THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG đầu tư CHỨNG KHOÁN tại THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM và VAI TRÒ của CHỦ đầu tư nước NGOÀI - Pdf 35

Thảo luận môn Thị trường vốn

Nhóm 4 – Lớp Kinh tế đầu tư K17 (Hệ cao học)

MỤC LỤC
PHẦN I: MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN...............3
I. Khái niệm và phân loại hoạt động đầu tư chứng khoán..............................3
1.1 Khái niệm..........................................................................................................................3
1.2 Phân loại đầu tư chứng khoán...........................................................................................3

II. Các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư chứng khoán................................5
2.1 Nhà đầu tư (NĐT).............................................................................................................5
2.2 Nhà phát hành...................................................................................................................6
2.3 Trung gian tài chính..........................................................................................................6

III. Quy trình đầu tư chứng khoán....................................................................7
3.1 Tìm hiểu thị trường...........................................................................................................7
3.2 Xác định chứng khoán mục tiêu.......................................................................................8
3.3 Thu thập và sàng lọc thông tin/ Lựa chọn danh mục đầu tư.............................................8
3.4 Xác định các tiêu chí đầu tư..............................................................................................9
3.5 Theo dõi Danh mục đầu tư..............................................................................................10
3.6 Thanh lý/Cut loss............................................................................................................10

IV. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán................11
4.1 Khả năng sinh lời từ khoản đầu tư chứng khoán trong tương lai...................................11
4.2 Mức độ rủi ro có thể gặp của loại chứng khoán được đầu tư.........................................11
4.3 Khả năng thanh khoản của chứng khoán đầu tư.............................................................12
4.4 Mức độ và khả năng kiếm soát, chi phối hoạt động của doanh nghiệp..........................12

PHẦN II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.............................................14

dịch Chứng khoán và Trung tâm Lưu ký chứng khoán........................................................38
2.5 Nâng cao chất lượng hoạt động của thị trường chứng khoán.........................................38
2.6 Nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán...........................39
2.7 Đẩy mạnh hoạt động và tăng cường vai trò của Hiệp hội ngành chứng khoán trong việc
hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước trên các phương diện:.......................................................40
2.8 Tăng cường hợp tác quốc tế............................................................................................40
2.9 Tăng cường công tác đào tạo, nghiên cứu và thông tin tuyên truyền.............................40
2.10 Kinh phí và cơ sở vật chất - kỹ thuật cho thị trường chứng khoán...............................41
2.11 Nâng cao nhận thức của các NĐT cá nhân...................................................................41

2


Thảo luận môn Thị trường vốn

Nhóm 4 – Lớp Kinh tế đầu tư K17 (Hệ cao học)

PHẦN I: MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
I. Khái niệm và phân loại hoạt động đầu tư chứng khoán
1.1 Khái niệm
Đầu tư chứng khoán là một loại hình đầu tư tài chính. Trong hoạt
động này, nhà đầu tư bỏ tiền để mua chứng khoán (bao gồm cổ phiếu,
trái phiếu…). Giá trị của chứng khoán phụ thuộc vào giá trị kinh tế cơ
bản của các quyền được bao hàm trong mỗi loại chứng khoán, hay phụ
thuộc vào năng lực tài chính của nhà phát hành. Đồng thời, giá chứng
khoán phụ thuộc vào quan hệ cung cầu chứng khoán trên thị trường.
Đầu tư chứng khoán giúp nhà đầu tư có thể thu được lợi nhuận từ
phần lợi tức được chia và phần tăng giá chứng khoán trên thị trường.
Mặt khác, nhà đầu tư có thể được hưởng quyền quản lý, quyền kiểm
soát doanh nghiệp từ việc nắm giữ cổ phiếu.

thu được chênh lệch giá chứng khoán và các quyền lợi khác nếu có.
Hoạt động đầu tư hưởng lợi gồm kinh doanh chênh lệch giá, hoạt
động đầu cơ, kinh doanh giảm giá, tạo lập thị trường.
- Đầu tư phòng vệ
Hoạt động đầu tư có khả năng mang lại lợi nhuận lớn, song cũng
hàm chứa rủi ro rất cao. Vì vậy, công cụ phòng vệ xuất hiện ngày càng
nhiều nhằm giúp nhà đầu tư phòng tránh rủi ro, như: hợp đồng giao
sau, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền mua…, các công cụ này được
sử dụng cho cả nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá, nghiệp vụ đầu tư
và nghiệp vụ phòng vệ.
- Đầu tư nắm quyền kiểm soát
Cổ phiếu cho phép chủ sở hữu có quyền kiểm soát công ty phát
hành thông qua quyền nhận thông tin, quyền tham dự và biểu quyết tại
ĐHCĐ. Số lượng cổ phiếu nắm giữ thường quyết định khả năng biểu
quyết, kiểm soát của nhà đầu tư. Một số nhà đầu tư lớn, thường là nhà
đầu tư tổ chức như doanh nghiệp hoặc ngân hàng lớn thường thực hiện
hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát.
Một hình thái khác của đầu tư nắm quyền kiểm soát phát triển trong
những năm gần đây là hoạt động đầu tư mạo hiểm. Một số tổ chức đầu
tư lớn tìm kiếm cơ hội đầu tư từ các công ty chưa phát triển, đặc biệt
yếu kém về công nghệ quản lý. Thông qua nắm quyền kiểm soát, họ
thực hiện tái cấu trúc công ty, thay đổi quản lý, công nghệ, từ đó nâng
cao hiệu quả hoạt động và cải thiện hình ảnh trong công chúng đầu tư
4


Thảo luận môn Thị trường vốn

Nhóm 4 – Lớp Kinh tế đầu tư K17 (Hệ cao học)




Thảo luận môn Thị trường vốn

Nhóm 4 – Lớp Kinh tế đầu tư K17 (Hệ cao học)

khoán được lựa chọn còn theo cảm tính, do vậy chất lượng đầu tư
thường không cao.
2.2 Nhà phát hành
Nhà phát hành lớn nhất trên thị trường là các tổ chức kinh tế, bao
gồm Chính phủ và chính quyền địa phương, DN, ngân hàng thương
mại và các trung gian tài chính khác. Hoạt động phát hành chứng
khoán của các trung gian tài chính làm tăng khả năng tích tụ và tập
trung vốn trên thị trường. Chính phủ và chính quyền địa phương phát
hành trái phiếu và công cụ nợ ngắn hạn nhằm huy động vốn để bù đắp
thiếu hụt ngân sách và chi đầu tư.
Các DN phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ nợ ngắn hạn
nhằm huy động vốn đáp ứng nhu cầu hoạt động. Phần lớn lượng vốn
này được dùng để đầu tư mua sắm các tài sản thực, do vậy làm tăng
năng lực sản xuất của nền kinh tế.
Các trung gian tài chính như ngân hàng thương mại có thể phát
hành chứng khoán để huy động vốn. Chứng khoán do đối tượng này
phát hành có khối lượng lớn và độ an toàn khá cao, do vậy thường hấp
dẫn công chúng đầu tư.
2.3 Trung gian tài chính
Các tổ chức trung gian đầu tư bao gồm CTCK, công ty quản lý quỹ,
tổ chức bảo hiểm, ngân hàng và trung gian đầu tư khác. Các CTCK
thường thực hiện hoạt động môi giới, tư vấn đầu tư, bảo lãnh phát
hành, tự doanh…
Khác với CTCK, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện


Nhóm 4 – Lớp Kinh tế đầu tư K17 (Hệ cao học)

Với các nội dung như trên, nhà đầu tư có thể chủ động nhận biết
các đặc điểm về qui luật vận động của thị trường, cũng như xác định
được xuất phát điểm tham gia vào thị trường của mình đang ở đâu
trong chu trình vận động ấy.
3.2 Xác định chứng khoán mục tiêu
Đây là bước mà nhà đầu tư phải tiến hành sơ bộ lọc ra các mã
chứng khoán có khả năng đầu tư dựa trên những hiểu biết và phán
đoán của mình. Để thực hiện bước này, nhà đầu tư nên có sự quan sát
ngay từ bước Tìm hiểu thị trường và tiếp tục củng cố nhận định của
mình bằng phân tích sơ bộ dựa trên những thông tin đại chúng và/hoặc
thông tin riêng.
3.3 Thu thập và sàng lọc thông tin/ Lựa chọn danh mục đầu tư
Thu thập và sàng lọc thông tin là một quá trình thường xuyên trước
và sau khi tiến hành đầu tư. Với nhóm chứng khoán tiềm năng đã
được lựa chọn từ bước trên, nhà đầu tư có thể tập trung thu thập và
phân tích thông tin chi tiết hơn để lựa chọn chứng khoán tối ưu cho
danh mục đầu tư của mình. Lưu ý rằng cảm tính có thể đem lại thành
công chứ không phải sự chắc chắn, do đó, chỉ những chứng khoán có
đầy đủ căn cứ thực tế mới được chọn vào Danh mục. Nhà đầu tư cũng
nên cân nhắc về tính “mở” thông tin của chứng khoán thành phần
nhằm giảm thiểu những hạn chế trong việc theo dõi và quản lý danh
mục sau đầu tư.
Trong quá trình lọc chứng khoán thành phần, nhà đầu tư cũng nên
chú trọng phân tán rủi ro bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư. Ví
dụ, nhà đầu tư có thể kết hợp chứng khoán theo sự đối trọng về mức
độ rủi ro (các chứng khoán có tần suất dao động lớn kết hợp với các
chứng khoán có tần suất dao động nhỏ), đối trọng giữa những ngành

thuận lợi và ổn định; các chứng khoán thành phần được lựa chọn theo
hướng phân tán rủi ro (đa dạng hóa danh mục). Thực tế lịch sử vận
động của các chứng khoán thành phần cho thấy:
Biên dao động nhỏ, quá trình sụt giảm chậm với chu kỳ thưa,
Điều chỉnh giảm sâu nhất trong 06 tháng qua là 31,1%, trung bình
cả danh mục là 18,6%
Tốc độ tăng trưởng bình quân toàn danh mục trong 06 tháng là 32%
(với tỉ trọng đầu tư giả định là đều nhau)
9


Thảo luận môn Thị trường vốn

Nhóm 4 – Lớp Kinh tế đầu tư K17 (Hệ cao học)

Nhà đầu tư sẵn sàng chịu lỗ tới 15% giá trị đầu tư để đổi lấy khả
năng thu lợi 32%
Như vậy, nhà đầu tư có thể xác định tiêu chí đầu tư như sau:
Lợi nhuận kỳ vọng: 32%
Rủi ro dự kiến: 18,6%
Mức cut loss: 15%
3.5 Theo dõi Danh mục đầu tư
Đây là quá trình giám sát danh mục dựa trên các tiêu chí đầu tư đã
đề ra từ bước trên. Trong bước này, thông tin tiếp tục được cập nhật
và phân tích theo mức độ thường xuyên có thể của nhà đầu tư. Mức độ
ấy có thể khác nhau giữa mỗi nhà đầu tư, song phải đảm bảo phát hiện
kịp thời được những biến động bất thường của thị trường và của
chứng khóan thành phần. Trong trường hợp các tiêu chí đầu tư đạt
mức hoặc bị vi phạm, chúng ta nên lập tức trở lại bước 3 để xác định
nguyên nhân của biến động và tiến hành chỉnh sửa tiêu chí đầu tư,

đầu tư. Như vậy, bạn đã đánh mất niềm tin vào bản thân, vào năng lực
ra quyết định của chính mình.
Xung quanh vấn đề này, có một câu hỏi thú vị là: “Vậy tại sao tôi
phải bỏ qua cơ hội được nhiều hơn hoặc mất ít hơn?”. Câu trả lời thật
đơn giản: “Từ bỏ cũng là một nghệ thuật trong đầu tư!”.
IV. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán
4.1 Khả năng sinh lời từ khoản đầu tư chứng khoán trong tương
lai.
Mục đích trước hết của đầu tư chứng khoán là nhằm thu được lợi
nhuận trong tương lai, vì vậy khả năng sinh lời của khoản đầu tư
chứng khoán là nhân tố cần được xem xét hàng đầu. Tuy nhiên khả
năng sinh lời của chứng khoán lại chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố
khác như: lĩnh vực,ngành nghề kinh doanh, chính sách kinh tế của nhà
nước; khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường; chính
sách chi trả cổ tức… Vì thế để tối đa hóa lợi nhuận, nhà đầu tư cần
phải phân tích, đánh giá kỹ các nhân tố có thể ảnh hưởng đến khả
năng sinh lợi để lựa chọn quyết định đầu tư cho phù hợp.
4.2 Mức độ rủi ro có thể gặp của loại chứng khoán được đầu tư.
Để có thể thu được lợi nhuận tối đa trong đầu tư chứng khoán nhà
đầu tư còn phải biết cách để tối thiểu hóa các rủi ro có thể gặp. Việc
11


Thảo luận môn Thị trường vốn

Nhóm 4 – Lớp Kinh tế đầu tư K17 (Hệ cao học)

đánh giá mức độ rủi ro trong đầu tư chứng khoán không chỉ đối với
từng loại chứng khoán riêng rẽ mà còn đối với toàn bộ danh mục đầu
tư chứng khoán nhằm hạn chế và phân tán rủi ro. Thông thường, mức

Thảo luận môn Thị trường vốn

Nhóm 4 – Lớp Kinh tế đầu tư K17 (Hệ cao học)

phối hoạt động của doanh nghiệp, hỗ trợ cho việc thực hiện mục tiêu
tối đa hóa lợi nhuận của mình.

13


Thảo luận môn Thị trường vốn

Nhóm 4 – Lớp Kinh tế đầu tư K17 (Hệ cao học)

PHẦN II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG
KHOÁN TẠI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
I. Hoạt động đầu tư trên thị trường
1.1 Hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trong nước
Theo báo cáo của UBCKNN, số lượng tài khoản tính đến cuối
tháng 10/2009 là 766.725 tài khoản (trong đó nhà đầu tư có tổ chức là
3.147 tài khoản và nhà đầu tư cá nhân là 763.578 tài khoản), tăng khá
mạnh so với đầu năm 2009.
Theo báo cáo tính đến cuối tháng 10/2009, thị trường đã có 46 công
ty quản lý quỹ được cấp phép hoạt động (do 1 công ty đã giải thể
tháng 7/2009) với tổng số vốn điều lệ là gần 1.835 tỷ đồng (năm 2009
chỉ có 4 công ty được thành lập mới); có 20 quỹ đầu tư chứng khoán
(4 quỹ công chúng và 16 quỹ thành viên) với tổng số vốn huy động là
12.757 tỷ đồng (1 quỹ giải thể và 1 quỹ tăng vốn); và 29 văn phòng
đại diện đang hoạt động
TTCKVN tuy có những thăng trầm trong từng giai đoạn khác nhau,

số họ đã thành công và thường giữ những vị trí cao ở các CTCK hay
các tổ chức tài chính, các cơ quan nhà nước có ảnh hưởng đến TTCK.
Dưới đây là đánh giá về đối tượng này theo các tiêu chí đề cập trên.
Do có kinh nghiệm, kiến thức và quan hệ, họ cũng ít bị ảnh hưởng bởi
các yếu tố kiểu như giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài, các báo cáo
của các tổ chức... Có chăng đó chỉ là hành động "té nước theo mưa"
của đối tượng này. Một số trong nhóm đối tượng này chính là những
người có đủ tầm tác động vào thị trường. Tuy nhiên, tỉ lệ phần trăm
trên lượng vốn đầu tư của đối tượng này không nhiều.
ST
T
1

Tiêu chí đánh giá
Kiến thức tài chính

Điểm
4

2

Các mối quan hệ trong lĩnh vực
tài chính

5

3

Hiểu biết về TTCK Việt Nam



4

Tổng

27

Cuối 2005 đến nay: Trẻ và "lướt sóng" nhiều hơn
Có thể tạm gọi là giai đoạn khởi động của TTCK VN, thị trường
giao dịch sôi động hơn rất nhiều so với giai đoạn trước. Số lượng
NĐT tham gia đông hơn. Các Công ty có cổ phiếu niêm yết tăng lên
về số lượng, quy mô, ngành nghề. Chính sự sôi động trong giai đoạn
này đã thu hút số lượng NĐT cá nhân tham gia đa dạng hơn.
Xét kỹ hơn về những đối tượng tham gia vào giai đoạn này có thể
thấy đối với những người học tài chính, hay liên quan đến tài chính,
có hiểu biết về tài chính độ tuổi trẻ hơn, kinh nghiệm ít hơn và tham
gia đúng vào thời điểm thị trường tăng mạnh, nên ít có thời gian trau
dồi kiến thức, do thành công có phần nào đó may mắn nên có tâm lý
chủ quan tự mãn, điều này có thể ảnh hưởng xấu đến thành công của
họ.
Giai đoạn trầm lắng vừa qua làm cho họ trưởng thành nên nhiều.
Tuy nhiên, do trẻ tuổi và kinh nghiệm ít nên các giao dịch mua bán
của họ có tính "cờ bạc" hơn . Xu hướng chung là thích "lướt sóng",
mức độ "lướt sóng" tăng lên theo sự tự tin.
Những thành phần NĐT còn lại trong giai đoạn này, do quan niệm
"đầu tư cổ phiếu" như đã nó ở trên, đa số họ chọn lựa mua bán cổ
phiếu theo cảm tính và cảm hứng, hay "ai bảo gì mua nấy".
Xét về tiềm lực tài chính thì đây không phải là đối tượng mạnh,
nhưng lại có sự đông đảo về số lượng, có khoảng hơn 300.000 tài
khoản được mở trong giai đoạn này. Nói chung lại, những NĐT tham

Các mối quan hệ trong lĩnh vực tài
chính

Điểm
2
1

3

Hiểu biết về TTCK Việt Nam

2

4

Hiểu biết về TTCK thế giới

1

5

Tiềm lực tài chính cá nhân

1

6

Mức độ ảnh hưởng

1

19% và cho đến tháng 5/2007, có tính toán cho biết tỷ lệ này đã lên
đến 20-25%.
Như vậy, so sánh hai mốc thời điểm đầu năm 2006 với những tháng
đầu năm 2007, tỷ lệ sở hữu giá trị cổ phiếu của nhà đầu tư nước ngoài
đã tăng gấp gần 4 lần. Tình hình đó cũng có tính tương ứng với thông
tin của Ngân hàng thế giới ước tính các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu
tư khoảng 4 tỷ USD vào thị trường chứng khoán Việt Nam.
Tính đến tháng 4/2007, nhà đầu tư nước ngoài vẫn mạnh nhất trên
thị trường niêm yết, trong đó giá trị đầu tư vào cổ phiếu của các công
ty niêm yết chiếm đến 68% trong tổng giá trị đầu tư của nhà đầu tư
nước ngoài; đầu tư vào trái phiếu niêm yết chiếm 25%; đầu tư vào trái
phiếu không niêm yết chỉ chiếm 6% và đầu tư vào cổ phiếu không
niêm yết chỉ vẻn vẹn có 1%.
Tại thị trường niêm yết, nhà đầu tư nước ngoài đã nhanh chóng sở
hữu đến 49% hoặc đang có xu hướng đạt đến 49% (tỷ lệ cao nhất cho
phép đối với nhà đầu tư nước ngoài) đối với một số mã cổ phiếu như
AGF, CII, BT6, GIL, GMD, IFS, SAM, TDH, TMS, TYA, VNM,
chứng chỉ quỹ VFMVF1.
18


Thảo luận môn Thị trường vốn

Nhóm 4 – Lớp Kinh tế đầu tư K17 (Hệ cao học)

Hiện nay, có những quỹ đầu tư nước ngoài được đánh giá là hoạt
động thành công trên thị trường Việt Nam là Vina Capital, Indochina
Capital, Dragon Capital, IDG Vietnam, PXP Vietnam, City Goup,
HSBC, JP Morgan, Deutsch AG...
Trong số các nhà đầu tư nước ngoài, các quỹ đầu tư có người quản

Nhóm 4 – Lớp Kinh tế đầu tư K17 (Hệ cao học)

Một chuyên viên phân tích khác cũng nhận định: “Nhà đầu tư nước
ngoài có thể chỉ cần nhìn đồ thị là thấy được quy luật lên xuống của
giá một số cổ phiếu. Họ luôn thể hiện sự tự tin bất kể khi thị trường
như thế nào và đầu tư theo đúng những kỹ thuật phân tích”. Có
chuyên gia cho rằng các nhà đầu tư nước ngoài đang chia thành hai
nhóm. Một nhóm có chiến lược đầu tư trung và dài hạn dựa trên danh
mục đầu tư rõ ràng, nhóm khác chỉ tập trung đầu tư ngắn hạn. Nhóm
thứ hai chỉ đầu cơ mua bán liên tục và đáng lo ngại là số lượng nhà
đầu tư nước ngoài thuộc nhóm này đang có xu hướng tăng và đang có
vai trò nhất định trong định hướng thị trường. Nhóm này cũng tham
gia lũng đoạn về tin đồn và những thủ thuật làm giá. Hiện chưa có
biện pháp hữu hiệu để kiểm soát hoạt động đầu cơ này.
Có chuyên gia đặt vấn đề với tỷ trọng nắm giữ từ 20-25% số cổ
phiếu niêm yết, nếu trong trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài đồng
loạt rút vốn ra, số vốn bị rút sẽ lên đến 3,5-4,2 tỷ USD. Con số này tuy
chưa làm cạn kiệt dự trữ ngoại hối của Nhà nước nhưng gây rủi ro
nhất định cho nhu cầu nhập khẩu và trả nợ nước ngoài của Việt Nam
hiện còn khá lớn.
Trong thời gian qua, đặc biệt từ đầu năm 2007, đã xuất hiện ngày
càng nhiều đánh giá mang tính nhận định, phân tích về vai trò và hoạt
động của các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, đáng chú ý là diễn
biến hoạt động của họ vẫn còn là một ẩn số lớn. Những bài phân tích
tuy có đề cập đến xu hướng vận động chung của nhà đầu tư nước
ngoài nhưng rất ít thông tin cụ thể về hoạt động của một nhà đầu tư
nước ngoài cụ thể nào.
Nói tóm lại, toàn bộ các hoạt động mua bán của nhà đầu tư nước
ngoài, mối quan hệ giữa khối lượng mua và khối lượng bán, thời điểm
mua vào và thời điểm bán ra, và tất nhiên phải kể đến những tính toán

TTCK vì TTCK rất cần cho sự phát triển kinh tế và cải cách doanh
nghiệp nhà nước.
III. Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước
Tại diễn đàn bàn về "Kế hoạch và giải pháp phát triển TTCK Việt
Nam giai đoạn 2006-2010" do UBCKNN và Hiệp hội kinh doanh
chứng khoán Việt Nam vừa tổ chức tại Hà Nội, các nhà đầu tư chứng
khoán đã chỉ ra những yếu kém đối với cơ quan quản lý chứng khoán.
Theo đó, TTCK Việt Nam đang thiếu nhiều tiêu chuẩn cơ bản.

21


Thảo luận môn Thị trường vốn

Nhóm 4 – Lớp Kinh tế đầu tư K17 (Hệ cao học)

Quan hệ cung - cầu bị bóp méo; hoạt động của các công ty chứng
khoán hiện nay đã phải cạnh tranh nhau một cách không đáng có trong
điều kiện kinh doanh còn nhiều khó khăn.
Ví dụ, khi định giá Công ty kỹ thuật dịch vụ dầu khí (thuộc Tổng
Công ty Dầu khí Việt Nam, một DN có tới 14 DN con trên nhiều tỉnh
thành với 3.200 tỷ tổng tài sản), đã có 3 đơn vị chào thầu với giá khác
biệt hẳn: BSC chào 900 triệu, công ty thứ hai chào 600 triệu và công
ty thứ 3 chào có 259 triệu. Nhưng Thông tư 126 của Bộ Tài chính lại
quy định, chi phí cổ phần hoá của một DN không được quá 400 triệu
và tiền thuê định giá không được quá 10% của 400 triệu đó. Vì thế,
trường hợp này để BSC định giá thì phải báo cáo lên Bộ Tài chính để
được chỉ định thầu. Tuy nhiên, do có các mức giá chào thầu quá thấp
nên trước các sức ép, BSC mặc dù đã được chỉ định thầu vẫn phải
giảm giá xuống còn 245 triệu. 30 nhân viên làm việc ròng rã trong vài

danh sách loại trừ khi định nghĩa về loại hình kinh doanh của các công
ty chứng khoán thay vì xác định cụ thể từng loại hình kinh doanh như
hiện nay.
Bên cạnh đó, thay vì áp dụng chế độ khống chế mức phí trần như
hiện nay hoặc khống chế mức phí sàn hoặc để cho thị trường tự quyết
định như tại các thị trường chứng khoán phát triển, Nhà nước cần đưa
vào vận hành hệ thống phí cố định như kinh nghiệm của Thái Lan
(0,25%/tổng giá trị giao dịch).
Một nhà hoạt động thực tiễn lâu năm trên thị trường chứng khoán
đưa ra nhận đinh về những vướng mắc trong hoạt động bảo lãnh phát
hành như sau: "Rào cản lớn nhất hiện nay đối với các công ty chứng
khoán khi thực hiện dịch vụ bảo lãnh phát hành là tổng giá trị bảo lãnh
phát hành không được vượt quá 30% vốn tự có của tổ chức bảo lãnh.
Sự cẩn trọng đến mức dư thừa theo quy định này đã bộc lộ rõ sự bất
hợp lý trong trường hợp tổ chức bảo lãnh đã tìm được đủ người mua
chứng khoán theo đúng giá trị được bảo lãnh, bất kể tổng giá trị bảo
lãnh là bao nhiêu hoặc khi tổ chức bảo lãnh chỉ bảo lãnh phần còn lại
không được phân phối hết (bảo lãnh dưới hình thức dự phòng.
Đi đôi với việc kém trong linh động trong hoạt động quản lý thị
trường, thì những chính sách dành cho các nhà đầu tư của cơ quan
quản lý Chứng khoán cũng thể hiện sự yếu kém, gò bó và hạn chế các
nhà đầu tư. Tạo ra nhiều phiền toái và thiệt hại không nhỏ đến lợi ích
nhà đầu tư. Những bất cập trên thể hiện như UBCKNN và Trung tâm
23


Thảo luận môn Thị trường vốn

Nhóm 4 – Lớp Kinh tế đầu tư K17 (Hệ cao học)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status