Bài báo cáo môn phương pháp nghiên cứu kinh tế
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI:
“ NHỮNG
NGUYÊN NHÂN
HÌNH THÀNH NỢ XẤU MỘT SỐ NHTM Ở TP. HỒ
CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 2002 – 2011.”
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Danh
NHÓM SINH VIÊN THỰC HIỆN:
1
2
3
4
5
6
7
Nguyễn Thị Cẩm Anh
Lê Song Tuyết Nga
Thị Nguyệt
Nguyễn Thị Mai
Phạm Thị Phương Lan
Kiều Vũ Kim Ngân
Trần Thị Thùy Dương
với tín dụng của ngân hàng. Do đó làm thế nào để hạn chế,quản lý và xử lý nwoj xấu là một vấn
đề đáng được quan tâm. Nghiên cứu được nợ xấu thì mới có thể tìm ra được nguyên nhân gây ra
nợ xấu. từ đó đưa ra biện pháp, chính sách phù hợp trong việc điều tiết hoạt động tín dụng nhằm
đảm ảo nợ xấu được ở mức quy định của ngành. Đảm bảo một tiền đề vững chắc cho sự phát
triển có định hướng,có mục tiêu và an toàn, có hiệu quả về lâu dài.
Trong khi đó theo chuyên gia kinh tế TS Vũ Đình Ánh thì vấn đè nợ xấu của Việt Nam
khác với các nước khác,nợ xấu Việt Nam gắn với nợ khu vực doanh nghiệp nhà nước mặc dù tới
thời điểm hiện nay dư nợ của doanh nghiệp nhà nước trong tổng dư nợ vẫn chưa được công bố.
Thêm vào đó nợ xấu gắn với đầu tư công. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhận dự án với vốn đầu
tư ngân sách nhà nước và vay ngân hàng để làm dự án,sau đó ngân sách không có vốn rót cho
dự án nên dẫn đến tình trạng nợ xấu doanh nghiệp. Ngoài ra bản chất nợ xấu Việt Nam không
phải do ngân hàng rất nhiều các khoản này do vay theo chỉ định.
Từ đó vấn đề được đặt ra là “ nợ xấu là một vấn đề bức bách của nền kinh tế Việt Nam, và
vấn đề này cần được giải quyết càng sớm càng tốt”
Với những lý do trên nên nhóm em đưa ra ý kiến về đề tài “ nợ xấu và nguyên nhân gây ra
nợ xấu của một số ngân hàng thương mại tại TP HCM”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nợ xấu ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng và các doanh
nghiệp nói riêng và nền kinh tế đất nước nói chung và tốc độ nợ xấu càng ngày càng nhanh hơn
trong thời gian gần đây do vấn đề sở hữu chéo của các tổ chức phức tạp:tình trạng cho vay tập
trung vào các nhóm khách hàng có liên quan: tăng trưởng kinh tế và tổng cầu chậm lại: đầu tư
2
Bài báo cáo môn phương pháp nghiên cứu kinh tế
vào các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro như bất động sản, chứng khoán: tính minh bạch của các tổ
chức tính dụng còn nhiều hạn chế và nhiều hành vi che giấu nợ xấu: năng lực của các cơ quan
kiểm tra còn hạn chế cho nên:
Mục tiêu tổng quát:
Dùng phương pháp nghiên cứu định lượng.
Tìm kiếm các yếu tố ảnh hưởng hoặc là nguyên nhân gây ra nợ xấu
Đưa ra giả thuyết nghiên cứu
- Mối quan hệ giữa lãi suất cho vay với nợ xấu của các ngân hàng
- Sự ảnh hưởng của GDP thực đến nợ xấu
- Tỷ lệ giữa tổng nợ và nơ xấu
- Tổng tài sản có giải quyết được vấn đề nợ xấu
Chọn mẫu, phân tích dữu liệu và đưa ra mô hình hồi quy.
Thu thập, thống kê và mô tả dữ liệu một cách nhất quán, phân tích các dữu liệu thu thập từ đó
đưa ra mô hình và đi đến kết luận
Sử dụng nguồn dữu liệu thứ cấp
3
Bài báo cáo môn phương pháp nghiên cứu kinh tế
II.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NỢ XẤU
1. Ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó
là huy động vốn và cho vay vốn. Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn là cầu nối giữa các cá
nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu. Hoạt động của ngân hàng
thương mại phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp
và các tổ chức khác trong xã hội.
Trong ngân hàng thương mại, tiền huy động được của người gửi gọi là tài sản "nợ", tiền
cho công ty và các cá nhân vay cũng như tiền gửi ở các ngân hàng khác và số trái phiếu ngân
(adverse selection). Trái với quan điểm thông thường cho rằng khi lãi suất cho vay cao sẽ giúp
loại bỏ các dự án tồi có suất sinh lợi kém, đồng thời chọn lọc những dự án tốt với mức sinh lợi
cao. Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam, khi lãi suất cho vay quá cao thì chính những con nợ
rủi ro mới là đối tượng sẵn sàng tiếp cận vốn vay. Nghĩa là, do ngân hàng không có thông tin
đáng tin cậy về người đi vay và do đó không thể phân biệt được con nợ tốt với con nợ xấu nên
khi lãi suất quá cao đã đặt ngân hàng vào thế lựa chọn bất lợi chứ không hoàn toàn là người đi
vay mới bị bất lợi.
3. Nợ là gì?
-
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, nợ bao gồm:
Các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính;
Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác;
Các khoản bao thanh toán;
Các hình thức tín dụng khác.
Các khoản nợ của ngân hàng được phân loại thành 5 nhóm:
1. Nhóm 1(Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
1. Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy
đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn;
2. Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
1. Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày;
2. Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại;
3. Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
1. Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày;
2. Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu
lại;
4. Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
1. Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
2. Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời
hạn đã cơ cấu lại;
Phương thức đánh giá nợ xấu chủ yếu dựa vào 2 yếu tố của một khoản nợ xấu. Hiện nay
hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam chỉ mới hạch toán nợ xấu theo thời gian quá hạn
trên 90 ngày (yếu tố 1); nhưng lại bỏ qua việc xác định khả năng trả nợ của khách hàng (yếu tố
2).
Hiện tại, hai phương pháp thường dùng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng là
phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay khách hàng. Tuy vậy, việc
áp dụng hai phương pháp này còn gặp rất nhiều khó khăn, không chỉ ở Việt Nam mà cả ở các
nước phát triển.
6. Tình hình nợ xấu Việt Nam
Nợ xấu hiện nay của các tổ chức tín dụng (TCTD) được tích lũy từ trước đây do môi
trường kinh doanh xấu đi kể từ năm 2008, khách hàng vay gặp nhiều khó khăn về tài chính và
hoạt động, vì vậy, nợ xấu của hệ thống các ngân hàng có chiều hướng gia tăng nhanh trong thời
gian gần đây. Trong bối cảnh dư nợ tín dụng không tăng từ đầu năm 2012 trở lại đây cho thấy nợ
xấu phát sinh mới chủ yếu là các khoản tín dụng đã được cấp trước đây, đặc biệt là trong giai
đoạn tăng trưởng tín dụng nhanh. Đến ngày 31/5/2012, nợ xấu theo các TCTD báo cáo là hơn
117 ngàn tỷ đồng, chiếm 4,47% so với tổng dư nợ tín dụng (ThS. Nguyễn Hữu Nghĩa, 2012).
So với tỷ lệ nợ xấu hiện nay ở mức 4,47% theo báo cáo của TCTD hay 8,6% theo kết quả
giám sát vẫn thấp hơn so với tỷ lệ nợ xấu của một số nước trong khu vực tại thời điểm Chính phủ
phải đứng ra xử lý nợ xấu, cụ thể: Hàn Quốc 17% (tháng 3/1998), Thái Lan 47,7% (tháng
5/1999), Malaysia 11,4% (tháng 9/1998), Indonesia trên 50% (năm 1999). (ThS.Nguyễn Hữu
Nghĩa, 2012)
7. Sơ lược một vài ngân hàng tại Tp.HCM
Ngân hàng ACB:
ACB có tên đầy đủ là Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu. Ngân hàng được thành lập
theo Giấy phép số 0032/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 24/04/1993, GIấy
phép số 553/GP-UB do Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 13/05/1993. Ngày
6
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính quý 2/2012 của Sacombank
Vietinbank:
Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) được thành lập từ năm 1988 sau
khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đây là Ngân hàng đầu tiên của Việt Nam được
cấp chứng chỉ ISO 9001:2000. VietinBank là một trong 4 ngân hàng thương mại lớn nhất thị
trường hiện nay. Với thương hiệu tốt và mối quan hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng truyền
thống, cùng với nền tảng tài chính vững mạnh, VietinBank luôn là một trong những Ngân hàng
hàng đầu tại Việt Nam. Vốn điều lệ hiện nay của ngân hàng là 20.229.721.610.000 đồng.
(www.vietinbank.vn)
Theo như thông báo kết quả kinh doanh quý II và 6 tháng đầu năm 2012 của Vietinbank,
dư nợ có khả năng mất vốn cuối quý II của vietinbank lên tới 2.254 tỷ đồng, nợ nghi ngờ 1.912,5
tỷ đồng, tăng mạnh so với số dư đầu năm. Trong khi đó, hạng mục dư nợ đủ tiêu chuẩn và nợ cần
chú ý giảm.
Nguồn: báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm 2012 của Sacombank
8
Bài báo cáo môn phương pháp nghiên cứu kinh tế
Vietcombank:
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) được thành lập trên cơ sở cổ
phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thông qua việc bán đấu giá cổ phiếu lần đầu ra
công chúng ngày 26/12/2007 tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
Vietcombank đã xây dựng cho mình một chiến lược phát triển bền vững với mục tiêu trở thành
một tập đoàn tài chính hàng đầu Việt Nam và trở thành ngân hàng tầm cỡ quốc tế ở khu vực. Sau
đợt phát hành tăng vốn điều lệ năm 2012, vốn điều lệ mới của VietinBank là
26.217.545.370.000 đồng, đưa VietinBank chính thức trở thành Ngân hàng TMCP có vốn điều lệ
lớn nhất Việt Nam. (www.vietcombank.com.vn)
nghiên cứu khác nhau đã kết luận những nguyên nhân khác nhau về vấn đề này. Trong đó đươc
chia ra làm hai nhân tố chính: Yếu tố kinh tế vĩ mô, và yếu tố liên quan đến ngân hàng.
2. Các yếu tố kinh tế vĩ mô:
Điều kiện kinh tế: nghiên cứu của Sinkey và Greenwalt (1991) tại các ngân hàng thương
mại lớn Hoa Kỳ từ 1984 đến 1987 sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đơn giản chỉ ra rằng khu
vực điều kiện kinh tế khó khăn giải thích tỷ lệ tổn thất của các ngân hàng thương mại. Sử dụng
một mô hình động và một tập dữ liệu bảng điều khiển trong giai đoạn 1985-1997 để điều tra các
yếu tố quyết định các khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại và tiết kiệm Tây Ban Nha,
Salas và Saurina(2002) cho rằng tăng trưởng GDP thực là một trong các yếu tố giải thích khác
biệt trong tỷ lệ nợ xấu.
Thu nhập: Lawrence (1995) đã xem xét một mô hình và giới thiệu một cách rõ ràng xác
suất của sự vỡ nợ. Mô hình này cho rằng khách hàng đi vay có thu nhập thấp có tỷ lệ vỡ nợ cao
hơn do họ có nguy cơ phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp và không có khả năng chi trả nợ.
Ngoài ra, các ngân hàng cũng tính lãi suất cao hơn cho các khách hàng rủi ro.
Tỷ lệ lạm phát: Sự bất ổn định kinh tế vĩ mô biểu hiện bằng tỷ lệ lạm phát cao cũng làm
cho việc thẩm định nợ cho vay khó khăn hơn đối với các ngân hàng, hơn nữa, giá tài sản cũng có
khả năng rất dễ bay hơi trong điều kiện như vậy. Do đó, giá trị tiền vay thực trong tương lai cũng
là rất không chắc chắn (Martin Brownbrigde, 1998)
Tỷ lệ thất nghiệp: Một sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp có thể ảnh hưởng tiêu cực các dòng lưu
chuyển tiền tệ của các hộ gia đình và làm tăng gánh nặng nợ nần. Còn đối với các công ty, gia
tăng thất nghiệp có thể báo hiệu một sự sụt giảm trong sản xuất như là một hệ quả của sự sụt
giảm trong cầu tiêu dùng. Điều này dẫn đến việc giảm doanh thu và sau đó là vỡ nợ. Babouček
và Jančar (2005) xác định sự tác động của những cú sốc kinh tế vĩ mô đến chất lượng cho vay
của ngành ngân hàng Séc trong giai đoạn 1993-2006 và đã công bố mối tương quan giữa các
khoản cho vay không hiệu quả với tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát.
Lãi suất: Lãi suất tăng dẫn đến việc trả nợ khó khăn hơn, trong trường hợp cho vay lãi suất
thả nổi. Kết quả là sự gia tăng gánh nặng nợ do các khoản thanh toán lãi tăng và nợ xấu cũng
tăng. Nghiên cứu của Kalirai và Scheicher (2002) đã sử dụng hồi quy tuyến tính đơn giản để
kiểm tra sự phụ thuộc lẫn nhau của các yếu tố rủi ro tín dụng đến các ngân hàng ở Áo trong giai
một trong những yếu tố nội bộ dẫn tới tình trạng nợ xấu tăng.
Điều khoản tín dụng chưa chặt chẽ: Ngân hàng cho vay mà không xem xét các điều khoản
tín dụng đầy đủ có khả năng sẽ dẫn đến sự xuất hiện nợ xấu. Jimenez và Saurina (2005) trong
nghiên cứu của họ được tiến hành đối với các ngân hàng Tây Ban Nha giai đoạn 1984-2003 đã
đưa ra bằng chứng cho thấy nợ xấu có liên quan đến các điều khoản tín dụng thiếu sự chặt chẽ.
Quy mô ngân hàng: Nghiên cứu của Cole et al. (2004) sử dụng dữ liệu thu được từ năm
1993 Khảo sát Dự trữ Liên bang Tài chính doanh nghiệp nhỏ và các báo cáo ngân hàng tài chính
Quốc gia, cho rằng các ngân hàng nhỏ chỉ bảo lãnh cho vay doanh nghiệp nhỏ rủi ro sẽ cao hơn
so với các ngân hàng lớn, rủi ro trong đó là các công ty nhỏ sẽ thiếu dữ liệu tài chính để xem xét
khả năng hoàn vốn và rủi ro còn ở mức tỷ lệ thất bại của các doanh nghiệp nhỏ là cao hơn so với
những người lớn hơn.
Hiệu quả chi phí: Hughes et al. (1995) đã nghiên cứu mối liên hệ giữa rủi ro và hiệu quả
hoạt động của các ngân hàng. Để cải thiện chất lượng cho vay, các ngân hàng sẽ tăng giám sát và
phải chịu chi phí cao hơn, nhưng bù lại làm tăng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, nợ xấu sẽ
giảm. Do đó, một ngân hàng kém hiệu quả trong thực tế có thể nắm giữ một danh mục đầu tư rủi
ro thấp. Bercoff,Giovanni và Grimard (2002) cũng cho thấy, hoạt động hiệu quả giúp giảm thiểu
các khoản nợ xấu.
Cơ cấu sở hữu: Hu et al (2006) đã phân tích mối quan hệ giữa nợ xấu và cơ cấu sở hữu của
các ngân hàng thương mại tại Đài Loan với một tập dữ liệu bảng cho giai đoạn 1996-1999 cho
thấy các ngân hàng với quyền sở hữu của chính phủ cao hơn ghi nhận khoản nợ xấu thấp hơn.
Trong khi đó nghiên cứu của Walter và Werlang (1995) lại cho rằng các tổ chức tài chính nhà
nước hoạt động trên thị trường kém hiệu quả, bởi vì danh mục đầu tư của họ chỉ tập trung vào
các khoản nợ xấu nợ do các công ty nhà nước gây ra.
11
Bài báo cáo môn phương pháp nghiên cứu kinh tế
Giám sát khoản cho vay: Thường xuyên theo dõi chất lượng các khoản cho vay là điều cần
thiết của mọi ngân hàng để đảm bảo một hệ thống tài chính lành mạnh và ngăn chặn các cuộc
Mô hình hồi quy đa biến:
NPLR = α0 + β1TL + β2IR + β3GDPPC + β3TA + €
Trong đó
NPLR: tỷ lệ nợ xấu (NPL’s rate)
TL: Tổng dư nợ (total loans)
IR: Lãi suất (Interest rate)
GDPPC: GDP thực trên đầu người (real GDP per capita)
TA: Tổng tài sản (Total assets)
€: Sai số
12
Bài báo cáo môn phương pháp nghiên cứu kinh tế
3. Công cụ phân tích: Phần mềm Eview 4.0
Cỡ mẫu:
Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 2002-2011 ở 5 ngân hàng thương mại lớn ở
Việt Nam: Techcombank, Vietinbank, Vietcombank, Sacombank, ACB. Do giới hạn của bài viết
nên việc nghiên cứu chỉ dựa trên mẫu là 5 ngân hàng thương mại lớn ở Việt Nam sẽ không đánh
giá được hết mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập do đó độ tin cậy của mô hình chưa cao. Bên
cạnh đó, mặc dù dữ liệu về tổng dư nợ cho vay, tổng tài sản đã có từ những năm trước đó song
nhóm không thể sử dụng được những dữ liệu đó do sự vắng mặt của số liệu tỷ lệ nợ xấu và lãi
suất. Chính vì vậy sự thu thập số liệu các biến độc lập sẽ được thu hẹp trong giai đoạn 20022011.
Cách chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên ( chọn 5 trong 20 ngân hàng lớn nhất Việt Nam
theo Bảng xếp hạng VNR500 - TOP 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam 2009).
Nguồn dữ liệu:
Bài viết lấy dữ liệu thứ cấp từ tổng cục thống kê và từ các bảng báo
cáo tài chính thường niên của 5 ngân hàng Techcombank, Vietinbank, Vietcombank,
Sacombank, ACB trong giai đoạn từ năm 2002-2011. Do đó mức độ tin cậy và mức độ chính xác
62.357.978
167.881.047
2010
87.195.105
205.102.950
2011
101.897.633
281.019.319
Nguồn
Website
Báo
cáo
/>Ngân hàng Vietcombank (đơn vị: triệu VND)
Tổng Nợ
Tổng Tài sản
2002
29.295.181
81.668.309
2003
39.629.761
97.653.125
2004
51.772.554
121.200.151
2005
86.855.031
136.720.611
Tổng nợ xấu
30.634
112.792.965
141.621.126
166.952.020
197.408.036
222.089.520
255.495.883
1.860.700
3.211.629
5.202.045
3.498.684
2010
176.813.906
307.621.338
5.005.547
209.417.633
366.722.279
Website
Báo
cáo
thường
/>
4.257.959
niên
141.798.738
2011
80.539.487
140.136.974
Tổng nợ xấu
46.501
104.104
81.408
208.407
384.008
447.520
463.176
Website
Báo
cáo
thường
niên
/>Ngân hàng Techcombank (đơn vị: triệu VND)
Tổng Nợ
Tổng Tài sản
Tổng nợ xấu
2002
2.103.301
4.059.822
96.271
2003
2.380.100
2011
63.451.465
180.531.163
1.793.656
Website
Báo
cáo
thường
niên
/>Ngân hàng Vietinbank (đơn vị: triệu VND)
Tổng Nợ
Tổng Tài sản
2002
47.120.856
67.980.412
VietcomBank
SacomBank
Techcombank
Tổng nợ xấu
14
Bài báo cáo môn phương pháp nghiên cứu kinh tế
2003
2004
cáo
thường
/>
Năm
1.924.605
1.128.278
1.708.407
2.187.345
1.000.809
1.538.538
5.281.184
niên
VietinBank
Tốc độ tăng trưởng
(%)
2002
440
7.2
2003
492
7.26
2004
552
7.7
2005
636
8.43
vay và kiểm soát nguồn vốn vay, cũng như việc hỗ trợ khách hàng.Không tính toán được rủi ro
tín dụng khi đầu tư tràn lan vào các dự án mà phần lớn trong đó đều không có tính khả thi. Việc
cho các doanh nghiệp nhà nước vay cũng đã làm gia tăng khoản nợ khó đòi một cách đáng kể.
Ngoài ra lãi suất huy động vốn quá cao, dẫn đến lãi suất cho các doanh nghiệp vay tăng lên, các
doanh nghiệp mạnh sẽ không chấp nhận mức lãi suất quá cao, họ có khả năng tìm đến những
nguồn vốn khác. Nghi vấn đặt ra đối với những doanh nghiệp dám chấp thuận mức lãi suất cao.
Phần lớn sự chấp thuận đó xuất phát từ sự thiếu vốn trầm trọng, năng lực tài chính hạn chế, độ
tín nhiệm thấp nên không tiếp cận được những nguồn vốn khác. Và tất nhiên, nguy cơ nợ xấu
ngân hàng tăng lên từ nhóm đối tượng này. Dù răng việc NHTM có quy mô và tổng tài sản lớn
15
Bài báo cáo môn phương pháp nghiên cứu kinh tế
cũng góp phần không nhỏ trước việc ổn định ngân hàng trước vấn đề nợ xấu, nhưng trước thực tế
nợ xấu xuất hiện càng nhiều vượt ngoài tầm kiểm soát thì sẽ vẫn ảnh hưởng không nhỏ đến khả
năng hoạt động của các NHTM.
Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings cho rằng các tính toán về tỷ lệ nợ xấu của hệ
thống ngân hàng Việt Nam đang ở mức thấp hơn so với thực tế. Đồng thời, các thống kê thiếu
tính minh bạch và rất có thể năng lực tài chính của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện ở mức yếu
hơn so với các báo cáo.
Kể từ năm 2011, tỷ lệ nợ xấu đã tăng cao trên khắp hệ thống. Trong khi Việt Nam đã đạt 1
số thành tựu trong việc hạ nhiệt lạm phát và lãi suất, hoạt động kinh tế đang bị ảnh hưởng nặng
nề bởi các yếu tố tiêu cực từ kinh tế thế giới.
Cũng theo Fitch, lợi nhuận của các ngân hàng sẽ chỉ tăng trưởng ở mức khiêm tốn do
những lần cắt giảm lãi suất trong 6 tháng đầu năm đã ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận cận biên
trong khi nhu cầu về các khoản vay mới không tăng. Thêm vào đó, mặc dù 1 số ngân hàng lớn đã
tăng vốn trong thời gian cuối năm 2011 và 6 tháng đầu năm nay, toàn bộ hệ thống ngân hàng vẫn
đang khá yếu và dễ bị ảnh hưởng bởi các cú sốc liên quan đến chất lượng tài sản.
Các cơ quan chức năng cũng đã cố gắng giải quyết 1 vài vấn đề mang tính chất gốc rễ. Một
số biện pháp cải cách cụ thể cũng đã được đưa ra, ví dụ như tái cấu trúc các ngân hàng nhỏ và có
khoản vay, đầu tư kinh doanh hiệu quả hay không và tư vấn khi cần thiết.
Cần phải nghiêm ngặt và rõ ràng trong quá trình tìm hiểu và xác định mức độ rủi ro. Cùng
đó, cần hoàn thiện cơ chế pháp lý về mua bán nợ đặc biệt là nợ của DNNN để ngăn ngừa rủi ro,
thất thoát vốn khi mua bán nợ.
Để giải quyết nợ xấu của các ngân hàng, các ngân hàng phải tự xử lý nợ xấu của mình,
bằng cách trích lập dự phòng rủi ro, khoanh nợ, giãn nợ và bán nợ. Những ngân hàng có tỷ lệ nợ
xấu không có khả năng tự xử lý thì phải sát nhập, chuyển nhượng theo đề án tái cơ cấu của
NHTM.
17
Bài báo cáo môn phương pháp nghiên cứu kinh tế
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đề cương nghiên cứu có sử dụng một số tài liệu tham khảo như sau:
VI.
Irum Saba, Rehana Kouser, Muhammad Azeem.(2012). Determinants of Non Performing Loans:
Case of US banking Sector.
Wondimagegnehu Negera. (2012). Determinants of Non Performing Loans: The case of
Ethiopian Banks.
Hippolyte Fofack. (2005). Nonperforming loans in sub-saharan Africa :causal analysis and
macroeconomic implications.
O.Masood , B.Aktan.(2009). Determinants of non-perfroming loans: a comparative analysis.
Hu, Jin-Li, Yang Li & Yung-Ho, Chiu. (2006). Ownership and Non-performing Loans: Evidence
from Taiwan’s Banks. Developing Economies.
Jimenez, Gabriel & Jesus Saurina. (2005). Credit cycles, credit risk, and prudential
regulation.Banco de Espana.
Patersson, Jessica & Isac Wadman.(2004) . Non- Performing Loans-The markets of Italy and
Sweden, Uppsala University thesis, Department of Business Studies.