Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
XÁC NHẬN CỦA CƠ SỞ THỰC TẬP
Cơ sở thực tập: NGÂN HÀNG TMCP TIÊN PHONG – CHI NHÁNH THĂNG
LONG
Có trụ sở tại: 129–131, Hoàng Quốc Việt, quận Cầu Giấy, Hà Nội
Số điện thoại: 04.37559191
Trang web: />Xác nhận:
Anh: PHẠM ĐỨC TOÀN
Là sinh viên lớp: ĐH Tài chính Ngân hàng 1 – Khóa 7
Mã số sinh viên: 0741270031
Có thực tập tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong – Chi nhánh Thăng Long trong
khoảng thời gian từ ngày 28/12/2015 đến ngày 06/03/2016. Trong khoảng thời gian
thực tập tại ngân hàng, anh Toàn đã chấp hành tốt các quy định của đơn vị và thể
hiện tinh thần làm việc nghiêm túc, chăm chỉ và chịu khó học hỏi.
Hà Nội, ngày 06 tháng 03 năm 2016
Xác nhận của Cơ sở thực tập
(Ký tên và đóng dấu của đại diện Cơ sở thực tập)
SVTH: Phạm Đức Toàn
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Giáo viên hướng dẫn
SVTH: Phạm Đức Toàn
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
DANH MỤC HÌNH.................................................................................................5
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT..............................................................6
CHƯƠNG 1.............................................................................................................7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN BẰNG
TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI...........................7
CHƯƠNG 2.............................................................................................................6
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN BẰNG TIỀN GỬI
TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG TMCP TIÊN PHONG CHI NHÁNH
THĂNG LONG.......................................................................................................6
CHƯƠNG 3...........................................................................................................47
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN BẰNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG TIÊN PHONG –
CHI NHÁNH THĂNG LONG.............................................................................47
KẾT LUẬN............................................................................................................58
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................62
cũng cố kiến thức, kỹ năng đồng thời nghiên cứu, tìm ra một số giải pháp tối ưu
nhất trong hoạt động huy động vốn bằng tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng.
Em xin cảm ơn các thầy cô khoa Quản lý kinh doanh trường đại học công
nghiệp Hà Nội hết lòng truyền thụ cho em những kiến thức quý báu và đặc biệt em
xin cảm ơn Th.S Bùi Thị Hạnh đã chỉ bảo em trong quá trình thực hiện bài luận
này.
SVTH: Phạm Đức Toàn
nghiệp
1
Luận văn tốt
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo ngân hàng TPBank chi nhánh Thăng Long
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện cho em được áp dụng những kiến
thức đã học ở trường vào quy trình thực tế.
SVTH: Phạm Đức Toàn
nghiệp
2
Luận văn tốt
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Loại
Tên
Trang
Bảng 2.1
Kết quả hoạt động huy động vốn (2013 - 2015)
35
Bảng 2.2
Kết quả hoạt động cho vay (2013 - 2015)
37
Bảng 2.3
Kết quả kinh doanh TPBank – Chi nhánh Thăng Long
38
Bảng 2.4
So sánh kết quả kinh doanh TPBank Thăng Long và TPBank Hoàn
39
50
Bảng 2.10
Lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm theo thời gian
52
Bảng 2.11
So sánh lãi suất huy động bình quân và lãi suất cho vay bình quân
54
Bảng 2.12
(2013 – 2015)
So sánh lãi suất TGTK của TPBank với mức trung bình ngành năm
55
Bảng 2.13
2015
So sánh lãi suất huy động TGTK của TPBank, ABBank và VPBank
57
Bảng 2.14
Sơ đồ bộ máy tổ chức của TPBank – Chi nhánh Thăng Long
32
Hình 2.2
Biểu đồ so sánh kết quả kinh doanh TPBank Thăng Long và
40
Hình 2.3
TPBank Hoàn kiếm
Biểu đồ so sánh vốn TGTK trong tổng nguồn vốn huy động
41
Hình 2.4
Biểu đồ so sánh lượng tiền gửi tiết kiệm bằng VNĐ, ngoại tệ
43
Hình 2.5
Biểu đồ lượng tiền gửi tiết kiệm theo kỳ hạn gửi
48
Nghĩa của từ viết tắt
1
NHTM
Ngân hàng thương mại
2
TCKT
Tổ chức kinh tế
3
NHTW
Ngân hàng trung ương
4
NHNN
Ngân hàng nhà nước
5
NH
Tổ chức tín dụng
SVTH: Phạm Đức Toàn
nghiệp
6
Luận văn tốt
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY
ĐỘNG VỐN BẰNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn bằng tiền gửi tiết kiệm của
ngân hàng thương mại
1.1.1Khái niệm ngân hàng thương mại
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với sự phát triển của
nền sản xuất hàng hóa. Ngân hàng đầu tiền xuất hiện khá sớm vào thế kỷ thứ XV
(năm 1401) tại Tây Ban Nha, có tên gọi là BAN – CA – DI Barcelona. Trải qua
hàng trăm năm, đến nay hoạt động của các NHTM đã trở thành một yếu tố không
thể thiếu và gắn liền với nền kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới.
Ngân hàng là một sản phẩm độc đáo của nền sản xuất hàng hóa, một động lực
quan trọng cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Với vai trò đó ngân hàng
không thể đứng ngoài hoạt động của bất cứ quốc gia nào. Do đó, mỗi nước có cái
nhìn nhận và xây dựng khung pháp lý, giới hạn hoạt động, mô hình tổ chức ngân
1.1.2 Nguồn vốn của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm nguồn vốn của ngân hàng thương mại
Nguồn vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo
lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh
doanh khác. Thực chất, nguồn vốn của ngân hàng là một bộ phận của thu nhập quốc
dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, người chủ
sở hữu của chúng gửi vào ngân hàng với mục đích thanh toán, tiết kiệm hay đầu tư.
Nói cách khác, họ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn cho ngân hàng, để ngân hàng
trả lại cho họ một khoản thu nhập. Như vậy, ngân hàng đã thực hiện vai trò tập
trung vốn và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân
chuyển vốn, kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Đồng thời, chính các hoạt
động đó lại quyết định sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
1.1.2.2 Vai trò của nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại
Nguồn vốn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành ngân hàng thương mại:
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động sản xuất kinh doanh được thì
phải có: Công nghệ - Lao động – Tiền vốn trong đó nguồn vốn là nhân tố quan
trọng, nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Riêng đối
với ngân hàng thương mại, nguồn vốn lại càng là nhân tố không thể thiếu trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn là cơ sở để ngân hàng thương mại tổ
chức hoạt động kinh doanh, ngân hàng không thể thực hiện các nghiệp vụ kinh
SVTH: Phạm Đức Toàn
nghiệp
8
Luận văn tốt
tín dụng với nhiều doanh nghiệp và thị trường tín dụng. Nguồn vốn lớn còn giúp
ngân hàng hoạt động kinh doanh với nhiều loại hình khác nhau như: Liên doanh
liên kết, dịch vụ thuê mua tài chính, kinh doanh chứng khoán… các hình thức kinh
SVTH: Phạm Đức Toàn
nghiệp
9
Luận văn tốt
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
doanh này nhằm phân tán rủi ro và tạo thêm vốn cho ngân hàng. đồngthời, nâng cao
uy tín và tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, nguồn vốn có vai trò quyết
định trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Nguồn vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng: Thực tế đã chứng
minh: quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật của ngân hàng là tiền đề
cho việc thu hút nguồn vốn. Đồng thời, khả năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối
với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét
cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, thậm
chí quyết định mức lãi suất vừa phải cho khách hàng. Điều đó sẽ thu hút ngày càng
nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng và
ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh. Đây cũng là điều kiện để bổ
xung thêm vốn tự có của ngân hàng, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và quy mô
hoạt động của ngân hàng trên mọi lĩnh vực.
Đồng thời vốn của ngân hàng lớn sẽ tạo ra thuận lợi cho việc sử dụng tổng hòa
các nguồn vốn khác. Trên cơ sở đó sẽ giúp ngân hàng có đủ khả năng tài chính để
kinh doanh đa năng trên thị trường, không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn mở
rộng các hình thức liên doanh liên kết, kinh doanh dịch vụ thuê mua (leasing), mua
Vốn điều lệ: Là mức vốn được hình thành khi Ngân hàng được thành lập. Vốn
điều lệ luôn lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định. Vốn pháp định là mức vốn tối
thiểu phải có khi thành lập một Ngân hàng do pháp luật qui định. Vốn điều
lệ được ghi vào điều lệ thành lập Ngân hàng. Tuỳ thuộc vào loại hình Ngân
hàng mà vốn điều lệ được hình thành từ những nguồn gốc khác nhau:
- Ngân hàng quốc doanh: Vốn điều lệ được hình thành từ Ngân sách nhà nước
cấp
- Ngân hàng cổ phần: Vốn điều lệ được hình thành từ vốn góp của các cổ đông
thông qua việc mua các cổ phiếu.
- Ngân hàng liên doanh: Vốn điều lệ được hình thành từ vốn góp của các bên
liên doanh.
- Ngân hàng nước ngoài: Vốn diều lệ được hình thành từ 100% vốn nước ngoài.
- Ngân hàng tư nhân: Vốn điều lệ được hình thành từ vốn của chủ Ngân hàng.
Qũy
- Quỹ dự trữ: Nhằm để bổ sung vốn điều lệ.
- Quỹ dự phòng rủi ro: Để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng nhằm bảo vệ vốn điều lệ..
- Quỹ phúc lợi, khen thưởng.
- Lợi nhuận chưa chia.
* Vốn huy động
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ Ngân
hàng khác, các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội nhằm bổ sung nguồn vốn
trong hoạt động kinh doanh của mình.
Vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ kinh doanh
(khoảng > 90%) của Ngân hàng. Đây là nguồn vốn có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí
SVTH: Phạm Đức Toàn
nghiệp
11
ty con gồm Ngân hàng mẹ và các hệ thống các Ngân hàng Chi nhánh trực thuộc. Có
một phương thức huy động vốn rất hiệu quả hiện nay là chu chuyển vốn điều hoà.
Do tình hình hoạt động của các chi nhánh tại các địa bàn khác nhau là khác nhau
(do ảnh hưởng của điều kiện phát triển kinh tế của từng vùng, do phong tục tập
quán…) Cho nên những Chi nhánh Ngân hàng mà hoạt động sử dụng vốn vượt quá
khả năng huy động vốn thì đầu kỳ lập kế hoạch lên Ngân hàng mẹ và xin được nhận
SVTH: Phạm Đức Toàn
nghiệp
12
Luận văn tốt
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
được một lượng vốn điều hoà cần thiết cho hoạt động của mình. Còn những Ngân
hàng mà khả năng huy động vốn vượt qúa khả năng sử dụng vốn thì đầu kỳ cũng
lập kế hoạch sẽ điều chuyển một lượng vốn về Ngân hàng mẹ để được hưởng lãi
suất điều hoà. Như vậy Ngân hàng mẹ chịu trách nhiệm điều chuyển vốn từ nơi
thừa sang nơi thiếu của các chi nhánh trong cùng hệ thống. Chi phí nhận nguồn vốn
điều hoà này thấp hơn chi phí nguồn vốn huy động nhưng các Ngân hàng chỉ được
nhận nguồn vốn này sau khi đã lập kế hoạch về lượng vốn huy động được trong kỳ
sau.
Nguồn vốn uỷ thác đầu tư
Một số Ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ Ngân hàng đại lý. Khi đó trong
nguồn vốn của Ngân hàng còn có thêm khoản mục vốn uỷ thác đầu tư. Nguồn vốn
này được hình thành chủ yếu là do các tổ chức tài chính trong nước hoặc nước
ngoài uỷ thác cho Ngân hàng một khoản tiền để Ngân hàng thực hiện cho vay đối
với các dự án của mình, cũng có thể là các khoản vay của Chính phủ được uỷ thác.
- Nguyên tắc thứ hai: Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng (bao gồm các
Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, các cơ quan nhà nước, đoàn thể xã
hội và các tầng lớp dân cư) phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả vốn
lẫi lãi theo thoã thuận trước giữa Ngân hàng và khách hàng.
- Nguyên tắc thứ ba: Ngân hàng không được phát hành trái phiếu mà việc phát
hành trái phiếu đó tạo cho các chủ sở hữu giành được quyền quản lý trực tiếp và
gián tiếp đối với Ngân hàng.
* Mục tiêu hoạt động huy động vốn
- Một là: Tìm kiếm nguồn vốn rẻ: Chi phí trả lãi được coi là chi phí lớn nhất
trong các chi phí của Ngân hàng. Trong đó lớn nhất là chi phí trả lãi đầu vào cho
tiền gửi có kỳ hạn và trả lãi trái phiếu và kỳ phiếu... Định kỳ Ngân hàng lập biểu về
số dư và lãi suất tương ứng để xác định vốn huy động bình quân và tính toán chi phí
trả lãi.
- Hai là: Tạo ra nguồn vốn ổn định và cơ cấu phù hợp: Cơ cấu vốn cần đa dạng
thể hiện ở việc duy trì một tỷ lệ giữa vốn huy động ngắn hạn và dài hạn, giữa vốn
nội tệ và ngoại tệ. Một Ngân hàng có chất lượng huy động vốn cao sẽ có nguồn vốn
dồi dào và cơ cấu vốn cân đối, tránh cho Ngân hàng rơi vào tình trạng căng thẳng
về tài chính trong điều kiện môi trường kinh doanh thường xuyên thay đổi.
- Ba là: Xây dựng qui mô và sự tăng trưởng nguồn vốn ổn định: Quy mô vốn
huy động có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của Ngân hàng. Ngân hàng
muốn mở rộng hoạt động cần có quy mô vốn tương đối lớn, trong đó vốn huy động
là một bộ phận quan trọng. Không thể nói đến chất lượng huy động vốn tốt nếu việc
huy động không đáp ứng được nhu cầu về khối lượng vốn kinh doanh. Khối lượng
vốn phải đạt tới qui mô nhất định theo kế hoạch huy động của Ngân hàng. Để thực
hiện tốt vấn đề này cần kết hợp hài hoà các yếu tố khác như lãi suất, chính sách
Marketing khách hàng, các hình thức huy động vốn, uy tín của khách hàng… Tuy
nhiên không phải cứ có nguồn vốn lớn đã là tốt, nó cần phải phù hợp với qui mô
SVTH: Phạm Đức Toàn
nghiệp
tổ chức xã hội có hoạt động thu, chi tiền theo các chu kỳ xác định. Họ gửi tiền vào
ngân hàng để hưởng lãi. Tuy khoản tiền này không tiện lợi bằng tiền gửi thanh toán
(do khi cần tiền phải đến ngân hàng để rút) nhưng bù lại tiền gửi có kỳ hạn lại có lãi
suất cao hơn tùy theo độ dài của kỳ hạn được ghi trên hợp đồng.
- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư bao gồm: tiền gửi tiết kiệm không kì hạn và tiền
gửi tiết kiệm có kì hạn. Trong cộng đồng dân cư luôn có những người có khoản tiền
tạm thời nhàn rỗi. Họ gửi tiền vào ngân hàng nhằm thực hiện các mục đích bảo toàn
và sinh lời đối với khoản tiền đó. Huy động tiền gửi trong dân cư là nghiệp vụ
SVTH: Phạm Đức Toàn
nghiệp
15
Luận văn tốt
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
truyền thống đem lại cho ngân hàng một lượng vốn rất lớn để có thể tiến hành các
hoạt động cho vay và đầu tư sinh lợi.
- Tiền gửi của các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn tiền gửi
có qui mô thường nhỏ, giữa các ngân hàng luôn có tiền gửi của nhau. Mục đích của
việc gửi tiền này là để đảm bảo thanh toán thuận tiện, phục vụ tối đa lợi ích cho
khách hàng của mình.
* Phát hành giấy tờ có giá
Các giấy tờ có giá là các công cụ nợ do ngân hàng phát hành để huy động vốn
trên thị trường. Nguồn vốn này tương đối ổn định để sử dụng cho một mục đích nào
đó. Lãi suất của loại này phụ thuộc vào sự cấp thiết của việc huy động vốn nên
thường cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thông thường.
- Chứng chỉ tiền gửi (CDs):
ngân hàng đã có kế hoạch sử dụng vốn để cho vay trung dài hạn.
- Kỳ phiếu:
Kỳ phiếu là chứng chỉ huy động vốn có mục đích, có thời hạn, có lãi suất tương
ứng với từng loại kỳ hạn hoặc phương thức trả lãi trước hoặc sau. Đây là giấy tờ có
giá ngắn hạn nghĩa là ngân hàng sẽ có được nguồn vốn chủ động với tính chất ổn
định cao nhưng chi phí mà ngân hàng bỏ ra cũng rất lớn. Do vậy ngân hàng phải có
chính sách huy động vốn linh hoạt để đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh
doanh trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn.
* Vốn vay
Tiền gửi mà Ngân hàng nhận được là nguồn vốn mà Ngân hàng có được một
cách thụ động. Trong hoạt động của mình nếu như thiếu vốn thì Ngân hàng phải
chủ động tìm kiếm vốn để thực hiện các hoạt động của mình. Nguồn vốn mà Ngân
hàng chủ động tạo nên đó là nguồn vốn vốn vay. Ngân hàng đi vay khi:
Thứ nhất: Vay để đáp ứng nhu cầu khả năng thanh toán của Ngân hàng.
Vì hoạt động chủ yếu và thường xuyên của Ngân hàng là nhận tiền gửi với trách
nhiệm hoàn trả cho khách hàng khi khách hàng có nhu cầu rút tiền để sử dụng. Do
vậy có những trường hợp số tiền dự trữ và số tiền mà Ngân hàng nhận được trước
đó trong ngày ít hơn số tiền mà khách hàng rút thì Ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong
việc thanh toán tiền cho khách hàng nghĩa là Ngân hàng thiếu tiền trả cho khách
hàng. Vậy Ngân hàng phải đi vay.
Thứ hai: Vay hộ cho khách hàng
Vì hoạt động cơ bản của Ngân hàng là tài trợ cho nền kinh tế nên khi khách
hàng có nhu cầu vay vốn Ngân hàng và đảm bảo các yêu cầu do Ngân hàng đặt ra
thì Ngân hàng sẽ cho vay. Tuy nhiên với những khách hàng vay với khối lượng lớn,
thời hạn dài mà Ngân hàng lại không muốn dùng toàn bộ số tiền của mình có để
đầu tư cho dự án này (vì rủi ro đem lại có thể rất cao) nhưng Ngân hàng cũng
không muốn mất khách hàng nên họ thoả thuận với nhau qua đó Ngân hàng thay
mặt khách hàng phát hành trái phiếu để thu gom tiền trong nền kinh tế để phục vụ
vốn cho dự án. Người ta chỉ phát hành trái phiếu vừa đủ số tiền mà dự án cần dùng
và trong một thời hạn bằng thời gian tồn tại của dự án.
Như vậy Ngân hàng sẽ đi vay với các lý do trên, với các mục đích vay khác
nhau Ngân hàng sẽ áp dụng các hình thức vay khác nhau.
- Vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên Ngân hàng và vốn
vay từ Ngân hàng trung ương
Tuỳ theo tình hình hoạt động của Ngân hàng trong từng thời kỳ và lý do của
các khoản vay của mình mà Ngân hàng có những hình thức vay phù hợp. Với các
hình thức vay như trên Ngân hàng có thể mất rất nhiều thời gian. Đối với mục đích
sử dụng ngay như để đảm bảo khả năng thanh khoản cho Ngân hàng thì hai hình
thức vay vốn trên không phù hợp. Ngân hàng có thể sử dụng phương thức khác như
vay vốn ở các tổ chức tín dụng khác hoặc vay ở NHTW. Thực tế cho thấy hoạt
động huy động vốn và sử dụng vốn thì không đồng đều giữa các Ngân hàng, ở
SVTH: Phạm Đức Toàn
nghiệp
18
Luận văn tốt
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
những thời điểm có những Ngân hàng thiếu vốn nhưng lại có những Ngân hàng tạm
thời đang thừa vốn thì các Ngân hàng này có thể vay mượn lẫn nhau vì mục đích
của cả đôi bên. Hơn nữa các Ngân hàng đều làm trung gian thanh toán cho nền kinh
tế nên các Ngân hàng đều mở tài khoản tiền gửi lẫn nhau và trong những trường
hợp Ngân hàng nào đó thiếu vốn để thanh toán chi khách hàng của mình thì Ngân
hàng kia có thể cho vay để Ngân hàng đó đảm bảo khả năng thanh toán. Trong
những trường hợp cấp bách mà Ngân hàng không thể vay được ở các Ngân hàng
khác thì có thể vay ở NHTW vì NHTW là người cho vay cuối cùng đối với các
NHTM. Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn mà NHTW chia thành
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
trường vốn, thị trường chứng khoán- Một kênh huy động vốn trung và dài hạn hữu
hiệu của nền kinh tế.
1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn bằng tiền gửi tiết kiệm của
Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại tiền gửi tiết kiệm
* Khái niệm
Tiền gửi tiết kiệm (Theo định nghĩa tại Điều 6 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm số
1160/2004/QĐ-NHNN): là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi
tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ
chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo
hiểm tiền gửi.
* Đặc điểm
- Tài khoản tiền gửi tiết kiệm là tài khoản đứng tên một cá nhân hoặc một số cá
nhân, được sử dụng để thực hiện một số giao dịch thanh toán theo quy định tại Quy
chế này.
- Phần lớn là các khoản ký gửi của cá nhân với mục đích là tìm kiếm một khoản
thu nhập với số tiền nhàn rỗi của mình. Thông thường tiền gửi có khối lượng nhỏ,
thời hạn ngắn. Những người gửi tiền tiết kiệm là những đối tượng giảm chi tiêu
trong hiện tại với kỳ vọng sẽ tăng được chi tiêu trong tương lai. Phương thức gửi
tiền tiết kiệm chủ yếu là nộp tiền trực tiếp vào Ngân hàng hoặc gián tiếp chuyển thu
nhập dưới hình thức chuyển qua tài khoản.
- Người gửi tiền sẽ cấp một sổ tài khoản tiết kiệm, có số tiền, thời gian và lãi
suất quy định. Sau khi đến hạn, người gửi tiền sẽ đến Ngân hàng để lĩnh lãi hoặc có
thể vừa rút gốc, rút lãi nếu muốn.
* Phân loại
- Theo kỳ hạn: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể
trong nước, trong quan hệ tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế…các Ngân
hàng có xu hướng mở rộng kinh doanh đối ngoại thường có nguồn vốn ngoại tệ lớn.
1.2.2 Khái niệm hoạt động huy động vốn bằng tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng
thương mại
Hoạt động huy động vốn bằng tiền gửi tiết kiệm là hoạt động mà Ngân hàng
thu hút lượng vốn nhàn dỗi từ dân cư thông qua các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm với
mục đích tăng cường nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
1.2.3 Ý nghĩa của hoạt động huy động vốn bằng tiền gửi tiết kiệm của ngân
hàng thương mại
- Nhờ có hoạt động huy động vốn bằng tiền gửi tiết kiệm Ngân hàng có thêm
nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của mình.
SVTH: Phạm Đức Toàn
nghiệp
21
Luận văn tốt
Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
- Giúp cho các cá nhân gửi tiền có thêm một khoản lãi nhất định trong tương lai
và đặc biệt Ngân hàng cũng sử dụng nguồn vốn này để cho vay nhằm thu lãi cao
hơn so với chi lãi từ huy động.
- Nhờ có nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm ổn định giúp các chi nhánh Ngân hàng dễ
dàng hơn trong việc cân đối kỳ hạn giữa huy động vốn và sử dụng vốn.
- Lượng tiền huy động được từ tiền gửi tiết kiệm khẳng định được sản phẩm
hữu ích, vị thế Ngân hàng so với các đối thủ cạnh tranh khác.