1
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
Gần một trăm năm qua, cùng với sự hỗ trợ rất hiệu quả của các chương
trình Marketing, hoạt động kinh doanh toàn cầu đã có nhiều bước tiến vượt
bậc. Các thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ đã tiếp cận được tới người tiêu dùng
ở mọi nơi trên thế giới. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, các kênh
Marketing truyền thống đã bắt đầu bộc lộ hạn chế, sức hấp dẫn suy giảm.
Phương pháp và hình thức thể hiện đã thành lối mòn là hai trong số những
điểm yếu lớn nhất mà các kênh Marketing truyền thống đang gặp phải. Do đó,
việc tìm kiếm các kênh Marketing mới đang là một trong những yêu cầu
mang tính cấp bách và sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của toàn
ngành Marketing.
Một trong những giải pháp hữu hiệu nhất để giải quyết vấn đề trên là
việc kết hợp những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ với các hoạt
động Marketing truyền thống. Mobile Marketing (hay còn gọi là Markting
qua điện thoại di động) là một trong những thành quả ấn tượng nhất của quá
trình sáng tạo đó. Mobile Marketing là sản phẩm của sự kết hợp giữa công
nghệ viễn thông di động với các chiến lược Marketing truyền thống. Mobile
Marketing có thể được hiểu một cách đơn giản là việc sử dụng điện thoại di
động và các ứng dụng, dịch vụ của chúng làm công cụ để chuyển tải và thực
hiện các chương trình Marketing.
Năm 2011, công ty chuyên nghiên cứu lĩnh vực viễn thông di động –
Mobile Thinking đã tổng kết: tổng chi phí hàng năm của các doanh nghiệp
trên toàn cầu dành cho hoạt động quảng cáo, Marketing qua điện thoại di
2
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ra đời ở Mỹ vào năm 2004 và lần đầu tiên được triển khai ở Việt Nam vào
năm 2006, Mobile Marketing hay còn gọi là Marketing qua điện thoại di động
đang từng bước tạo dấu ấn đối với thị trường Marketing Việt Nam.
Sau một số chương trình đầu tiên được triển khai như chương trình
nhắn tin dự thưởng của nhãn hàng Close-up hay chương trình nhắn tin trả lời
câu hỏi để nhận quà của Pepsi Việt Nam…, thị trường Việt Nam đã chính
thức mở cửa cho kênh Mobile Marketing. Vào giai đoạn đó, các công ty
truyền thông, quảng cáo, Marketing háo hức với một kênh Marketing mới –
một kênh Marketing được kì vọng sẽ tiếp bước Marketing trực tuyến, tạo ra
sức đẩy cho ngành Marketing Việt Nam vốn đang đi vào lối mòn, thiếu tính
sáng tạo và đột phá.
Các doanh nghiệp, nhãn hàng lại có tâm lý hồ nghi và do dự khi
phải lựa chọn giữa những kênh Marketing truyền thống được cho là tốn
kém và nhàm chán nhưng lại rất an toàn với một kênh Marketing mới tiết
kiệm hơn và nghe có vẻ hiệu quả hơn nhưng lại chứa đầy những rủi ro
chưa xác định được.
Ở góc độ quản lý dịch vụ, các nhà mạng viễn thông di động cũng rất
quan tâm đến lĩnh vực kinh doanh mới này. Tuy nhiên, do chưa có những quy
định hướng dẫn nên hoạt động quản lý gặp rất nhiều khó khăn. Thậm chí, có
những thời điểm hoạt động Mobile Marketing bị cấm do những phiền toái và
thiệt hại mà nó mang lại cho người dùng điện thoại. Trong khi đó, quy định
và hướng dẫn của các cơ quan quản lý nhà nước cũng chưa thực sự bắt kịp sự
phát triển quá nhanh của kênh Marketing này.
Ngoài ra, trong những năm gần đây, người sử dụng điện thoại di động đối tượng của hoạt động Mobile Marketing, quảng cáo qua tin nhắn điện thoại
4
di động hoàn toàn bị động, thiếu thông tin và hoang mang trước những tin
1.2 Mục đích, nhiệm vụ của nghiên cứu
1.2.1 Mục đích nghiên cứu
Nội dung của luận án sẽ tập trung vào các mục đích chính như sau:
- Hệ thống hóa lý thuyết cơ bản về Mobile Marketing;
- Tổng kết, so sánh, đánh giá, phân tích các mô hình lý thuyết có
trước về hành vi người tiêu dùng và các nhân tố ảnh hưởng tới
chúng, từ đó lựa chọn mô hình lý thuyết nền tảng phù hợp nhất
cho nghiên cứu;
- Xây dựng mô hình nghiên cứu hành vi và các nhân tố ảnh hưởng
đến hành vi của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội đối
với hoạt động Mobile Marketing;
- Đưa ra các đề xuất, kiến nghị để thúc đẩy sự phát triển của
Mobile Marketing tại thị trường Việt Nam.
1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được các mục tiêu trên, nghiên cứu có các nhiệm vụ sau:
- Tổng hợp và hệ thống hóa các khái niệm, quan điểm, nội dung lý
luận về Mobile Marketing.
- Giới thiệu, đánh giá các mô hình lý thuyết nền tảng về hành vi
người tiêu dùng và hành vi người tiêu dùng đối với hoạt động
Marketing điện tử.
- Xác định những hành vi chủ yếu của người tiêu dùng khu vực
nội thành Hà Nội đối với hoạt động Mobile Marketing.
- Xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi và thái độ
của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội đối với hoạt động
Mobile Marketing.
6
- Tiến hành điều tra, khảo sát và nghiên cứu thực tế hành vi của
vi và các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ, hành vi của họ.
7
Bên cạnh đó, cho dù Mobile Marketing đã phát triển rất đa dạng
trên thế giới, nhưng tại Việt Nam hoạt động Mobile Marketing
còn tương đối mới và nghèo nàn, ứng dụng phổ biến nhất của
Mobile Marketing đang được triển khaitại Việt Nam mới chỉ là
các chương trình quảng cáo qua tin nhắn ngắn (SMS
Advertising). Vì vậy, để tránh những lỗi phát sinh trong quá trình
thực hiện điều tra đối với người tiêu dùng, nội dung điều tra
thực tế sẽ chỉ tập trung vào những câu hỏi đối với hoạt động
quảng cáo qua tin nhắn và coi đây là đại diện cho quan điểm của
họ đối với Mobile Marketing nói chung.
- Về mặt thời gian: Toàn bộ nghiên cứu bao gồm cả nghiên cứu lý
thuyết và khảo sát thực tế được thực hiện trong 4 năm từ tháng
10 năm từ 2007 đến tháng 10 năm 2011. Tuy nhiên, hoạt động
điều tra xã hội học đối với người tiêu dùng được thực hiện trong
vòng 2 tháng từ tháng 4/2011 đến tháng 5/2011. Điều này nhằm
đảm bảo tính thời sự cho kết quả nghiên cứu.
1.4 Tình hình nghiên cứu
Cho dù Mobile Marketing đã có lịch sử hình thành và phát triển gần 10
năm, tuy nhiên hoạt động nghiên cứu đối với kênh Marketing vẫn còn ở giai
đoạn sơ khai. Vì vậy, việc tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo gặp rất nhiều
khó khăn, đặc biệt là với các nội dung nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng
đối với hoạt động Mobile Marketing. Hơn thế nữa, đây cũng là hoạt động mới
ở Việt Nam nên tài liệu, công trình nghiên cứu và số liệu khảo sát thực tế
chưa được thực hiện nhiều.
xác định được một số nhân tố chính tác động tới quyết định sử
dụng kênh Mobile Marketing của doanh nghiệp. Tuy nhiên,
9
nghiên cứu này mới chỉ được thực hiện với một số ít doanh
nghiệp thông qua phương pháp phỏng vấn chuyên gia. Vì vậy,
kết quả nghiên cứu chưa đánh giá được hết thực tế của toàn bộ
thị trường.
- Nghiên cứu của Wang (2007) – “Factors influencing high
school learners’ acceptance of marketing messages via short
message service (sms)” [79]. Đây là một trong những nghiên cứu
công phu và trực tiếp nhất về hành vi của người tiêu dùng đối với
hoạt động Mobile Marketing. Nghiên cứu tập trung vào xác định
các nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận tin nhắn Marketing
của học sinh phổ thông trung học. Nghiên cứu đã xây dựng và
kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận
tin nhắn Marketing của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, kết quả
nghiên cứu cũng giúp chỉ ra rằng người tiêu dùng chỉ thực hiện
những hành vi tích cực đối với hoạt động Mobile Marketing khi
họ chấp nhận chúng. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của nghiên cứu
là chỉ giới hạn quy mô của khảo sát trong nhóm học sinh phổ
thông trung học.
- Nghiên cứu của Leppäniemi và Karjaluoto (2008b) - “Mobile
Marketing: From Marketing Strategy to Mobile Marketing
Campaign Implementation” [50]. Nghiên cứu tập trung vào xây
dựng và triển khai kịch bản dịch vụ cho các chiến dịch Mobile
Marketing. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tất cả các chiến lược
Marketing truyền thống đều có thể được chuyển tải và thực hiện
Dữ liệu sử dụng trong các phân tích bao gồm cả dữ liệu sơ cấp và dữ
liệu thứ cấp. Dữ liệu thứ cấp được đúc rút, trích dẫn từ các báo cáo, công trình
11
nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước và các tổ chức, đơn vị nghiên cứu
trong lĩnh vực Marketing, quảng cáo, viễn thông. Dữ liệu sơ cấp được thu
thập thông qua các điều tra, khảo sát thực tế thông qua bảng câu hỏi điều tra
và các cuộc phỏng vấn.
Việc thu thập kết quả điều tra qua bảng hỏi được thực hiện thông qua
ba hình thức chính là: điều tra thông qua phỏng vấn trực tiếp, điều tra qua
bảng hỏi trên Internet, email. Phương pháp chọn mẫu khoa học, đảm bảo tính
đại diện cho đối tượng nghiên cứu. Dữ liệu điều tra sẽ được xử lý bằng
chương trình phân tích, thống kê SPSS 19.0. (Nội dung chi tiết của phần này
sẽ được cụ thể hóa trong chương 3: Phương pháp nghiên cứu)
1.5.2 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án có 5 câu hỏi nghiên cứu chính là:
- Bản chất, nội dung và điều kiện phát triển của Mobile
Marketing?
- Thực trạng hoạt động Mobile Marketing tại khu vực nội thành
Hà Nội như thế nào?
- Người tiêu dùng ở khu vực nội thành Hà Nội có những hành
vinhư thế nào đối với Mobile Marketing?
- Có những nhân tố nào ảnh hưởng tới thái độ và hành vi của
người tiêu dùng tại khu vực nội thành Hà Nội đối với hoạt động
Mobile Marketing và mức độ tác động của từng nhân tố?
- Có sự khác biệt nào về hành vi đối với hoạt động Mobile
Marketing giữa các nhóm người tiêu dùng khác nhau?
- Chương 5: Đề xuất, kiến nghị
13
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I. LÝ THUYẾT VỀ MOBILE MARKETING
2.1 Một số khác biệt trong quan điểm sử dụng thuật ngữ Mobile
Marketing
Mặc dù đã ra đời và phát triển được gần 10 năm nhưng Mobile
Marketing vẫn còn là một lĩnh vực nghiên cứu mới với nhiều điểm chưa đạt
được sự thống nhất đặc biệt là trong cách nhìn nhận và sử dụng thuật ngữ
Mobile Marketing. Do đó, trước khi đi sâu vào nội dung nghiên cứu chính,
luận án sẽ tập trung giải thích, phân tích và đi đến thống nhất một số quan
điểm chính nhằm tạo ra sự nhất quán về quan điểm và lý luận cho các nội
dung nghiên cứu về sau.
Điểm không đồng nhất đầu tiên và cũng là cơ bản nhất xuất phát từ ý
nghĩa của những từ ngữ cấu thành lên thuật ngữ Mobile Marketing. Mobile
Marketing là một danh từ tiếng Anh được cấu thành bởi việc ghép hai danh từ
riêng lẻ là: Mobile và Marketing. Theo giải thích của từ điển tiếng Anh
(Oxford dictionary), từ Mobile có 2 ý nghĩa chính: một là công nghệ của viễn
thông di động, điện thoại di động, hai là sự di động, các vật di chuyển được
[61]. Vì vậy, cho đến nay thuật ngữ Mobile Marketingvẫn đang được sử dụng
để chỉ hai hoạt động có nội dung hoàn toàn khác nhau: (1) hoạt động
Marketing thông qua các thiết bị viễn thông di động và (2) hoạt động
Marketing được thực hiện trên các phương tiện giao thông. Trước khi điện
thoại di động và Internet được sử dụng phổ biến trong 10 năm gần đây, thuật
Marketing (Marketing qua điện thoại di động) và Mobile Advertising (quảng
15
cáo qua điện thoại di động). Xét ở góc độ nội hàm của thuật ngữ Marketing,
hai thuật ngữ này có nội dung, ý nghĩa và phạm vi hoàn toàn khác nhau. Hoạt
động quảng cáo thường chỉ được thực hiện một chiều theo hướng đẩy thông
tin từ phía doanh nghiệp về phía người tiêu dùng nhưng trong thực tế triển
khai hoạt động Mobile Marketing, người tiêu dùng có khả năng tương tác
ngược lại với doanh nghiệp. Nghiên cứu của Tähtinen (2005) về sự khác biệt
giữa hai thuật ngữ này đã xác định thuật ngữ Mobile Marketing có độ phổ
quát rộng hơn và cũng phù hợp, chính xác hơn với các hoạt động diễn ra trong
thực tế. Kết quả nghiên cứu đưa ra hai tầng ý nghĩa chính của thuật ngữ
Mobile Marketing bao gồm: (1) việc sử dụng điện thoại di động để truyền tải
thông điệp Marketing và (2) hỗ trợ khả năng tương tác hai chiều giữa người
nhận và người gửi thông điệp Marketing [70].
Tuy nhiên, cho đến nay, trong cả thực tế lẫn nghiên cứu lý thuyết, hai
thuật ngữ này vẫn thường được sử dụng để thay thế lẫn cho nhau. Điển hình
như trong nghiên cứu của Tsang (2004), Haghirian (2005), Ahslund (2006),
Klaas Kox (2008), Warldt (2009)…, các nhà khoa học sử dụng thuật ngữ
Mobile Advertising còn Ziden (2007), Grant (2007), Barutcu (2010)… lại lựa
chọn sử dụng thuật ngữ Mobile Marketing.
Tổng kết lại, dù vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất hoàn toàn, nhưng
trong phạm vi của luận án này, tác giả lựa chọn Mobile Marketing làm thuật ngữ
đồng nhất để nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả cũng quyết định không Việt hóa thuật
ngữ Mobile Marketing để đảm bảo nội hàm ý nghĩa và tránh trường hợp thuật
ngữ sau khi được Việt hóa không chính xác và đảm bảo đầy đủ ý nghĩa.
2.2 Khái niệm Mobile Marketing
dùng sản phẩm, dịch vụ của họ. Bên cạnh đó, khái niệm cũng nhấn mạnh những
1
the use of the mobile medium as a communications and entertainment channel between a brand and an end-user. Mobile Marketing is
the only personal channel enabling spontaneous, direct, interactive and/or targeted communications, any time, any place
17
tính năng vượt trội mang tính đặc trưng của kênh Marketing này như tính tự
động, trực tiếp, tương tác, hướng đối tượng và bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào. Nội
dung này giúp người đọc có thể nắm bắt được phạm trù cơ bản nhất của Mobile
Marketing và phân biệt được nó với các kênh Marketing khác.
Từ góc tiếp cận mang nhiều tính công nghệ hơn, Dickinger và
Haghirian (2004) [31] lại mở rộng phạm vi của Mobile Marketing sang các
thiết bị có kết nối không dây khác. Với xu thế hội tụ và tích hợp công nghệ
ngày càng cao, những thiết bị hỗ trợ kết nối Internet không dây như máy tính
bảng, hay PDA sẽ là tương lai của ngành viễn thông di động. Đây là sự mở
rộng mang tính đón đầu cho tương lai phát triển của Mobile Marketing. Vì
thế, cho dù khái niệm này được đưa ra cách đây khá lâu (2004) nhưng cho
đến nay nó vẫn là khái niệm rất có giá trị và được nhiều nhà nghiên cứu sử
dụng. Dickinger - Haghirian (2004) quan niệm:
“Mobile Marketing là việc sử dụng phương tiện truyền thông tương
tác không dây để cung cấp cho khách hàng những thông tin đã được cá
nhân hóa với mục tiêu xúc tiến hoạt động bán hàng hóa, dịch vụ và
mang lại giá trị cho các cổ đông.”
(Nguồn: Dickinger và Haghirian 2004)2[31]
Trong khái niệm trên, khác với quan niệm coi Mobile Marketing là một
kênh Marketing hai chiều như MMA Global, Dickinger - Haghirian lại cho
rằng Mobile Marketing chỉ đơn thuần là hoạt động cung cấp thông tin về sản
phẩm, dịch vụ cho người tiêu dùng nhằm mục tiêu xúc tiến bán hàng. Theo
- Mobile Marketing là công cụ được cá nhân hóa giúp doanh nghiệp
tiếp cận người tiêu dùng bất ở kỳ đâu và vào bất kỳ thời gian nào .
2.3 Đặc trưng của Mobile Marketing
Xuất phát từ 2 khái niệm của MMA Global và của Dickinger Haghirian, Iddris (2006) xác định Mobile Marketing có bốn đặc điểm cơ bản
là: (1) mọi lúc mọi nơi, (2) hướng đối tượng, (3) hỗ trợ khả năng tương tác
19
hai chiều và kết nối thời gian thực và (4) kênh Marketing được cá nhân hóa
cao [40]. Năm 2008, trong nghiên cứu về hoạt động Mobile Marketing đối
với thị trường hàng tiêu dùng, Leppäniemi bổ sung thêm một đặc điểm nữa:
(5) Mobile Marketing không phải là thư rác [50]. Vì vậy, cho đến nay,
Mobile Marketing được xác định có 5 đặc trưng căn bản, cụ thể như sau:
2.3.1 Mọi lúc, mọi nơi
McMillan & Hwang (2002) cho rằng một tờ báo một ngày tối đa chỉ có
được 40 nghìn độc giả, điều này đồng nghĩa với việc có khoảng 40 nghìn
người có thể đọc được các thông tin Marketing được đăng trên báo. Truyền
hình và radio thì có số lượng người xem, người nghe lớn hơn nhưng không
phải lúc nào người ta cũng ngồi trước màn hình tivi và radio để xem và nghe
các chương trình Marketing được phát trên tivi và radio [52]
Trong khi đó, thực tế đã chứng minh người sử dụng điện thoại di động
có thói quen luôn mang theo mình chiếc điện thoại di động của mình và sử
dụng chúng ở bất kỳ nơi nào và vào bất kỳ thời gian nào. Kết quả nghiên cứu
của Wang (2007) cho thấy những người ở nhóm tuổi trẻ có thói quen liên lạc
một cách thường xuyên với bạn bè của mình qua tin nhắn SMS [79].
Vì vậy, việc sử dụng điện thoại di động làm công cụ Marketing giúp
cho chương trình Mobile Marketing có thể tiếp cận đối tượng của chương
trình Marketing mọi lúc, mọi nơi. Hay nói một cách khác Mobile Marketing
giấy, tính năng này hầu như là không thể thực hiện được.
Hơn thế nữa, trong trường hợp muốn phản hồi hoặc gửi thông tin cho
doanh nghiệp, người tiêu dùng phải gửi thư, gọi điện thoại hoặc email. Điều
này thường không thể thực hiện ngay lập tức. Trong khi đó Mobile Marketing
lại hỗ trợ khả năng kết nối thời gian thực (cho phép người nhận được thông
tin Marketing có thể nhắn tin phản hồi ngay lập tức và doanh nghiệp cũng
21
ngay lập tức nhận được thông tin). Khi doanh nghiệp tìm hiểu quan điểm
khách hàng của mình, họ chỉ cần gửi tin nhắn tới điện thoại di động của khách
hàng và có thể nhận ngay được câu trả lời cũng thông qua tin nhắn mà không
cần mất thời gian chờ đợi.
2.3.4 Kênh Marketing được cá nhân hóa cao
Tripathi và Mittal (2007) đánh giá kênh Mobile Marketing mang tính
cá nhân cao nhất trong tất cả các kênh Marketing đã được phát triển vì Mobile
Marketingcho phép cá nhân hóa gần như tất cả các nội dung và hoạt động
chính của một chiến dịch Marketing như thông điệp, kịch bản và cả thời điểm
thực hiện chương trình [71].
- Cá nhân hóa nội dung thông điệp Marketing
Thông điệp của các chương trình Mobile Marketing được xây dựng dựa
trên những đặc điểm mang tính đặc thù của khách hàng như độ tuổi, giới
tính hay thói quen tiêu dùng. Những thông tin này được khách hàng cung
cấp qua tin nhắn đăng ký và được cập nhập thường xuyên.
Nội dung của tin nhắn Mobile Marketing được xây dựng và điều chỉnh
phù hợp với từng nhóm đối tượng Marketing. Trong các chương trình
Mobile Marketing, người tiêu dùng còn nhận được tin nhắn được biên tập
phù hợp với đặc điểm mang tính cá nhân của họ như tên, độ tuổi, giới tính
hay sở thích cá nhân của họ.
Với Mobile Marketing, dựa trên đặc tính nghề nghiệp, giới tính, độ tuổi
do khách hàng đăng ký, đơn vị thực hiện chương trình Mobile Marketing
sẽ gửi tin nhắn tới điện thoại của khách hàng. Việc cá nhân hóa thời điểm
gửi thông điệp giúp chương trình Mobile Marketing vừa tăng hiệu quả
23
trong việc tiếp cận khách hàng mục tiêu lại vừa không gây ra phiền nhiễu
cho người nhận.
2.3.5 Không phải là thư rác
Spam (Stupid Pointless Annoying Messages) hay còn được gọi là thư
rác là một trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi trong thời gian gần đây.
Theo Ho và Kwok (2003), hành vi Spam chỉ việc gửi đi nhiều thông điệp có
cùng một nội dung tới các địa chỉ khác nhau nhằm các mục tiêu quảng bá,
thương mại [39].
Trào lưu Spam bùng nổ khi Email được dùng như một công cụ liên lạc
phổ biến vào những năm đầu thế kỉ này. Mỗi ngày có hàng tỉ Email được gửi
đi khắp toàn cầu và rất nhiều trong số đó là Email phục vụ mục đích
Marketing. Spam Email Marketing hoạt động dựa trên nguyên lý doanh
nghiệp thực hiện chương trình Marketing sẽ dùng hòm thư điện tử của mình
gửi thư điện tử tới một cơ sở dữ liệu địa chỉ Email mà họ thu thập được. Cơ
sở dữ liệu email có thể do khách hàng tự nguyện cung cấp khi muốn nhận
thông tin của doanh nghiệp hoặc do doanh nghiệp tự động thu thập qua các
nguồn không hợp pháp. Vì thế, địa chỉ email và thông tin về người sở hữu
email trong cơ sở dữ liệu thu thập được thường không có tính cập nhật thậm
chí thiếu tính chính xác. Tuy nhiên, chi phí bỏ ra để có được cơ sở dữ liệu
thường rất thấp và việc gửi Email lại ít tốn kém nên các doanh nghiệp vẫn sử
dụng phổ biến kênh Marketing này. Do đó, hiện nay Email Marketing còn bị
ngầm mặc định là Spam Marketing.
lợi của người tiêu dùng cũng là bảo vệ khách hàng và cũng chính là bảo vệ
cho hoạt động kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, các chương trình Mobile
Marketing thường phải được thực hiện qua các đầu số đã được đăng ký, nếu
đầu số của nhà cung cấp nào thực hiện việc gửi tin nhắn rác sẽ bị phạt. Do đó,
25
các nhà cung cấp bao gồm nhà mạng, đơn vị quản lý đầu số nhắn tin và doanh
nghiệp Marketing sẽ không dám nhắn tin rác.
2.4 Quy trình triển khai hoạt động Mobile Marketing
Mobile Marketing có rất nhiều kịch bản dịch vụ khác nhau như nhắn
tin quảng cáo, nhắn tin trúng thưởng, điều tra thị trường qua điện thoại di
động, thông báo thông tin doanh nghiệp qua tin nhắn… nên rất khó có thể
xây dựng được một quy trìnhtriển khai đồng nhất cho tất cả các kịch bản.
Tuy nhiên, dựa vào những nội dung cơ bản của Mobile Marketing,
Leppäniemi & Karjaluoto (2008b) đưa ra quy trình triển khai cơ bản cho
một chến dịch Mobile Marketing qua 3 bước chính bao gồm: (1) Chuẩn bị
chiến dịch, (2) Triển khai chiến dịch, (3) Thống kê, báo cáo, điều chỉnh
chiến dịch Mobile Marketing. [50]
1
Đơn vị thực hiện chương
trình Mobile Marketing
Phương tiện truyền thông
Người tiêu dùng