. Tại các đô thị, đã có 6/63 tỉnh thành có nhà máy xử lý nước thải, có
12/20 dự án đã đi vào hoạt động. Tổng công suất chế biến đạt khoảng 415
ngàn mét khối/ ngày đêm.
Sự phát triển các KCN tập trung dẫn tới tổng lượng nước thải từ các
KCN tăng lên rất nhiều lần so với tải lượng ô nhiễm khổng lồ, vượt quá khả
năng tự làm sạch của nguồn, hủy hoại môi trường nước mặt tự nhiên. Do đó,
nếu không áp dụng các phương án khống chế ô nhiễm thích hợp và hiệu quả
Mg/L
2
6
Chì
Mg/L
0.5
7
Crom (VI)
Mg/L
0.1
8
Crom (III)
Mg/L
1
9
Dầu mỡ động thực vật
Mg/L
30
10
Tổng Nitơ
Mg/L
60
11
Tổng photpho
Mg/L
20
12
Coliform
MPN/100ml
10000
MPN/100ml
12000
(Nguồn: Kết quả phân tích nước thải đầu vào KCN Phú Bài – Thừa Thiên
Huế)
Bảng 3:
STT THÔNG SỐ Ô NHIỄM
ĐƠN VỊ
GIÁ TRỊ
1
2
3
4
Mg/L
Mg/L
Mg/L
6-9
80
250
600
pH
BOD5
COD
SS
11 Tổng photpho
Mg/L
10
12 Coliform
MPN/100ml
3.7x107
(Nguồn: Nước thải đầu vào hệ thống xử lý nước thải Khu Công Nghệ Cao,
Quận 9, Tp.HCM) [3]
Phía Bắc một số KCN điển hình
Ô nhiễm về nước thải công nghiệp trong các KCN và KCX ngày càng
trở nên nghiêm trọng.Ước tính, tổng lượng nước thải của các KCN, KCX ở
vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc bình quân khoảng 100.000-130.000m 3/ngày
đêm.Hầu hết các nhà máy trong KCN, KCX đều có hệ thống xử lý nước thải
riêng của mình, tuy nhiên, mới chỉ có rất ít KCN, KCX xây dung được công
trình xử lý nước thải tập trung. Theo số liệu thống kê trong số 22 KCN,KCX
thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, chỉ có 4KCN đã xây dựng đước công
trình xử lý nước thải tập đang tiến hành xây dựng. Ở các KCN đã có nhà máy,
sau đó xử lý tại khu xử lý tập trung, nhìn chung đều đạt yêu cầu về mức độ
đảm bảo môi trường trước khi thải ra ngoài. Tuy nhiên, tại các KCN, KCX
còn lại, nước thải sau khi xử lý cục bộ đều thải trực tiếp ra song, gaayoo
nhiễm nghiêm trọng môi trường nước, đất và ảnh hưởng tới dân cư xung
quanh, nhất là những KCN tập trung các ngành công nghiệp như dệt may,
thuộc da, hóa chất… thì lượng nước thải đổ ra môi trường rất lớn và có tính
độc hại cao.
Khu công nghiệp Lâm Thao - Việt Trì.Đây là khu vực tập trung nhiều
nhà máy hoá chất, chế biến thực phẩm, dệt, giấy nên nước nhiễm bẩn đáng
kể.Lượng nước thải ở đây đến 168.000 m3/ngày đêm, vào mùa cạn nước sông
nhiễm bẩn nặng. Như nhà máy Supe Lâm Thao thải 17.300 m3/ngày đêm với
nước có pH = 6,0; nước có màu vàng, NaCl = 58,5 mg/l, NH4 = 2,1 mg/l,
Sulphuaric... Các chất hữu cơ chủ yếu là hồ tinh bột, cellulo, polyester, thuốc
nhuộm... nước thải có màu đen, thối.[4]
Tại Quảng Ninh
Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường - Công an tỉnh
Quảng Ninh đã kiểm tra và lập biên bản hiện trường Đào Thế Luân (SN
1987), công nhân Cty CP xuất-nhập khẩu thuỷ sản Quảng Ninh đang vận
hành hệ thống xả nước thải ra bờ vịnh. Toàn bộ nước thải từ cửa xả có bọt
màu trắng, bốc mùi hôi tanh, có dấu hiệu ô nhiễm môi trường. Sau đó, Cơ
quan công an đã lấy mẫu nước chuyển về Trung tâm Quan trắc và Phân tích
môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh) kiểm định mức
độ ô nhiễm, xử lý theo quy định của pháp luật. Quá trình kiểm tra cho thấy
trong nước thải công ty này xả thẳng ra Vịnh Hạ Long, hàm lượng nhiều chất
vượt quá tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất thải cho phép. Trong đó, hàm
lượng BOD5 cao gấp 3,29 lần, COC cao gấp 5,66 lần, tổng Colifoms là 3,6
lần, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái của vịnh Hạ Long. Cùng với đó,
UBND tỉnh Quảng Ninh yêu cầu Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sản
Quảng Ninh phải vận hành hệ thống xử lý nước thải, xử lý nước thải đạt tiêu
chuẩn xả thải trước khi xả ra môi trường theo quy định của pháp luật.[5]
Thành phố Hà Nội: Theo số liệu thống kê tại Hà Nội, tổng lượng nước
thải ngày đêm lên tới (350 – 45) ngàn m3, trong đó lượng nước thải công
nghiệp là (85 – 90) ngàn m3. Trong khi đó lượng thu gom chỉ được 850
m3/ngày, phần còn lại được xả vào các khu đất ven các hồ, kênh mương trong
nội thành, nói chung các chất thải đều không qua xử lý nên gây ô nhiễm; chỉ
số oxy sinh hoá (BOD); oxy hoà tan; các chất NH4; NO2; NO3; vượt quá quy
định nhiều lần
TP. Hà Nội đã và đang triển khai xây dựng 107 cụm công nghiệp trên
địa bàn 21 quận, huyện, thị xã với tổng diện tích quy hoạch 3.192,9 ha, Trong
tổng số 83 KCN-CCN đã hoạt động mới có 7 KCN có hệ thống XLNTTT
chỉ đạo UBND huyện Phong Điền, Sở Tài nguyên và Môi trường, phong
Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường tăng cường phối hợp kiểm tra,
hướng dẫn nhà máy xử lý triệt để nguồn ô nhiễm, tổ chức giải quyết kịp thời,
dứt điểm tình trạng phản ánh, khiếu kiện của nhân dân, đảm bảo tình hình sản
xuất nông nghiệp của người dân.[7]
Sự tập trung số lượng lớn các KCN tập trung nằm dọc theo hệ thống
lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai, làm cho chất lượng nước sông ở đây ô
nhiễm tầm trọng (các kết quả tính toán cho thấy hiện tại các KCN hằng ngày
thải vào hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai khoảng 130000m3 nước thải,
trong đó có khoảng 23,2 tấn cặn lơ lửng (SS), 19,4 tấn BOD5, 41,3 tấn COD,
7,5 tấn Nitơ, 1 tấn Phospho và nhiều kim loại nặng cùng các chất độc hại
khác, theo các tài liệu quy hoạch phát triển, dự báo vào năm 2010, các con số
nói trên tương ứng sẽ là 1542000 m3 nước thải/ngày đêm, trong đó có khoảng
278 tấn cặn lơ lửng, 231 tấn BOD5, 493 tấn COD, 89 tấn Nitơ, 12 tấn
Phospho, v.v… (Triết và cộng sự, 2000).
TP.HCM là địa phương đầu tiên trên cả nước đạt chỉ tiêu 100% khu
công nghiệp - khu chế xuất (KCN - KCX ) hoạt động có hệ thống xử lý nước
thải tập trung; với tổng công suất có khả năng xử lý của các nhà máy xử lý
nước thải tập trung là 63.000 m3 ngày đêm và lưu lượng xử lý thực tế là
43.000 - 44.000 m3/ ngày đêm.Tuy nhiên, đến nay, vẫn có tình trạng nước
thải các KCN - KCX thải ra môi trường chưa đạt chuẩn hoặc chưa được xử lý
Theo Sở TN&MT TP.HCM, Ban Quản lý Khu công nghiệp, khu chế xuất
TP.HCM (Hepza), Phòng Cảnh sát tội phạm về môi trường (PC49) - Công an
TP.HCM, đến nay tất cả các KCN trên địa bàn TP.HCM đã được đầu tư, vận
hành hệ thống xử lý nước thải tập trung ổn định, chất lượng đạt quy chuẩn xả
thải. Tuy nhiên, qua kiểm tra của các cơ quan quản lý và thông tin từ người
dân, thời gian qua vẫn có tình trạng nước thải chưa được xử lý lén lút thải ra
môi trường, hoặc nước thải chưa xử lý đạt tiêu chuẩn thải ra môi trường.Thời
Chỉ có 600m3 được đấu nối qua khu công nghiệp Biên Hòa 2 để xử lý,
còn lại trên 14.000m3 nước thải không qua xử lý được xả trực tiếp ra sông
Đồng Nai.
Tại khu vực Ðông Nam Bộ, lượng nước thải từ các KCN, chiếm đến 49%
lượng nước thải của các KCN trong toàn quốc. Trong khi đó, theo số liệu
thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỷ lệ các KCN có trạm xử lý
nước thải tập trung chỉ chiếm 66%, nhiều KCN đã đi vào hoạt động mà hoàn
toàn chưa triển khai xây dựng hệthống xử lý nước thải cục bộ hoặc có nhưng
không vận hành, hay vận hành không hiệu quả hoặc xuống cấp.Trong khi đó,
theo ước tính có khoảng 70% trong tổng số hơn một triệu mét khối nước thải
ngày, đêm phát sinh từ các KCN được xả thẳng ra nguồn tiếp nhận mà không
qua xử lý.
Tại Tây Ninh hàng loạt khu công nghiệp (KCN) đang bị quá tải về hệ thống
xử lý nước thải.KCN Trảng Bàng hiện có 64/79 nhà máy đang hoạt
động.Trước đây, tổng lượng nước thải trong KCN phát sinh khoảng 4.368
m3/ngày đêm. Trong khi đó, nhà máy xử lý nước thải tập trung trong khu có
công suất 5.000 m3/ ngày đêm nên bảo đảm thu gom và xử lý toàn bộ nước
thải phát sinh từ các nhà máy.
Tuy nhiên, trong năm nay, khi nhà máy dệt nhuộm của Công ty TNHH Trần
Hiệp Thành đi vào hoạt động, có lưu lượng nước thải khoảng 4.000 m3/ngày
đêm, thì nhà máy xử lý nước thải trong khu công nghiệp Trảng Bàng trở nên
quá tải. Do đó, việc nhanh chóng triển khai xây dựng nhà máy xử lý nước thải
giai đoạn 2 ở đây là rất cấp thiết.
Tại KCN Phước Đông - Bời Lời hiện có 3/11 nhà máy đang hoạt
động.Tổng lượng nước thải hiện phát sinh khoảng 200m3/ngày đêm. Công ty
CP Đầu tư Sài Gòn VRG đã xây dựng nhà máy xử lý nước thải công suất
5.000m3/ngày đêm để thu gom toàn bộ nước thải phát sinh từ KCN được xử
lý đạt tiêu chuẩn A QCVN 40:2011 trước khi thải ra môi trường. Đồng thời,
trách nhiệm của cơ quan khác.
Một điều lo ngại nữa, hiện nay là bảy Khu công nghiệp được thành lập trên
địa bàn tỉnh trong đó ba KCN đi vào hoạt động gồm: KCN Gián Khẩu, KCN
Tam Điệp giai đoạn I và KCN Khánh Phú thu hút 66 dự án đầu tư. Song hiện
nay mới có KCN Khánh Phú xây dựng Nhà máy xử lý nước thải tập trung giai
đoạn I, bước đầu bảo đảm thu gom, xử lý lượng nước thải tại KCN. KCN
Gián Khẩu đang trong quá trình hoàn thiện nhà máy xử lý nước thải tập trung,
dự kiến hoàn thành vào năm 2014.KCN Tam Điệp giai đoạn I chưa có hệ
thống xử lý nước thải tập trung. Trong khi đó, lượng nước thải từ ba KCN và
thành phố Ninh Bình là khoảng 12.230 m3/ngày đêm, bảy huyện, thị khoảng
2.000 m3/ngày đêm.[10]
Làng nghề bún, bánh Yên Ninh (huyện Yên Khánh) là làng nghề truyền thống
có từ lâu đời, chuyên sản xuất bún, bánh đa có tiếng. Hiện, làng có 385 hộ
làm nghề, tập trung ở 3 phố Thượng Đông, Thượng Tây và Trung Lâm, sản
lượng đạt hàng trăm tấn và doanh thu đạt hàng chục tỷ đồng mỗi năm, thu
nhập bình quân đầu người đạt trên 20 triệu đồng/người/năm. Chính sự phát
triển của làng nghề đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập,
nâng cao đời sống của người dân một cách rõ rệt. Tuy nhiên, vấn đề đáng lo
ngại hiện nay là tình trạng ô nhiễm nguồn nước và không khí tại làng nghề
làm bún, bánh Yên Ninh đã khiến môi trường bị ô nhiễm nặng, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến đời sống và sức khoẻ của hàng nghìn hộ dân. ước tính mỗi
ngày các hộ sản xuất, kinh doanh đã xả ra môi trường nước thải chưa qua xử
lý khoảng 300-500m3. Qua khảo sát của Sở Tài nguyên và Môi trường, hiện
nay môi trường làng nghề bún, bánh Yên Ninh có tới 3/5 chỉ tiêu vượt giới
hạn quy chuẩn môi trường cho phép. Phân tích chất lượng nước thải tại rãnh
thoát nước của làng nghề bún, bánh Yên Ninh năm 2011 cho thấy hàm lượng
chất rắn cao gấp 1,9 lần; các chất ô nhiễm hữu cơ BOD5 cao hơn 2,7 lần,
COD vượt 2,25 lần; chỉ tiêu Coliform vượt 1,18 lần quy chuẩn cho phép.
như: dung môi, dầu bóng, polime hữu cơ, các hóa chất nhuộm... Mặt khác,
quá trình gia công xử lý đã gây phát sinh nước thải có độ ô nhiễm hữu cơ cao,
dẫn đến nước mặt có hàm lượng COD, BOD5, NH4 +, Comliform, độ màu đều
vượt quy chuẩn cho phép...[11].
2.3 Tình hình quản lý và xử lý nước thải tại KCN
2.3.1 Tình hình quản lý nước thải
Việc thực hiện xử lý nước thải, đấu nối nước thải của từng cơ sở được
tuân thủ theo đúng pháp luật môi trường hiện hành và theo đúng báo cáo
ĐTM, đề án bảo vệ môi trường đã đươc phê duyệt dưới sự giám sát của Ban
quản lý các KCN và các cơ quan chức năng có liên quan. Các cơ sở phải có
báo cáo định kỳ về công tác xả thải của mình về Ban quản lý các KCN.
Nhà máy xử lý nước thải của Khu công nghiệp Khánh Phú do nhà đầu
tư thứ cấp đầu tư (Công ty TNHH xây dựng và thương mại Thành Nam) xây
dựng và vận hành dưới sự giám sát, kiểm tra của Ban quản lý các khu công
nghiệp và các cơ quan chức năng có liên quan. Nhà máy xử lý nước thải phải
báo cáo định kỳ hoặc theo yêu cầu bằng văn bản về công tác xả thải cho Ban
quản lý các KCN.
2.2 Tổng quan các công nghệ xử lý nước thải công nghiệp.
2.2.1 Các phương pháp xử lý
Nguyên tắc chung:
Nước thải có thành phần hết sức phức tạp. Trong nước thải không chỉ
chứa các thành phần hóa học hòa tan, các loài vi sinh vật, mà còn chứa các
chất không hòa tan. Các chất không hòa tan có thể có kích thước nhỏ, có thể
có kích thước lớn. Người ta dựa vào kích thước và tỷ trọng của chúng để loại
bỏ chúng ra khỏi môi trường nước trước khi áp dụng các phương pháp hóa lý
hoặc phương pháp sinh học. Những phương pháp loại các chất rắn có kích
thước lớn và tỷ trọng lớn trong nước được gọi là các phương pháp cơ học.
loại: bể lắng cát ngang là hồ chứa có tiết diện ngang là tam giác hoặc hình
thang, chiều sâu bể lắng cát 1-1,25m, vận tốc chuyển dộng của nước không
quá 1,3m/s và bể lắng đứng có dạng hình chữ nhật tròn trong đố nước chuyển
động theo dòng từ dưới lên với vận tốc 0,05m/s. Cát từ bể đưa đi phơi khô ở
trên sân phơi và sau đó thường được sử dụng lại cho những mục đích xây
dựng.
2.2.1.1.3 Bể lắng:
Bể lắng tách các chất lơ lửng có trọng lượng riêng khác với trọng lượng
riêng của nước thải. Chất lơ lửng nặng sẽ từ từ lắng xuống đáy, các chất lơ
lửng nhẹ sẽ nổi lên bề mặt. Cặn lắng và bọt nổi nhờ các thiết bị cơ học thu
gom và vận chuyển lên công trình xử lý cặn. Theo dòng chảy, bể lắng được
phân thành: bẻ lắng ngang và bể lắng đứng. Bể lắng ngang là hồ chứa hình
chữ nhật, có 2 hay nhiều ngăn hoạt động đồng thời, nước chuyển động từ đầu
này đến đầu kia của bẻ, dòng nước chảy theo phương ngang qua bể với vận
tốc không lớn hơn 0,01m/s và thời gian lưu nước từ 1-h. chiều sâu của bể lắng
H= 1,5-4m, chiều dài l = 8-12m, chiều rộng B = 3-6m. Trong bể lắng chỉ kịp
lắng những hạt nào mà quỹ đạo chuyển động của chúng cắt ngang đáy bể
trong phạm vi của bể. Các bể lắng ngang thường được sử dụng khi lưu lượng
nước thải lớn hơn 15.000m3/ngày. Đối với bể lắng đứng, nước thải chuyển
động theo phương thẳng đứng từ dưới lên đến vách tràn với vận tốc từ 0,5 –
0,6 m/s và thời gian lưu nước trông bể dao động khoảng 45 -120 phú. Hiệu
suất lắng của bể lắng đứng thường thấp hơn bể lắng ngang từ 10 – 20%.
2.2.1.1.4 Bể vớt dầu mỡ:
Bể vớt dầu mỡ thường áp dụng khi xử lý nước thải có chứa dầu mỡ (nước
thải công nghiệp). Đối với nước thải sinh hoạt khi hàm lượng dầu mỡ không
cao thì việc vớt dầu mỡ thường thực hiện ngay ở bể lắng nhờ thiết bị gạt nổi.
2.2.1.1.5
dụng trung hoà, hấp phụ khí chứa axit bằng nước thải chứa kiềm…
2.2.1.2.2Phương pháp ozon hoá:
Là phương pháp xử lý nước thải có chứa các chất hữu cơ dạng hoà tan và
dạng keo bằng ozon. Ozon dễ dàng nhường oxy nguyên tử cho các tạp chất
hữu cơ.
2.2.1.2.3Phương pháp điện hóa học:
Thực chất là phá hủy các tạp chất độc hại có trong nước thải bằng cách
oxy hoá điện hoá trên cực anôt hoặc dùng để phục hồi các chất quý (đồng,
chì, sắt…). Thông thường hai nhiệm vụ phân hủy các chất độc hại và thu hồi
chất quý được giải quyết đồng thời.
2.2.1.3Xử lý hoá lý :
2.2.1.3.1 Phương pháp keo tụ (đông keo tụ):
Quá trình lắng chỉ có thể tách được các hạt rắn huyền phù nhưng không
thể tách được các chất gây nhiễm bẩn ở dạng keo và hòa tan vì chúng là
những hạt rắn có kích thước quá nhỏ. Để tách các hạt rắn đó một cách hiệu
quả bằng phương pháp lắng cần tăng kích thước của chúng nhờ sự tác động
tương hỗ giữa các hạt phân tán liên kết thành tập hợp các hạt nhằm làm tăng
vận tốc lắng. Khử các hạt keo rắn bằng trọng lượng cần theo 2 bước:
Bước 1.trung hòa điện tích của chúng.
Bước 2.liên kết chúng lại với nhau. Quá trình trung hòa điện tích: quá
trình đông tụ. Quá trình liên kết tạo thành các bông lớn hơn: quá trình keo tụ.
Các chất đông tụ thường dùng: các muối nhôm, sắt hoặc hỗn hợp của chúng.
Việc lựa chọn phụ thuộc vào: tính chất hóa lý, chi phí, nồng độ tạp chất
trong nước, pH, thành phần muối trong nước. Hay dùng:
Al2(SO4)3.18H2O, NaAlO2, NH4Al(SO4)2.12H2O, KAl(SO4)2.12H2O, FeCl3,
Fe2(SO4)3.2H2O trong đó Al2(SO4)3 được dùng nhiều hơn vì dễ hòa tantrong
nước.
thức cấp không kí vào nước, quá trình tuyển nổi bao gồm các dạng sau:
Tuyển nổi bằng khí phân tán: Khí nén được thổi trực tiếp vào bể tuyển
nổi để tạo thành các bọt khí có kích thước 0,1 – 1 mm, gây xáo trộn hỗn hợp
khí – nước chứa cặn. Cặn tiếp xúc với bọt khí, kết dính và nổi lên trên bề mặt.
Tuyển nổi chân không: bão hòa không khí ở áp suất khí quyển, sau đó
thoát khí ra khỏi nước ở áp suất chân không. Hệ thống này ít sử dụng trong
thực tế vì khó vận hành và chi phí cáo.
Tuyển nổi bằng khí hòa tan: Sục không khí vào nước ở áp suất cao (24at), sau đó giảm áp giải phóng khí. Không khí thoát ra sẽ tạo thành bọt khí
có kích thước 20 – 100 mm.
Bể tuyển nổi có khả năng tách được dầu mỡ, thời gian lưu nước ngắn, diện
tích xây dựng nhỏ.Tuy nhiên, vốn đầu tư ban đầu cao và vận hành tốn kém.
2.2.1.3.4 Trao đổi ion:
Là phương pháp thu hồi các cation và anion bằng các chất trao đổi ion
(ionit). Các chất trao đổi ion là các chất rắn trong tự nhiên hoặc vật liệu nhựa
nhân tạo. Chúng không hoà tan trong nước và trong dung môi hữu cơ, có khả
năng trao đổi ion. Được ứng dụng để loại bỏ ra khỏi nước các kim loại ( kẽm,
đồng, crom, niken, chì, thủy ngân, cadimi, mangan,…), các hớp chất của asen,
photpho, xianua và các chất phóng xạ. Phương pháp này cho phép thu hồi các
chất có giá trị với độ làm sạch nước cao. Trao đổi ion được ứng dụng rộng rãi
để khử muối trong nước cấp.
Trao đổi ion là một quá trình trong đó các ion bề mặt của chất rắn trao
đổi với ion có cùng điện tích trong dung dịch khi tiếp xúc với nhau. Các chất
trao đổi ion có thể là các chất vô cơ hoặc hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên hay
tổng hợp nhân tạo. Các chất trao đổi ion vô co tự nhiên là zeolite, đất sét, đá
bồ tát( fenspat)…Các chất vô cơ tổng hợp là silicagen, pecmutit, các oxit và
hidroxit khó tan của một số kim loại ( nhôm, crom, kẽm,...). Các chất trao đổi
ion hữu cơ trong tự nhiên là các chất axit mùn của đất và than đá, chúng có
tính axit yếu. Các chất trao đổi ion dạng hữu cơ nhân tạo là các chất nhựa trao
của các vi sinh để phân hủy – oxy hóa các chất hữu cơ ở dạng keo và hoà tan
có trong nước thải.
Những công trình xử lý sinh học được phân thành 2 nhóm:
Phương pháp kỵ khí sử dụng nhóm sinh vật kỵ khí hoạt động trong điều
kiện không có oxi
Phương pháp hiếu khí sử dụng nhóm sinh vật hiếu khí hoạt động trong
điều kiện cung cấp oxi liên tục.
2.2.1.4.1Phương pháp xử lý sinh học kỵ khí
Phương pháp này được ứng dụng để lên men cặn tạo thành trong xử lý
hóa sinh nước thải sản xuất, cũng như để xử lý bậc một nước thải sản xuất rất
đậm đặc (BODtp= 4-5g/l), chứa các chất hữu cơ bị phân hủy bởi VSV kỵ khí,
chúng không sử dụng oxy trong quá trình sinh trưởng. Trong quá trình kỵ khí,
các chất hữu cơ được phân hủy và chuyển hóa thành dạng khí( khí metan và
cacbonic). Phương pháp được sử dụng khi hàm lượng chất hữu trong nước
thải cao( BOD5>1.500mg/l). Với phương pháp kỵ khí, các chất hữu cơ có
phân tử lượng lớn như dầu và hợp chất hữu cơ mạch vòng đều có thể bị phân
hủy.Ưu điểm của phương pháp này là có khả năng xử lý những dòng thải có
nồng độ chất hữu cơ lớn và sinh được khí gas, tuy nhiên thời gian lưu của của
nước thải trong thiết bị lớn.
Cơ chế
Trong điều kiện không có oxy, các chất hữu cơ có thể bị phân hủy nhờ
vi sinh vật và sản phẩm cuối cùng là CH4, CO2. Quá trình chuyển hóa chất
hữu cơ nhờ vi khuẩn kỵ khí chủ yếu diễn ra theo nguyên lý lên men qua các
bước sau:
Bước 1:Thủy phân các chất hữu cơ phức tạp và các chất béo thành các chất
hữu cơ đơn giản hơn như monosacarit, amino axit hoặc các muối khác. Đây
là nguồn dinh dưỡng và năng lượng cho vi khuẩn hoạt động.
Bước 2:Các nhóm vi khuẩn kỵ khí thực hiện quá trình lên men axit, chuyển
(1)
+Qúa trình tổng hợp tế bào:(tổng hợp xây dựng tế bào)
CxHyOz + NH3 + O2
vsv
C5H7NO2 + CO2 + H2O + Q (2)
(C5H7NO2: Công thức theo tỷ lệ trung bình các nguyên tố chính trong tế
bào vi sinh vật)
+Qúa trình oxy hóa nội bào (tự oxy hóa): nếu tiếp tục tiến hành QT oxy
hóa thì khi không đủ chất dinh dưỡng, Qúa trình chuyển hóa các chất của tế
bào bắt đầu xảy ra qúa trình tự oxy hóa:
C5H7NO2 + O2
vsv
CO2 + NH3 +H2O + Q
(3)
Trong quá trình oxy hóa sinh hóa hiếu khí, các chất hữu cơ chứa N, S, P
cũng được chuyển thành NO3-, SO4-, PO43-, CO2, H2O.
NH3 + O2
vsv
HNO2